Cau Xin Me

ẢNH HƯỞNG CỦA VATICAN II ĐỐI VỚI THƯ CHUNG 1980

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Trước hết, tôi xin được chia sẻ một kinh nghiệm bản thân. Năm 1988, trong tư cách là người đứng đầu tỉnh dòng Phan-xi-cô Việt Nam, tôi được tham dự cuộc đại hội quốc tế của hội dòng tại Bangalore, Aán Độ. Đây là lần đầu tiên sau giải phóng 30-4-1975, tôi được ra nước ngoài tham dự một cuộc họp như thế. Tại đó, tôi đã được dành cho khá nhiều thời giờ để chia sẻ về kinh nghiệm của chúng tôi sau 13 năm sống trong xã hội mới. Bài trình bày của tôi được anh em hết sức tán thưởng. Họ không ngờ chúng tôi đã có những kinh nghiệm sống Phúc Âm và lý tưởng Phan-sinh sâu sắc, khá mới mẻ và sáng tạo như thế trong một hoàn cảnh không lấy gì làm dễ chịu dưới một chế độ cộng sản còn khá chính thống. Kinh nghiệm Việt Nam được coi là một đóng góp cho toàn dòng. Về sau, các thư từ anh em viết cho tôi thường nhắc lại rằng bài chia sẻ của tôi là điểm đặc sắc nhất của hội nghị và đã gây một tiếng vang trong hội dòng và một phần nào cả ngoài hội dòng nữa. Bản thân tôi cũng hơi ngạc nhiên tại sao những cách sống, cách nghĩ đã trở thành quen thuộc và khá bình thường đối với chúng tôi (và thật ra là với một số không ít các dòng trong liên tu sĩ Thành phố lúc bấy giờ) lại gây được thán phục dường ấy! Nhưng điều tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh hôm nay ở đây là nhận xét của một anh người Ba-lan ngồi bên cạnh tôi trong hội trường. Những ngày trước, thỉnh thoảng chúng tôi nói chuyện với nhau về đời sống Giáo Hội trong chế độ cộng sản mà anh ta cũng đã có nhiều kinh nghiệm. Một lần anh nói: "Việt Nam các anh sẽ còn gặp khó khăn hơn nhiều vì các anh mới chỉ bắt đầu vào nhà tập thôi" (-nhà tập là giai đoạn đầu của đời tu công giáo). Rất tự nhiên và mau mắn, tôi trả lời: "Nhưng anh đừng quên, chúng tôi vào nhà tập sau công đồng Va-ti-can II." (Ý nói: nhờ có tinh thần của công đồng, chúng tôi cố gắng bước vào xã hội mới một ý chí thích nghi tích cực và cởi mở, và dù gặp khó khăn vẫn không an phận làm một Giáo Hội thầm lặng ...). Anh im lặng. Nhưng sau khi nghe bài chia sẻ chính thức của tôi, anh đã nhìn nhận với tôi rằng tôi đã nói đúng. Câu trả lời gần như bộc phát của tôi cho anh đã đến từ một xác tín sâu xa mà sau này tôi vẫn lặp lại mỗi khi có dịp: Giáo Hội Việt Nam, ít nhất là ở phía Nam, đã có may mắn bắt đầu sống chung với cộng sản sau Va-ti-can II; nếu không có công đồng, chắc chắn tình hình đã không được như tôi chia sẻ trước toàn dòng, năm 1988. Và để nói tới chủ đề cuộc hội thảo hôm nay, nếu không có công đồng cũng không thể có Thư Chung 1980.

Vài "tiền đề" của Thư Chung

Thư Chung 80 của Hội đồng Giám mục Việt Nam với một nội dung thần học khá phong phú và mới mẻ, không phải là một sự "ngẫu sinh", một cái gì "bổng dưng mà có". Người ta gặp lại nơi nó nhiều tư tưởng và mối ưu tư khá phổ biến trước đó trong Giáo Hội miền Nam. Khi nó ra đời, Giáo Hội ở đây đã có 5 năm kinh nghiệm sống dưới chế độ mới. Năm năm ngắn ngủi nhưng là năm năm sinh động, dồi dào những suy tư, tìm kiếm, những sáng kiến và thí nghiệm. Có lẽ trước đó chưa từng có thời kỳ nào vừa xáo trộn lại vừa phong phú như thế trong đời sống Giáo Hội Việt Nam.

Để có Thư Chung, không những phải có công đồng--mà Giáo Hội miền Nam đã làm quen và đã thấm nhuần không nhiều thì ít--nhưng cũng đã phải có Thư Chung của các giám mục hai giáo tỉnh Sài Gòn và Huế năm 1976, những phát biểu, những thư mục vụ, những bài giảng dạy của nhiều vị chủ chăn, cũng như những suy tư, tranh luận, bài viết và thực hành của nhiều nhóm, nhiều tổ chức, nhiều người trong và ngoài Hội đồng Giám mục trước và sau Thư Chung 1976. Đó là chưa nói tới thời gian từ công đồng đến 1975. Và có thể nói không sợ sai rằng điểm qui chiếu thống nhất của họ là Va-ti-can II.

Ai cũng biết vai trò lớn lao của đức cố TGM Phao-lô Nguyễn Văn Bình trong việc đề ra đường hướng mục vụ thích hợp cho hoàn cảnh mới. Nhưng ít ai nhắc tới đức cha Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền, tổng giám mục Huế như một trong những người đi tiên phong nổi bật trong đường hướng này. Trong tập giáo lý nhan đề Tôi Vui Sống, mà ta có thể gọi là một lá thư mục vụ quan trọng của ngài, được công bố ngày 1-5-1976, tức hai tháng rưỡi trước Thư Chung các giám mục miền Nam, chúng ta gặp nhiều tư tưởng và chọn lựa, và nhất là tinh thần giống như của đức tổng giám mục Bình cùng thời, hay của Thư Chung 1980 sau này. Xin được trích dẫn vài câu. Ngay trong mấy lời giới thiệu, ngài viết: "Đạo Chúa không phải là một học thuyết, nhưng là một đời sống. Sống với Chúa, trong Hội Thánh, giữa cộng đoàn giáo xứ và giữa mọi giới đồng bào. Bất cứ ở đâu mà Chúa Quan Phòng sai phái mình đến. Chúa muốn anh chị em là men, muối, đèn ở khắp nơi và trong mọi lúc, cùng với nhau hay chỉ một mình. Thực ra không bao giờ Kitô hữu sống một mình, vì Chúa Phục Sinh đã hứa: 'Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế. ' Sống với Chúa thì anh chị em sẽ là những con người hữu ích nhất cho Nước Nhà và Nước Trời." Rồi ngay ở số 1 nhan đề "Trong xã hội mới", ta đọc: "Là người công giáo Việt Nam, tôi trọn vẹn là một công dân Đất Nước, hãnh diện chia phần vinh dự của cả dân tộc anh hùng và phấn khởi trong việc xây dựng Quê hương giàu đẹp với đồng bào các giới, bằng những gì tôi có nhờ đức tin chiếu giọi. Tôi không sống bên lề dân tộc đang tiến lên, tôi không làm trì chậm bước tiến của Nước Nhà vì thái độ tiêu cực ươn hèn." Và một trích dẫn cuối cùng nữa, trong đó ta thấy 4 qui chiếu về công đồng Va-ti-can II chỉ trong mấy câu ngắn: "Người Kitô hữu là người nhìn nhận Chúa Kitô trong mọi người (hiến chế Mục vụ 93), coi những hy vọng và vui mừng của người khác là vui mừng và hy vọng của chính mình (Mục vụ 1), chia sẻ những khổ đau và khát vọng của anh chị em mình (sắc lệnh Tông đồ giáo dân 13), coi các vấn đề của người khác là vấn đề của mình và tìm cách giải quyết với họ (Tông đồ giáo dân 21). "

Với lập trường như trên, tôi nghĩ rằng đức tổng giám mục Phi-líp-phê đã có một ảnh hưởng quan trọng tại hội nghị các giám mục Việt Nam lần đầu tiên tại Hà Nội năm 1980. Tiếc thay, ngài đã không thể thực hiện đường hướng mục vụ chính ngài đã vạch ra vì không gặp được môi trường thuận lợi như ở Sài Gòn: về phía nội bộ, không có dồi dào nhân sự cộng tác; về mặt chính quyền, thái độ cởi mở và tích cực xây dựng của ngài đã không được nhận ra hay công nhận, khiến cho ngài càng ngày càng bị cô lập, hơn nữa về sau ngài còn bị gán cho nhãn hiệu "chống đối" nữa. Tôi thiển nghĩ đã đến lúc nên lập lại công bằng đối với ngài.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh tới kinh nghiệm của Liên Tu Sĩ Thành phố được chính thức thành lập vào tháng 11, 1975. Nếu trong Giáo hội phía Nam có một thành phần đã đón nhận và thực hiện đường lối mục vụ mới theo tinh thần công đồng một cách nhiệt tình và nhất quán hơn cả, thì đó chắc chắn là giới tu sĩ. Xin trưng dẫn duy nhất một đoạn trong lá Thư Ngỏ của Liên Tu Sĩ gởi cho hai Hiệp hội quốc tế các Bề trên thượng cấp Dòng nam và Dòng nữ ở Rô-ma ngày 23 tháng 7 năm 1979: "Trong bốn năm qua, chúng tôi đã chung sức chung lòng với toàn thể đồng bào bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc. Noi gương Chúa Kitô, Đấng đã hạ mình phục vụ mọi người, chúng tôi cố gắng để không tìm tư lợi gì cho mình nữa, chỉ tìm lợi ích cho người khác. Điều mà cuộc Hội nghị gần đây về sự dấn thân của người tu sĩ cho một xã hội công bình và huynh đệ như một chiều kích thiết yếu của việc loan báo Tin Mừng, thì chúng tôi cũng rất quan tâm đến và đang cố gắng thực hiện trong cuộc sống hằng ngày. Tu sĩ giáo phận chúng tôi có mặt trong nhiều môi trường của xã hội mới: một số phục vụ ở nhà thương, nhà trường, nhà trẻ, nhà cô nhi, nhà phục hồi nhân phẩm …, một số đông hơn làm việc trong các tổ hợp sản xuất, xí nghiệp, tại các nông trường và công trường. Từ những tháng đầu tiên sau khi Đất Nước được giải phóng, dưới sự chỉ đạo của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, chúng tôi đã lấy sáng kiến giao lại cho Nhà Nước quản lý các cơ sở giáo dục và xã hội của chúng tôi. Sự phục vụ của chúng tôi không phải vì thế mà chấm dứt, nhưng mang những bộ mặt mới, thích hợp với chứng tá Tin Mừng và cũng dễ hiểu hơn với hoàn cảnh hiện tại. Việc từ bỏ một số cơ sở và ưu đãi vật chất của một thời quá khứ ấy, chúng tôi coi là cơ may cho chúng tôi khám phá lại và sống cụ thể ý nghĩa của mầu nhiệm nghèo khó của Con Thiên Chúa làm người. " 2

Công đồng trong Thư Chung 1980

Mấy điều nhắc lại trên đây như là "tiền đề" của Thư Chung đã cho thấy phần nào ảnh hưởng của công đồng Va-ti-can II rồi. Ảnh hưởng gián tiếp nhưng lại rất quan trọng vì đây phần nhiều là một số tư tưởng của công đồng đã được chọn ra để đọc, nghiền ngẫm và sống từ những hoàn cảnh và vấn đề cụ thể của Giáo Hội và xã hội Việt Nam.

Thư Chung 1980, cũng như Thư 1976, rất quan tâm đặt đường hướng mục vụ trên cơ sở giáo lý của công đồng. Điều này phát xuất từ ý muốn trung thành với Giáo hội toàn cầu, cũng như từ nhu cầu thuyết phục những ai có thể nghĩ rằng lập trường của các giám mục chỉ là thực tiễn và thậm chí là xu thời. Không kể phần I của Thư Chung thông tin về đại hội, ngay từ số mở đầu phần II về đường hướng mục vụ, các giám mục nói rõ: đường hướng này được xây dựng theo cách thức của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI trong thông điệp Giáo Hội Chúa Kitô (Ecclesiam suam), một thông điệp quan trọng hoàn toàn nằm trong chiều hướng tư tưởng và ngay cả trong "phong cách" của công đồng. Kết thúc lá thư, các ngài kêu gọi dân Chúa "hãy hân hoan chu toàn sứ mạng vinh quang của mình" vì lý do trước tiên là "chúng ta có giáo lý của công đồng Va-ti-can II như luồng gió mát của Chúa Thánh Thần thổi trong Hội Thánh" (số 15).

Nguyên về số liệu thống kê, tôi đếm được trong Thư Chung 10 lần trích dẫn công đồng và 9 lần nhắc tới hoặc tham chiếu. (Còn Thư Chung 1976 có 6 lần trích dẫn và 10 lần tham chiếu). Không có gì đáng ngạc nhiên khi hai văn kiện của Công Đồng được sử dụng nhiều nhất là hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (10 lần) và hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng (5 lần), đó là những văn kiện được coi là "cột xương sống" của Va-ti-can II. 3 Dĩ nhiên những con số trên không phải là quan trọng lắm, nhưng cũng có một ý nghĩa nào đó.

Tôi cho rằng ảnh hưởng lớn nhất của công đồng trên Thư Chung chính là quan niệm mới về Giáo Hội. Hai phân đoạn của phần II, là phần cốt yếu và trọng tâm, đều mang tựa đề: (A) Một Hội Thánh vì loài người, và (B) Hội Thánh trong lòng dân tộc (các số 5-11), trong đó then chốt là các số 6, 7, 8, 9 vì số 5 là nhập đề chung còn số 10, 11 là kết luận thực hành của phần II này. Tôi không muốn đi sâu vào nghiên cứu quan niệm này, chỉ xin liệt kê ra những điểm then chốt kèm theo một vài nhận xét khi thấy cần.

* Ngày xưa, đôi khi người ta dùng hình ảnh kim tự tháp và hình ảnh chiếc tàu ông No-e để hình dung Giáo Hội công giáo. "Kim tự tháp" biểu thị một quan niệm về Giáo Hội nặng tính pháp lý và cơ cấu phẩm trật: chóp là đức giáo hoàng, rồi đến các phẩm trật khác, dưới cùng là giáo dân mà phận sự chính là thừa hành các mệnh lện từ trên xuống. Còn con tàu No-e chở một số người được cứu thoát lướt đi an toàn trong cơn hồng thuỷ cuồng nộ, gợi lên thái độ khép kín và thờ ơ đối với thế giới bao quanh.

Ngày nay, công đồng trình bày Hội Thánh như một dân tộc, 3 trong đó mọi người đã chịu phép thánh tẩy đều bình đẳng về phẩm giá, còn quyền bính chỉ là một dịch vụ (x. TL, 18 và32; Thư Chung, 6). Nên lưu ý, trong phần III ngỏ lời với các thành phần dân Chúa, Thư Chung theo thứ tự giáo dân, tu sĩ, linh mục, không phải ngược lại (số 12-13). Giáo dân tham gia vào sự sống và sứ mệnh của Hội Thánh không phải như một ân huệ do hàng giáo sĩ ban phát, nhưng như quyền lợi và bổn phận phát xuất từ chính tư cách Kitô Hữu của mình, đặc biệt bằng cách đưa Phúc Âm thấm nhuần vào các thực tại trần thế như men trong bột (x. TL số 31, và 36; MV 43; Thư Chung 12).

* Va-ti-can II cũng đã tái khẳng định khái niệm Giáo Hội lữ hành trong lịch sử để nhấn mạnh một số khía cạnh quan trọng sau đây:

- Giáo Hội mở ra với thế giới con người, biết mình liên đới và "đồng số phận [về mặt] trần gian với thế giới" (MV 40; Thư Chung 9), muốn đối thoại với thế giới để mưu ích chung cho con người. Ngay cả với các thuyết vô thần, Công Đồng đã không hề có một lời lên án (condemnare), chỉ phi bác (reprobare) mà thôi, đồng thời vẫn muốn tìm hiểu tại sao có những lập trường chối bỏ Thiên Chúa như thế, và cho rằng mình cũng có lỗi trong việc khai sinh ra vô thần 4. Giáo Hội được lập ra không phải cho mình, vì mình nhưng cho con người, vì loài người. Công Đồng nhiều lần khẳng định Giáo Hội không phải là một quyền lực, không tìm kiếm quyền lực thống trị, "không tìm kiếm vinh quang trần thế" (TL 8), chỉ muốn phục vụ trong khiêm nhường, nghèo khó và từ bỏ theo gương Đấng sáng lập.

- Giáo Hội phục vụ cái gì? Không phải chủ yếu về mặt trần thế, dĩ nhiên, nhưng cũng không phải chỉ giới hạn vào lãnh vực gọi là thiêng liêng. Năm 1966, chưa bao lâu sau khi công đồng bế mạc, Hồng Y Francois Marty, tổng giám mục Paris đã viết trong một bài nhan đề "Giáo Hội tôi tớ" như sau: "Giáo Hội phục vụ tất cả những gì làm nên cuộc sống con người, trong lao động, trong gia đình, trong xã hội, để tất cả các thứ đó được hoàn thành trọn vẹn cho lợi ích của con người. Giáo Hội không chỉ phục vụ những điều thuần túy thiêng liêng, Giáo Hội cũng không phục vụ những điều thuần tuý tôn giáo. Giáo Hội phục vụ tất cả những gì làm nên cuộc sống con người, trong đó có cả những chuyện trần gian, chuyện vật chất nữa, tuy nhiên điều Giáo Hội phải nhắm tới (và đó là sứ mạng đặc thù của Giáo Hội) là giúp cho tất cả những chuyện đó được hoàn thành theo ý định của Thiên Chúa và như thế mới thật sự là phục vụ lợi ích và hạnh phúc của con người." Chắc chắn chúng ta phải hiểu theo ý nghĩa trên câu nổi tiếng của Thư Chung: "Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào" (số 14)

- Khía cạnh thứ hai được nhấn mạnh là "Giáo Hội không thuộc về một nền văn hoá nào nhất định 'vì Nước Chúa Kitô không thuộc về thế gian này' (Ga 18, 36), nhưng Giáo Hội không loại bỏ bất cứ một phần di sản trần thế nào của các dân tộc, trái lại còn chăm sóc và thu dụng tất cả những gì tốt lành nơi gia sản, nơi nguồn lực và phong hoá của các dân tộc, và khi thu dụng, Giáo Hội tinh luyện, kiện toàn và nâng cao" (TL 13. x. TL 17). Khi chủ trương xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc (x. Thư Chung 11), các giám mục chúng ta hoàn toàn theo giáo lý của công đồng.

- Một khía cạnh khác bao hàm trong ý niệm Giáo Hội lữ hành là, tuy có ánh sáng và ân sủng của Chúa hướng dẫn và trợ giúp, nhưng trong thân phận nhân loại của mình, Giáo Hội cũng thường khi phải dò dẫm bước đi trong lịch sử và thậm chí cũng mắc nhiều sai lầm. Nói theo hiến chế tín lý Ánh Sáng Muôn Dân, "vì ôm ấp những kẻ có tội trong lòng, nên Giáo Hội vừa thánh thiện vừa phải luôn luôn thanh tẩy mình, luôn luôn phải thực hiện sám hối và canh tân" (số 8). Thư Chung khuyến khích các tín hữu với lời lẽ tương tự: " [Anh chị em} đừng nhìn quá khứ với mặc cảm và phán đoán tiêu cực. Lịch sử luôn pha trộn ánh sáng và bóng tối, cũng như đời sống những người con của Chúa vẫn có cả ân sủng và tội lỗi" (số 15)

Việc tiếp thu Thư Chung

Việc tiếp thu Thư Chung chắc chắn là không đồng đều trong cộng đồng dân Chúa tại Việt Nam. Thành phần hưởng ứng mạnh mẽ nhất, chắc không nhiều lắm, bao gồm những người, những nhóm xưa nay vẫn cố gắng suy nghĩ và hành động theo tinh thần Va-ti-can II để cho Hội Thánh được hội nhập vào trong dân tộc và trong xã hội mới. Ở đây, trong cuộc toạ đàm "40 năm công đồng Vatican II và 25 năm Thư Chung 1980 Hội Đồng Giám Mục Viện Nam" này [tại tp HCM ngày 20-9-2005], nên nhắc riêng tới vai trò của Uỷ ban Đoàn Kết là người mau mắn và kiên trì phổ biến và thực hiện Thư Chung về một số mặt nào đó, với những kết quả cụ thể, nhờ được tổ chức chặt chẽ và được chính quyền ủng hộ. Còn đa phần các giáo phận xem ra không nhận thấy tầm quan trọng của nó, không tổ chức học tập, khá lắm thì cho đọc trong nhà thờ một lần là cùng. Các chủ chăn mà không quan tâm thì giáo dân làm sao tha thiết? Lý do tại sao? Có thể vì chính các ngài không xác tín lắm về sự cần thiết của nó, ít nhất trong hoàn cảnh cụ thể địa phương mình. Đối với các giáo phận phía Bắc còn rất mù mờ về Công Đồng Va-ti-can II, chắc chắn chọn lựa của Hội Đồng Giám Mục là còn quá xa lạ. Có lẽ rất nhiều người trong họ, kể cả trong hàng giáo sĩ, vẫn thích tiếp tục suy nghĩ và hành động theo kinh nghiệm riêng của họ, vốn rất xa tinh thần công đồng, nhưng theo họ lại rất "được việc"… Ngoài ra, còn có thể là những khó khăn thực tế (vốn rất nhiều vào những năm đầu sau giải phóng) không những trong đời sống kinh tế, xã hội và đặc biệt là tôn giáo đang làm bận tâm, bận trí cả chủ chăn lẫn tín hữu nhiều địa phương, khiến cho nhiều người nghi ngờ về tính khả thi của Thư Chung.

Thái độ của chính quyền cũng là một yếu tố cần nói tới. Sau khi Thư Chung ra đời, chính quyền, Mặt trận và Ban Tôn giáo, bắt đầu từ trung ương, rồi đến các tỉnh, thành phố lớn đều hết lời ca ngợi và cổ vũ trong giới đồng bào công giáo. Điều đó rất tốt, nhưng đôi khi ra vẻ quá nhiệt tình có thể gây tác dụng ngược, nhất là khi ít cán bộ nào thực sự đã hiểu rõ Thư Chung mà họ chỉ lặp đi lặp lại một câu duy nhất: "Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc v. v. " Thậm chí không ít cán bộ, kể cả cao cấp, trong khi tuyên truyền cho Thư Chung thường nói tới Va-ti-can II mà họ gọi là cộng đồng (có dấu nặng)--một sai lầm nhỏ nhưng lại khó chấp nhận đối với thính giả công giáo. Nhất là trong lúc một bộ phận cán bộ công tác tôn giáo hay mặt trận ra sức phổ biến Thư Chung, thì chính sách tôn giáo và lý thuyết về tôn giáo của Đảng vẫn ít thay đổi. Một ví dụ khá hùng hồn. Tôi đã đọc trên tập san Giáo Dục Lý Luận, tạp chí của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng CS Việt Nam, số 2-3 năm 1987, bài của giảng viên Nguyễn Quốc Phẩm nhan đề Chủ Nghĩa Cộng Sản Khoa Học Đối Với Các Tôn Giáo đánh giá những nổ lực hội nhập và đóng góp của Kitô giáo, đặc biệt là giới công giáo phía Nam một cách hết sức tiêu cực và sai lầm (tôi muốn nói là "chụp mũ"). Xin trích một đoạn:

"Hiện tượng nổi bật nhất trong chủ trương 'thích nghi với thời đại' trong các tổ chức Thiên chúa giáo ở miền Nam là việc giáo hội thâm nhập vào các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị một cách tinh vi. Ở thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1983-84 có đến hàng chục linh mục làm việc trong các tổ hợp sản xuất, trong nhiều xí nghiệp quốc doanh và trở thành nhân viên Nhà nước. Riêng nông trường Phạm Văn Cội có hơn 100 tu sĩ chủng sinh tham gia vào sản xuất nông trường nhưng thực chất đấy là một cơ sở nghiên cứu về thần học mà sau này ta đã phát hiện. [...] Trên các mặt văn hoá, giáo dục, giáo hội thiên chúa giáo ở miền Nam cũng tích cực "nhập cuộc". Họ có nhiều thủ đoạn tinh vi, lôi cuốn, tha hoá đội ngũ giáo viên trong các vùng thiên chúa giáo [...] Bằng những hoạt động văn hoá văn nghệ, sử dụng "ca đoàn" và "hội đoàn" trá hình trong các nhà thờ, giáo hội đã tích cực thâm nhập vào hoạt động của thanh thiếu niên, tìm mọi cách duy trì phát triển nền đạo trong thế hệ trẻ ..." (tr. 50).

Đọc xong bài này, tôi rất bức xúc và lập tức gởi thư phản ánh cho báo Công Giáo và Dân Tộc, trong đó tôi có viết: "Nếu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước là như thế thì tôi thiển nghĩ tất cả đường hướng của lá Thư Chung 1980, tất cả chủ trương của UBĐKCG thành phố ta, tất cả nổ lực của báo CGvDT bấy lâu nay chỉ là chuyện ... vui mà thôi. [...] Người ta muốn gì? Nếu công giáo không tham gia, hoặc tham gia rất hờ hững thì người ta cho là tiêu cực. Bây giờ họ tích cực tham gia, có mặt khắp mọi môi trường và tổ chức xã hội, thì lại cũng muốn lên án. ... Thế người ta muốn người công giáo làm gì bây giờ?" (thư đề 2-6-1987). Toà soạn CGvDT đã chuyển thư của tôi cho báo Sài Gòn Giải Phóng, và tờ báo này, trong số ra ngày 27-6-87, đã đăng bài của ký giả Bến Nghé phản bác mạnh mẽ tác giả Nguyễn Quốc Phẩm. Tôi nhắc lại chuyện này tại đây, để gợi ý rằng thái độ thờ ơ hoặc nghi ngờ của nhiều người trong giới công giáo đối với đường hướng mục vụ của các giám mục cũng có thể bị tác động bởi đường lối không thay đổi, hay ít thay đổi của phía chính quyền những năm trước thời kỳ đổi mới.

Để kết luận: Trong một bài viết nhân dịp kỷ niệm 10 năm Thư Chung, tôi đã đưa ra mấy suy nghĩ sau đây. Thần học của Thư Chung là thần học của Công Đồng Va-ti-can II, nhấn mạnh vào mầu nhiệm Nhập Thể. Như Chúa Giêsu, Giáo Hội Việt Nam phải hoà mình và liên đới với cộng đồng dân tộc; phải khiêm nhường phục vụ hạnh phúc của đồng bào, và khi phục vụ, phải giữ được bản chất của mình, và đóng góp phần đặc thù của mình để cho hạnh phúc của đồng bào được trọn vẹn. Sau hết, cũng như Chúa Giêsu, Giáo Hội nên ý thức về các giới hạn mà hoàn cảnh từng lúc, từng nơi đặt ra cho mình để không nản lòng, đồng thời không tuyệt đối hoá các hoàn cảnh, cho dù là thuận lợi cho mình hay không. Giáo Hội tiến bước giữa lòng thế giới không ngừng biến chuyển. Giáo Hội cố gắng nhận ra các dấu hiệu thời đại, nghe tiếng Chúa nói qua các biến cố và hoàn cảnh để từng lúc đáp lại và giúp cộng đồng dân tộc thể hiện tốt hơn mục đích của mình. Dù hoàn cảnh nào đi nữa, Giáo Hội chỉ có thể là một Giáo Hội nghèo khó, không quyền lực và khiêm nhường phục vụ. Điều cám dỗ mà Giáo Hội Việt Nam ta luôn phải dè chừng là, hễ hoàn cảnh nới ra là đi tìm ưu thế, quyền hành và bành trướng về các mặt nổi bên ngoài. Thư Chung đã vạch ra một con đường đúng đắn. Cho dù hoàn cảnh sắp tới lại đặt ra những thách thức mới, những vấn đề mới khiến Giáo Hội có thể phải đưa ra một thư chung mới, thì thái độ căn bản của Giáo Hội vẫn không thể thay đổi.

Đọc lại những suy nghĩ trên đây năm 2005 này, tôi vẫn không thấy cần phải thay đổi điều nào. Trái lại, tôi cảm thấy nỗi lo ngại của tôi đang trở thành sự thực. Phải chăng Giáo Hội ta đang xa dần tinh thần công đồng và đường lối của Thư Chung, chuyển qua một cách hiện diện và phát triển rất khác? Nếu đúng như thế thì thật đáng lo ngại!

(Ngày 19-9-2005)

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.