Cau Xin Me

CÔNG BẰNG VÀ BÁC ÁI

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Tin về việc Bộ Lao Động-Thương binh và Xã hội lập dự thảo "Quy chế tổ chức kêu gọi quyên góp ủng hộ, tiếp nhận, phân bổ, quản lý, sử dụng tiền hàng cứu trợ đồng bào vùng bị thiên tai" đang gây ra dư luận bức xúc trong dư luận. Theo dự thảo thì sẽ chỉ còn hai cơ quan "bao thầu" mọi "công đoạn" của việc cứu trợ là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Cho tới nay, những ý kiến tôi đọc được trên một số tờ báo ở Thành phố đều không đồng ý với dự thảo. Người ta tự hỏi một quy chế như thế có hợp lý và khả thi không? Có người coi nó là "kỳ cục". Hai lý do chính thường được nêu lên để phản đối là:

  1. Hành động cứu trợ là hành động tự nguyện và tự do; nếu bắt buộc phải thực hiện qua một hai tổ chức nhất định mà thôi, người ta sẽ cảm thấy phiền hà, bị bó buộc và có thể giảm đi sự nhiệt tình.
  2. Một cơ cấu hành chánh nhiều tầng nấc khó tránh khỏi chậm chạp, lề mề và thậm chí quan liêu, không thể mau mắn đáp ứng được một tình thế rất khẩn cấp.

Tôi nghĩ rằng sự phản biện xã hội như thế là đã đủ và quá rõ, và dám tin chắc rằng dự thảo này sẽ được rút lại. Nhưng chuyện này thúc bách tôi nhắc lại sơ lược một ít điều quan trọng trong Thông điệp "Thiên Chúa là tình yêu" của Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô XVI ngày 25. 12. 2005, phần nói về công bằng và bác ái (các số 26 đến 30).

1. Bái ái không ngược với công bằng

Thế kỷ XIX ở phương Tây, trong bối cảnh đấu tranh đòi công bằng cho giới công nhân đang bị giới tư bản bóc lột và do ảnh hưởng của tư tưởng Mác-xít, người ta đã nhân danh công bằng để chống lại hoạt động bác ái của Giáo Hội công giáo. Họ nói: chúng tôi cần công bằng chứ không cần bác ái hay bố thí. Bác ái ru ngủ lương tâm và bảo vệ vị trí của người giàu đồng thời tước đi quyền lợi của người nghèo. Kể từ đó, danh từ bác ái theo nghĩa từ thiện bị xóa khỏi các xã hội cộng sản. Tôi còn nhớ sau ngày 30. 4. 1975 ở Sài Gòn, có lần tôi đã nghe thấy một các bộ phê bình một người dân bố thí cho một người chìa tay ăn xin rằng không cần thương hại hạng người ấy, để họ làm việc lấy mà ăn. Dĩ nhiên, câu nói đó có thể là đúng nếu thật sự người ăn xin là một kẻ lười biếng và ăn bám.

2. Mối liên hệ giữa công bằng và bác ái

Bây giờ mọi người đều nhìn nhận phải có công bằng nhưng cũng cần có bác ái. Đức Thánh Cha viết: "Công bằng là mục đích và do đó cũng là tiêu chuẩn nội tại của mọi thứ chính trị" (số 28a). Nói cách khác thực hiện công bằng là nhiệm vụ thiết yếu của nhà nước, còn Giáo Hội không có bổn phận, chức năng và phương tiện để thiết lập công bằng trong xã hội. Nhưng vì "công bằng thuộc phạm vi đạo đức" (số 28) nên Giáo Hội không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh cho công bằng; Giáo Hội tham dự vào không phải trên bình diện chính trị nhưng bằng cách soi sáng nhận thức và ý chí, và đánh thức (đặc biệt với giáo huấn xã hội của mình) những sức mạnh tinh thần vốn không thể thiếu cho việc thực thi và phát triển công bằng.

Nhưng ngay từ năm 1931, Đức Piô XI đã khẳng định mạnh mẽ trong thông điệp Tứ thập niên: "Đành rằng bác ái không thể thay thế cho công bằng được. Nhưng dù mọi người ở dưới thế được thỏa mãn theo đúng quyền lợi rồi, phạm vi bác ái cũng còn rộng rãi, nói được là vô bờ bến" (số 84). Đức Bê-nê-đích-tô cũng mạnh mẽ không kém, ngài viết: "Ngay cả trong xã hội công bằng nhất, tình yêu (bác ái) vẫn luôn cần thiết. Không một trật tự công bằng của nhà nước nào có thể xem công tác bác ái là thừa thãi. Ai muốn loại bỏ tình yêu thì đồng thời cũng không xem con người là người nữa. Vẫn luôn luôn có khổ đau cần đến an ủi và trợ giúp. Vẫn luôn luôn còn có sự cô đơn. Vẫn luôn luôn còn có những trường hợp thiếu thốn vật chất... Nhà nước nào muốn chu cấp tất cả, tập trung tất cả về mình, cuối cùng cũng chỉ trở thành một cơ chế bàn giấy, không thể bảo đảm những gì thiết yếu cho những người đau khổ - cũng như cho mọi người: đó là sự quan tâm đầy tình thương cho từng cá nhân" (số 28b).

Chúng ta có thể nói bác ái kiện toàn công bằng và vượt lên trên công bằng. Công bằng đi cho tới cùng sẽ vượt qua chính mình và đi vào bác ái; nếu không, nó sẽ có nguy cơ biến thành bất công, như người xưa quen nói: summum jus summa injuria= tối đa pháp quyền đưa tới tối đa bất công. Ngược lại, bác ái mà không công bằng sẽ chẳng chân thực. Anh nói anh yêu mến kẻ khác nhưng không làm cho họ điều họ có quyền đòi hỏi thì dù anh có ban phát cho họ bao nhiêu đi nữa, đó cũng không phải là bác ái. Công bằng và bác ái không loại trừ nhau, nhưng bác ái nằm cao hơn công bằng, bởi vì bác ái chứa đựng công bằng và thúc đẩy người ta thực thi công bằng, còn công bằng tự nó không đưa người ta tới bác ái (x. Pierre Bigo: Doctrine sociale de l'Eglise, P. U. P. Paris 1966, tr. 233).

3. Mấy khía cạnh đặc biệt của hoạt động bác ái Kitô giáo

Đức Thánh Cha lưu ý ta rằng hoạt động bái ái của Giáo Hội (xét như là một tổ chức) không phải chỉ đơn giản là một việc từ thiện-xã hội như nhiều tổ chức vẫn làm. Nó nằm trong chính bản chất của Giáo Hội, vì thế nó đã có ngay từ khi Giáo Hội ra đời và vẫn có xuyên qua thời gian cho tới nay. Có ba yếu tố nền tảng tạo nên tính chất đặc thù của hoạt động này.

1) Trước hết, nó đáp ứng nhu cầu khẩn cấp trực tiếp trong một hoàn cảnh cụ thể. Nó phải được tổ chức, có phương tiện và đặc biệt có nhân sự được đào tạo về mặt nghiệp vụ, nhất là họ phải có tình người, phải có con tim biết yêu thương.

2) Độc lập đối với các đảng phái và ý thức hệ. "Hoạt động này không phải là phương tiện để thay đổi bộ mặt trần gian theo một lý thuyết nào đó và cũng không để phục vụ cho các chiến lược trần thế, nhưng để thực hiện tình yêu thương tại đây và ngay lúc này mà con người luôn cần đến" (số 31).

3) Sau hết, hoạt động bác ái này không phải là phương tiện để chiêu dụ tín đồ. Tình yêu thì "vô vị lợi"; cứu cánh của tình yêu là tình yêu; nó không được thục hiện vì mục đích nào khác. Người tín hữu tất nhiên không thể để Thiên Chúa và Đức Kitô qua một bên, nhưng "ai hoạt động bác ái nhân danh Hội Thánh, không bao giờ tìm cách áp đặt lên kẻ khác niềm tin của Hội Thánh" (số 31).

Nói đến tổ chức bác ái riêng của Giáo Hội mình, Đức Thánh Cha không quên nhấn mạnh tới sự cộng tác của Giáo Hội với các cơ quan nhà nước và các hiệp hội nhân đạo bằng nhiều hình thức khác nhau (x. số 30a-b).

Để kết luận, xin trích một câu rất đẹp của thông điệp: "Việc tham gia cá nhân và nội tâm vào nhu cầu và đau khổ của kẻ khác là một cách hiến tặng chính bản thân tôi cho họ: để quà tặng không làm hạ phẩm giá người nhận, không những tôi trao một cái gì tôi có mà còn cho đi chính bản thân tôi như một nhân vị hiện diện trong quà tặng đó" (số 34)

(15-11.2006)

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.