Cuộc Sống Trần Gian Là Một Mùa Vọng
Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
ột năm phụng vụ mới lại bắt đầu. Giáo Hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào chủ nhật cuối cùng của năm phụng vụ để nói với chúng ta rằng vào ngày tận cùng của thế giới và của lịch sử, Người sẽ lại đến trong vinh quang, thâu gồm muôn loài trong trời đất về một mối và biểu dương một cách rỡ ràng vương quyền của Người trên toàn thể vũ trụ. Như thế, Giáo Hội muốn nhắc nhở : toàn bộ cuộc sống người Kitô hữu ở trần gian đều hướng về ngày Chúa quang lâm. Nối tiếp tư tưởng đó, Giáo Hội đề nghị với chúng ta sống mùa vọng như một thời gian mong chờ, một thời gian chuẩn bị và một thời gian hy vọng.
Một thời gian mong chờ
Trong mỗi thánh lễ, sau kinh Lạy Cha, vị chủ tế đọc tiếp: "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp, chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi và mọi sự dữ, đang khi chúng con mong chờ ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng con ngự đến." Trong kinh Tin Kính, chúng ta cũng tuyên xưng Đức Kitô sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, và sẽ trị vì muôn đời muôn thuở. Niềm tin của chúng ta là như thế, lời tuyên xưng của ta là như thế, song dựa vào kinh nghiệm bản thân, tôi tự hỏi chúng ta có thật sự mong đợi không ? Ta tin, ta biết nhờ tin, nhưng chưa chắc ta mong đợi điều ta tin và biết.
Niềm chờ mong ngày Chúa quang lâm đã phai nhạt nơi người Kitô hữu chúng ta, trước hết vì ta cảm thấy ngày ấy còn xa vời mù mịt. Ngay thời các thánh tông đồ, các tín hữu cũng đã dầøn dần buông lơi sự chờ đợi và thậm chí có những người bắt đầu nghi ngờ điểm giáo lý này, khiến thánh Phêrô phải lên tiếng giải thích: "Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa" nhưng anh chị em đừng quên rằng "đối với Chúa một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày" (2Pr 3, 8). Thánh tông đồ khuyên các tín hữu hãy bền tâm kiên nhẫn. Niềm mong chờ Chúa trở lại không những bị phai mờ với thời gian, mà trầm trọng hơn, chính giáo lý này hình như đã trở nên xa lạ, mơ hồ và ít nhất cũng rất nghèo nàn nơi phần đông các tín hữu. Các sách giáo lý ngày xưa, trong nhiều thế kỷ, đã trình bày ngày ấy như một ngày kinh khiếp, hãi hùng. Người ta nhấn mạnh vào việc Chúa đến để phán xét công minh, trừng trị những người tội lỗi và các thù địch của Người. Hậu quả có thể là đã "răn đe" được nhiều người tội lỗi, giúp họ sống cuộc đời Kitô hữu tốt hơn, nhưng đồng thời chắc chắn cũng đã làm nản chí không ít người yếu đuối, nhất là đã tạo ra một tâm trạng lo âu sợ sệt và một cái nhìn sai lệch về ngày cánh chung. Người ta mong đợi cái gì tốt, cái gì hay cho mình, còn cái rủi, cái xấu, cái nguy hiểm thì người ta lẫn tránh hoặc khắc khoải ngồi đợi nó đến chớ không mong nó đâu.
Sách giáo lý mới của Hội Thánh công giáo được soạn thảo tiếp theo công đồng Vatican II (1992) đã trình bày một nội dung hết sức phong phú về ngày Chúa quang lâm, dựa sát vào Kinh Thánh. Ngày ấy sẽ là ngày Nước Chúa được hoàn thành, ngày "Hội Thánh kết thúc trong vinh quang trên trời khi toàn thể vũ trụ cùng với loài người được đổi mới và đạt tới viên mãn trong Chúa Kitô" (Hiến chế Ánh sáng muôn dân, số 48). Chúa đến thiết lập trời mới, đất mới (x. 2Pr 3, 13), nơi không còn nước mắt, không còn đau thương, đói khát, bệnh tật, không còn chia rẽ, hận thù, bất công, áp bức, chiến tranh và chết chóc nữa. Đó mới là ngày giải thoát, ngày cứu độ trọn vẹn cho ta. Chúa đến cho con cái của Người được sống sung mãn, cả hồn lẫn xác -không phải chỉ có linh hồn mà thôi-, và cũng không phải chỉ cho con người nhưng còn cho cả vũ trụ vật chất này với tất cả những gì là tốt lành đẹp đẽ cũng được đưa vào trong vinh quang bất diệt của Người (x. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, các số 1042-1046)
Thế thì tại sao ta sợ? Tại sao không mong chờ? Bộ Kinh Thánh (gồm Cựu Ước và Tân Ước) kết thúc với lời cầu nguyện: "Amen, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!" (Sách Khải Huyền, 22, 20). Nhưng phải chờ mong như thế nào?
Một thời gian chuẩn bị
Đồng bào di cư năm 1954 chắc còn nhớ rõ: vài năm đầu họ rất nhớ quê hương và bà con đã bỏ lại nơi phía Bắc, họ thường hay kể chuyện "quê nhà" cho nhau nghe, nhiều người không tính chuyện làm ăn lâu dài ở vùng quê hương mới vì nghĩ và mong rằng đất nước sẽ được sớm thống nhất trong tự do hạnh phúc. Nhưng rồi năm tháng cứ trôi qua, ngày đó càng ngày càng trở nên mờ mịt. Nỗi nhớ nhung của những kẻ sống tha hương phai dần, và rồi người ta hầu như quên hẳn ngày thống nhất, ngày đoàn tụ, và chỉ còn biết mải miết làm ăn sinh sống. Cái quê hương mà lúc đầu họ cảm nhận như chỉ là tạm thời trở thành quê hương vĩnh viễn, thậm chí trong tiềm thức nhiều người nó là quê hương duy nhất. Phải chăng nhiều người chúng ta đang sống ở trần gian này cũng có tâm tình tương tự đối với quê hương thật trên trời?
Nhưng theo ý Chúa, tình cảnh chúng ta ở đời này phức tạp hơn vì là tình cảnh của những kẻ "một chốn đôi quê" và không được chọn một bỏ một: một đàng chúng ta phải sống và hoạt động ở thế gian như thể là ta sẽ định cư ở đó mãi mãi, nhưng đồng thời cũng phải sống một cách thanh thoát và sẵn sàng ra đi về quê thật bất cứ lúc nào. Vừa dấn thân hết mình vừa không bị ràng buộc vào đó, ấy là thân phận của Kitô hữu ở trần gian. Tại sao phải dấn thân hết mình?
Công đồng Vatican II dạy: "Thật là sai lầm cho những ai khi biết rằng chúng ta không có một quê hương trường tồn ở thế gian này và đang phải tìm kiếm một quê hương hậu lai, lại dựa vào đó mà tưởng rằng mình có thể sao lãng các phần sự trần gian. Như thế là không nhận thấy chính đức tin buộc ta phải chu toàn các phận sự đó cách hoàn hảo hơn" (Hc Vui mừng và Hy vọng, số 43). Chắc hẳn người ngoài Kitô giáo khó mà hiểu rằng tại sao người có đức tin như ta lại có lý do mạnh hơn họ để dấn thân xây dựng trần gian này. Vì đối với ta, việc xây dựng đó không chỉ là chuyện của con người mà còn là mệnh lệnh của Thiên Chúa khi tạo thành vạn vật. Con người được dựng nên theo hình ảnh của Chúa cũng được giao phó cho trách nhiệm thay mặt Người tiếp tục và kiện toàn công trình sáng tạo. Lý do thứ hai là vì Chúa Giêsu Kitô đã đến thế gian thiết lập Nước Trời, và Nước ấy cũng chỉ được hoàn thành sung mãn khi Người trở lại đưa nó vĩnh viễn vào trong vinh quang Thiên Chúa cùng với toàn thể tạo vật được đổi mới. Thời gian hiện tại là thời gian Chúa ban cho ta để góp phần xây dựng Nước Chúa, chuẩn bị tích cực cho ngày khải hoàn ấy. Nói theo thánh Phêrô, Chúa chưa đến vì Người kiên nhẫn với ta, muốn giành cơ hội cho ta làm việc thiện bởi ta chưa sẵn sàng, chưa xứng đáng đón tiếp Người. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với sự cứu rỗi của ta, không còn thời gian thứ hai nào khác. Như vậy mọi việc chúng ta làm ở thế gian này đều có giá trị vĩnh cửu, đều là những việc đạo và là những viên gạch xây dựng Nước Trời miễn là phù hợp với thánh ý Chúa. Không có cái gì thật sự có giá trị đối với con người mà lại không được nâng cao và đưa vào trong Trời Mới Đất Mới mai sau. Chỉ có tội lỗi là bị thải loại vì đối lập hoàn toàn với Thiên Chúa.
Thời gian hy vọng
Tuy nhiên, như đã nói, sự thành toàn cuối cùng còn nằm phía trước; mọi sự ở đời này dù sao vẫn chỉ là tương đối, tạm thời, chưa phải là tất cả; thế gian này dù là tốt đẹp cũng mới xứng danh là "tiền đường" của ngôi nhà vĩnh cửu của chúng ta, ta phải tỉnh táo kẻo trở nên nô lệ cho nó. Hạnh phúc sung mãn đối với người tín hữu chúng ta là có thật và chắc chắn nhưng ta mới "chiếm" được nó trong lòng hy vọng mà thôi. Con người không thể sống mà thiếu hy vọng. Nghèo khó hy vọng có ngày đầy đủ, sung túc. Bệnh tật mong chờ ngày được khoẻ mạnh. Nhọc nhằn vất vả hy vọng một mùa gặt bội thu
Niềm hy vọng Kitôâ hữu không phải là một mơ ước viễn vông hư ảo nhưng đặt cơ sở trên lời của Chúa, trên sự sống và sự phục sinh của Chúa Kitô và trên chứng tá của hằng hà sa số những người Kitô hữu đã dám hy sinh đến cả tính mạng vì niềm hy vọng của mình. Nói tóm gọn, niềm hy vọng cuối cùng của ta là chính Thiên Chúa.
Tuy nhiên hiện tại niềm hy vọng của ta bị thử thách rất nặng nề. Có quá nhiều thực tế đi ngược lại với nó. Lắm khi ta cảm thấy sự thinh lặng của Thiên Chúa thật nặng nề dễ sợ. Chúa cứ làm thinh, Chúa như vắng mặt mặc cho con cái Người kêu van trong thử thách, đau khổ. Kẻ thù có vẻ như đắc thắng: "Chúa chúng ở nơi đâu?" Đó là tình cảnh dân Israel xưa. Tình cảnh của chính Đức Giêsu trên thập giá. Tình cảnh của Phêrô trong cuộc bách hại dữ dội của hoàng đế Nêron tàn bạo. Theo lời đề nghị của cộng đoàn, thánh nhân đã trốn khỏi thành Rôma để đảm bảo tương lai cho giáo hội; nhưng khi vừa thoát ra khỏi nột thành, ngài đã gặp thấy Đức Giêsu vác thập giá trên vai đang tiến vào thành. Vị tông đồ bỡ ngỡ hỏi: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu?" (Domine, quo vadis?). -"Ta đi vào thành để chịu đóng đinh một lần nữa!" Nghe lời đó, thánh Phêrô liền quay lại và đã chịu tử đạo làm chứng cho Thầy. Câu chuyện được kể lại trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mang đầu đề Quo vadis (sau được quay thành phim) của nhà văn Ba Lan Henryk Sienkiewicz (Giải Nobel văn chương năm 1905).
Chúa vẫn ở kề bên ta, nhưng không can thiệp ra mặt có lẽ vì muốn để cho ta tự mình gắng sức lãnh lấy trách nhiệm của mình mà sống tự lập, trưởng thành, chứ không hễ việc gì cũng ỷ lại. Chúa đối xử với ta như những người lớn. Một đứa bé tập đi. Nó đứng thẳng lên trên đôi chân yếu ớt, rời tay mẹ và lảo đảo cất những bước vụng về. Nó té ngã. Lúc đầu mẹ nó can thiệp kịp thời. Nhưng về sau, bà đứng xa ra, không can thiệp nữa. Biết có mẹ ở gần kề, đứa bé yên tâm và can đảm tiếp tục một mình. Có thế nó mới chóng biết đi. Hoelderlin, nhà thơ lớn của nước Đức đã ví von rất hay rằng Thiên Chúa dựng nên con người giống như biển cả làm nên đất liền bằng cách lùi xa nó. Thật ra thì biển luôn luôn gắn với bờ, Thiên Chúa không thinh lặng nhưng tại ta không biết nghe đó thôi.
Mùa vọng chuẩn bị cho ta đón Chúa trong ngày lễ giáng sinh. Nhưng cả cuộc đời ta là một mùa vọng. Và hơn nữa, cả lịch sử vũ trụ và lịch sử nhân loại cũng là một mùa vọng.
|