Cau Xin Me

ĐÔI ĐIỀU VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

M

ột trong những nguyên nhân chính của tình trạng người dân thụ động, thiếu sáng kiến, thiếu tinh thần trách nhiệm trong xã hội ta đó là sự thiếu vắng những tổ chức của quần chúng gọi là xã hội dân sự đúng nghĩa. Trên hết là Đảng và Nhà nước và dưới là nhân dân, không có những tổ chức quy tụ nhân dân trong cái không gian nằm ở giữa, tại đó họ có thể tự nguyện liên kết với nhau trong những hoạt động vì lợi ích chung, ví dụ như những hội từ thiện, những tổ chức phi chính phủ, những hội nghề nghiệp, những nhóm thiện nguyện, những hội tương trợ, v.v. Tất cả đều do từ trên đưa xuống. Tất cả đã được suy nghĩ, được quyết định rồi, người dân chỉ có việc đón nhận. Xã hội Việt Nam lâu nay vẫn có nhiều đoàn thể như thanh niên, phụ nữ, nông dân, trí thức và mặt trận v.v., nhưng các tổ chức ấy chỉ là những cánh tay nối dài của Đảng và Nhà nước, do Đảng lập ra, do người của Đảng điều hành để đưa các chủ trương đường lối của “trên” vào thực hiện mà thôi. Trong các tổ chức ấy, có lẽ Mặt Trận mang tính quần chúng rộng lớn hơn cả, nhưng MT vẫn không thể đóng vai trò của một xã hội dân sự. Một xã hội như thế phải có tính tự nguyện, tự lập, tự tổ chức và hoạt động theo điều lệ riêng trong khuôn khổ công ích và trật tự chung, bên ngoài hệ thống chính quyền. Nhà nước chỉ đóng vai điều hoà hoạt động của các xã hội dân sự sao cho có sự hài hoà và không trái luật pháp mà thôi, không trực tiếp chi phối họ.

Vào đầu thời “Mở cửa”, ngay từ năm 1988, Đại hội Mặt trận Thành phố HCM lần thứ 5 đã nhận thức khá rõ vai trò quan trọng của xã hội dân sự và mong muốn Mặt trận bắt đầu gánh vác vai trò đó trong hiện tại. Một ý kiến nhận xét: “Trong nhiều năm qua sau ngày thống nhất, nước ta không phát triển được, nguyên nhân chính là do cái xã hội dân sự ấy [ý nói là Mặt trận] không gắn các ý đồ lớn với Đảng và Nhà nước; bản thân cái xã hội dân sự ấy không có sức sống, chỉ tuân theo một cách thụ động các nghị quyết và chỉ thị của Đảng, thiếu hẳn bầu không khí bàn bạc, tranh luận, không có phản đề nghị cần thiết để đi đến sự thống nhất hợp tác, hỗ trợ tích cực. Thẳng thắn mà nói, xã hội ta trong hơn 10 năm qua thiếu vắng hẳn một đời sống chính trị đúng nghĩa. Đời sống chính trị của xã hội ta chỉ thu hẹp lại còn là những buổi học tập nghị quyết đơn điệu và một chiều..” (Báo Tuổi Trẻ 17-9-1988, tr 2). Một ý kiến khác cũng được đưa ra trên báo Sài Gòn Giải phóng (15-9-1988) trong dịp họp đại hội nói trên: “Có thể xem Mặt trận là tổ chức đối trọng của Đảng, nơi mà Đảng có thể nghe những tiếng nói khác với tiếng nói của mình và đối thoại với những tổ chức khác … Cho tới bây giờ vẫn chưa có đối thoại thực sự trong MT. Rốt cuộc Đảng vẫn chỉ nói chuyện với Đảng. Để đổi mới MT, phải chấm dứt vai trò tượng trưng của các tổ chức và nhân vật ngoài Đảng. Cũng nên trả lại cho quần chúng những đoàn thể của quần chúng mà hiện nay vẫn còn là những bộ phận của Đảng. Nên phục hồi sức sống của xã hội dân sự, tức là cái xã hội bao gồm các bộ phận mênh mông của quần chúng sống ngoài các tổ chức của Đảng và Nhà nước”. Ý kiến này gợi ý cần phải tách bạch hệ thống chính quyền và xã hội dân sự của nhân dân thay vì để cho quyền bính chính trị chi phối và “nuốt hết” xã hội dân sự. Nhưng người ta vẫn duy trì ý kiến biến Mặt trận thành một xã hội dân sự, -một điều chắc chắn là khó có thể có được.

Từ 1988 đến nay, còn có những cuộc thảo luận khác về vai trò phản biện của MT, và càng ngày càng có nhiều người nói tới sự cần thiết của các xã hội dân sự. Đã có một vài hội nghị khoa học trong hoặc ngoài nước thảo luận trực tiếp về đề tài xã hội dân sự. Nhà nước cũng đã ý thức được vấn đề nhưng chưa chính thức công nhận loại hình tổ chức xã hội nằm ngoài hệ thống chính trị này. Về phía người dân, ta cũng thấy có biến chuyển trong nhận thức vấn đề. Càng ngày càng có nhiều người thường dân tỏ ra quan tâm tới việc chính mình phải góp phần phát triển đất nước, không thụ động ngồi chờ “lệnh” trên, thậm chí họ còn mạnh dạn góp ý “phản biện” đối với cấp trên trong một số vấn đề thời sự. Đó là một dấu hiệu rất đáng mừng. Ai theo dõi các phương tiện truyền thông và dư luận đều có thể thấy ý thức “mới” ấy đã bắt đầu biểu lộ khá mạnh mẽ cách riêng trong hai vấn đề: bảo vệ môi trường và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Ngày trước, bảo vệ môi trường còn là chuyện xa lạ với quần chúng, nhưng nay, sau vài thập kỷ phát triển kinh tế và hội nhập, không những họ đã làm quen mà còn quan tâm tới vấn đề này nữa bởi  vì chính họ đang chịu tác động tiêu cực của một sự phát triển kéo theo hủy hoại môi trường - tiêu cực cả về hai mặt kinh tế và sức khoẻ. Chẳng hạn, có những vùng số người chết vì bệnh ung thư cao một cách rất bất thường do hít thở không khí hoặc uống nước giếng bị ô nhiễm nặng bởi hoá chất từ những nhà máy xây dựng sát hay ngay trong nơi ở của dân. Một ví dụ khác, có biết bao con sông đã chết hay đang thoi thóp do chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp ngày đêm đổ vào! Không ai là không biết đến vụ Vedan ròng rã 14 năm gian dối để huỷ hoại môi trường. Hầu hết những lời hứa hẹn, ngay cả cam đoan của nhà đầu tư đều tỏ ra không đáng tin cậy. Và người dân cũng cảnh giác không kém đối với những hứa hẹn của các cấp chính quyền có liên quan. Đó không phải là vấn đề “nguyên tắc” nhưng là do kinh nghiệm thực tế đã dạy bảo họ. Cho nên, việc nhà thầu Trung Quốc (Tập đoàn Chalco) bắt đầu khai thác bô-xít ở Tây nguyên đang làm nóng bỏng dư luận. Các nhà khoa học đã lên tiếng; Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư cho Thủ tướng Chính phủ, và báo chí cùng dư luận cũng ngã theo lập trường của họ là không nên cho khai thác bô-xít ở vùng cao nguyên nước ta vì nguy cơ hủy hoại môi trường trầm trọng và lâu dài là hầu như chắc chắn. Người ta tính toán, chẳng hạn, để khai thác các mỏ bô-xít đó, sẽ có đến 2/3 diện tích rừng bị “bóc” đi. Rồi bùn đỏ và nước nhiễm hoá chất sẽ đổ vào đâu? Độ thẩm thấu của đất cao nguyên rất cao, tất sẽ hút sâu một phần vào làm ô nhiễm tầng nước ngầm ngay từ đầu nguồn và đe doạ tầng nước ngầm ở vùng thấp (bởi vì cao nguyên là vùng đất cao, có độ dốc lớn). Và còn đời sống nhân dân ở các vùng khai thác sẽ ra sao nữa? Họ sẽ được lợi gì, ngay cả kiếm một chỗ làm trong các vùng khai thác cũng chẳng có. Không phải chỉ ờ Tây nguyên, mà ở nhiều nơi khác có nhà thầu Trung Quốc đang triển khai những công trình ở Việt Nam (như Quảng Ninh, Quảng Nam, Cà Mâu), họ đều đưa tất cả từ nước họ qua, máy móc, chuyên gia, ngay cả công nhân phổ thông, vật tư lớn nhỏ và cả đồ tiêu dùng thông thường…, tóm lại đó là những vùng Trung Quốc thu nhỏ tự cung tự cấp. Theo dư luận thì chỉ nguyên một chuyện này thôi, đã cho thấy hoặc là họ “khôn” quá hoặc là chính quyền ta dễ dãi quá. Bây giờ thì tập đoàn Chalco đã khởi công xây dựng nhà máy đầu tiên ở Bảo Lâm (Lâm Đồng), sau đó sẽ là Dăk Nông. Chính phủ đã không nghe ý kiến phản biện cho đủ và dường như đã rất vội vàng. Bây giờ chỉ còn một hy vọng duy nhất là hai điểm khai thác trên chỉ là bước đầu, và toàn bộ dự án vẫn còn được xét lại. Mong rằng chưa quá chậm!

Báo chí và dư luận hiện nay cũng đang nói nhiều tới biên giới ngoài biển Đông nước ta. Tôi thấy người “dân thường” cũng rất quan tâm. Đó là điều hết sức đáng mừng. Một loạt những hoạt động do chính phủ hoặc do nhân dân đề ra nhằm gây ý thức, cổ vũ tinh thần yêu nước và khẳng định chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được mọi người hưởng ứng. Chẳng hạn những cuộc hội thảo của các chuyên gia trong và ngoài nước; những cuộc triển lãm, những bài báo sắc sảo, những chuyến du lịch ra hải đảo hay những tranh luận trên Internet, -tất cả đang tạo ra một bầu khí sinh hoạt công dân sống động và tự nguyện. Sở dĩ như thế là vì Trung Quốc cũng ráo riết “hướng ra” biển Đông, và nhiều lần có những hành động vi phạm chủ quyền của ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khiến cho người phát ngôn của chính phủ phải liên tục lên tiếng. Những cuộc lên tiếng phản đối như thế là cần thiết nhưng chỉ mang tính hình thức (nên lúc nào cũng theo một công thức cố định mà ai ai cũng hầu như thuộc lòng rồi!), chỉ có sinh hoạt quần chúng mới mong có một tác dụng cụ thể nào đó.

Về bằng chứng lịch sử, thì không thể nghi ngờ Việt Nam có chủ quyền trên hai quần đảo nói trên. Nếu đưa ra toà án quốc tế, tôi tin chắc Việt Nam sẽ thắng. Hình như Trung Quốc muốn “thương lượng” nội bộ với ta vì có lẽ bằng cách này họ còn hy vọng được tương nhượng phần nào…

Tôi nhắc tới hai vụ khai thác Bô-xít và biên giới hải đảo ở đây là để nói rằng: một xã hội dân sự mạnh mẽ (nghĩa là được người dân tự giác và tích cực tham gia) là hết sức cần thiết cho sự phát triển của đất nước, sau nhiều thập kỷ họ bị tước mất quyền sinh hoạt đó và trở thành thụ động, thờ ơ với việc chung khi không bị bó buộc; đàng khác nếu chính quyền thật lòng muốn khởi động lại sinh hoạt công dân trong các tổ chức xã hội dân sự, thì phải chăng bây giờ là lúc thuận lợi nhất? Thiển nghĩ cách thức điều hành, quản trị một chiều từ trên xuống, không cần hay không muốn nghe phản biện hay chỉ nghe cho có hình thức đã chứng tỏ là không thích hợp (đặc biệt khi ta muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và dân chủ), không mang lại lợi ích đích thực cho đất nước và dân tộc mà còn có hại nữa.

22-4-2009.

Copyright © 2007 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.