Cau Xin Me

GIẢ DỐI TRÀN LAN: TẠI SAO?

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Tôi đã một vài lần viết về đề tài "Giả dối" nhưng hôm nay 30. 4. 2006, sau khi "rảo" qua chỉ ba tờ báo có sẵn trong phòng giải trí của tu viện, tôi đã gặp hai bài nói về sự giả dối ngay trong giáo dục ở nhà trường, khiến tôi cảm thấy không thể không quay lại đề tài này một lần nữa.

Bài thứ nhất thuật lại lời một bà mẹ có đứa con 4 tuổi học một trường mầm non. Bà ngạc nhiên thấy những buổi trưa ở nhà với mẹ, khi ngủ bao giờ bé cũng cởi áo gấp lại làm gối gối đầu. Gặng hỏi, mới biết được đó là điều cháu phải làm hằng ngày trong trường. Bà mẹ nhớ lại những chiếc gối mới tinh hôm phụ huynh đi thăm cở sở. Và lời thỏ thẻ của cô bé lớp mẫu giáo lớn cho biết gối đẹp cất trong tủ, các cháu chỉ được dùng khi có đoàn kiểm tra đến mà thôi!... Tác giả bài báo nhắc lại lời của một giáo sư đầu ngành toán học như sau: "Nền giáo dục ở ta không giống bất kỳ nền giáo dục nào. Nó không chỉ xa rời thực tế mà còn dạy con người thiếu trung thực ngay ở tuổi mầm non. " (Báo Thanh Niên Chủ nhật 30. 4. 06, tr 6)

Trường hợp thứ hai, thật ra, không có gì bất ngờ. Nói về môn sinh học ở bậc phổ thông, giáo sư Nguyễn Lân Dũng phàn nàn chỉ có những em nào định thi khối B mới quan tâm nghe bài, còn các em khác không cần học, và nhiều em thậm chí sách giáo khoa cũng không hề đọc tới, nhưng vẫn không bị điểm 0 hay điểm 1 và vẫn có thể tốt nghiệp trung học phổ thông! Tác giả đề nghị: "Có lẽ muốn chấn hưng giáo dục thì phải dám chấp nhận cho các em này lưu ban và chỉ cho đỗ tốt nghiệp các em nào đã thực sự học đều tất cả các môn học và đạt được kết quả thi trên trung bình đúng với thực lực". Ô hay! chuyện đương nhiên phải như thế, một chuyện "không có gì phải bàn" ở tất cả mọi nước trên thế giới (xét theo thường tình) mà ở nước ta một ông giáo sư khá nổi tiếng cũng chỉ dám khiêm tốn đề nghị "có lẽ" phải "dám" làm để chấn hưng giáo dục, thì phải nói hoặc là tác giả quá nhún nhường, hoặc là tình hình đã trở nên hầu như vô vọng. Vô vọng bởi lẽ cái bình thường (có đủ điểm thi mới đậu) lại bị coi là cái "phi thường" (phải can đảm lắm mới dámkhông cho đậu), còn cái khác thường tức kỳ quặc (học dốt vẫn đậu) đã trở thành cái bình thường, cái phổ biến. Tác giả viết tiếp--vẫn với giọng khiêm tốn hay dè dặt như trên: "Các trường tiên tiến phải là các trường dám trung thực với kết quả học tập của học sinh, sinh viên..." Và ông kết luận rất đúng rằng "bài học về lòng trung thực phải là bài học đầu đời cho các bộ óc trẻ trung đang còn trong trắng"... (Kiến thức ngày nay, ngày 20. 4. 2006, tr 9).

Tình trạng giả dối tràn lan trong xã hội đã không thể chấp nhận được rồi huống hồ là ngay trong giáo dục, nơi đào tạo những con người cho tương lai. Nếu đạo đức làm người mà như thế thì dù cho nước Việt Nam ta có thành một nước công nghiệp tiên tiến vào năm 2020 như ông Tổng Bí Thư vừa mới tuyên bố, thiết tưởng cũng chẳng có gì đáng cho ta ngẩng cao đầu với thế giới. Mà thật ra, nếu không thay đổi triệt để tình trạng này, làm sao có thể đi lên một xã hội công nghiệp tiên tiến? Không thể xây cái gì bền vững trên sự giả dối, đó là một nguyên tắc không ai có thể phủ nhận. Hậu quả tai hại ngay bây giờ là người ta có thể nghi ngờ bất cứ chuyện gì. Đọc một số liệu hay một bản báo cáo của một cơ quan, một tổ chức, một công ty, xí nghiệp..., nhà nghiên cứu luôn luôn nghi vấn: Có đúng thế không? Đứng trước một học bạ, một văn bằng, một học vị, nhiều khi cũng có thể nghi ngờ là không thật. Uống một viên thuốc, dùng một món đồ, ăn một tô bún, một miếng giò hay một trái cây, người cẩn thận vẫn thường không yên tâm: chất lượng thật hay giả, có hóa chất không v. v. ? Thậm chí có lúc đi ngang qua một biệt thự của một cán bộ, công chức hay ngay của một giám đốc công ty, không ít người buột miệng: "Làm gì mà giàu sang thế? Hay lại...?".

Các nhà nghiên cứu đã phân tích và nêu lên nhiều nguyên nhân của tình trạng thiếu trung thực tràn lan. Nhưng tôi thiển nghĩ rằng ta còn có thể nghĩ tới một nguyên nhân sâu xa mà hình như chưa ai đề cập tới cách thẳng thắn. Đó là liệu tình trạng này có liên quan cách nào đó chăng tới nhân sinh quan chính thức của xã hội ta hay ít nhất là tới một cách làm, cách nghĩ lâu đời đã ăn quá sâu vào trong tâm thức của giới cầm quyền và nhân dân? Tôi không dám khẳng định mà chỉ nêu câu hỏi như một "giả thuyết làm việc", như người ta quen nói trong phạm vi nghiên cứu khoa học (hypothèse de travail).

Những tu sĩ đầu tiên của chúng tôi cộng tác với chính quyền địa phương làm công tác phổ cập giáo dục ngay sau chiến tranh, vào năm 1975-1976, là hai anh em ở Suối Thông, huyện Đơn Dương. Tôi vẫn còn nhớ họ đã rất ngạc nhiên kể cho chúng tôi biết rằng trong kỳ thi cuối khóa, họ đề nghị một số em quá kém ở lại lớp nhưng cán bộ quyết định phải sửa điểm để cho tất cả mọi em được lên lớp. Cứ tưởng đó là trường hợp cá biệt, ai ngờ những anh em khác tham gia công tác giáo dục địa phương về sau cũng đều có kinh nghiệm tương tự. Tôi cũng còn nhớ một bài báo của Lý Lan ở Tp Hồ Chí Minh cách nay khoảng vài chục năm, trong đó giáo viên kiêm nhà văn này thú nhận mình đã trải qua tâm trạng nào khi phải dạy những điều biết rõ là sai nhưng không đủ can đảm lên tiếng bênh vực cái đúng, cái thật.

Người ta không thể tách rời giáo dục nhà trường ra khỏi môi trường sống xã hội. Mà xã hội ta thì xưa nay đã quá quen với việc làm dối, nói dối, báo cáo láo đến nỗi dường như không còn coi đó là một điều xấu nữa. Chúng ta còn nhớ một khẩu hiệu được tung ra thời đầu đổi mới là "Nói thẳng, nó thật". Có chủ trương như thế là vì có tình trạng quanh co, gian dối. Một bài thơ châm biếm đăng trên Sài Gòn Giải phóng ngày 18. 5. 1990 có nhan đề đáng để ý.

Thôi xài chữ giả
Chữ nghĩa du di chả mấy hồi
Đói không nói đói, "thiếu ăn" thôi!
Học hành "hạn chế": y chang dốt
Báo cáo "tuy nhiên": ắt hẳn... tồi.
"Vượt mức chỉ tiêu"? Nên bớt nửa,
"Có phần sơ sót"? Hãy nhân đôi...
Mực đen gấy trắng đòi trung thực
Chữ giả xài lâu hỏng lắm rồi. (Long Vân)

Nhưng đã hết hỏng chưa trong thời kỳ hiện nay? Chắc còn tệ hơn trước! Vậy bầu không khí vẩn đục bất thường này có gì liên quan tới bản thân chế độ hay ít nhất tới một quá trình xây dựng và phát triển chế độ cụ thể không? Tôi xin mạo muội lưu ý tới một vài điểm.

Trước hết là vai trò của tuyên truyền luôn luôn quan trọng trong đời sống chính trị ở mọi nơi, mà đặc biệt trong chế độ này, nhất là trong những thời kỳ đấu tranh quyết liệt chống lại các thứ kẻ thù. Nhu cầu tuyên truyền đưa tới tô hồng, phóng đại và cả bịa đặt nữa miễn sao có tác dụng trước mắt. Ngay những ngày đầu giải phóng, có một vài anh bộ đội tới thăm chúng tôi ở Đa Kao, Sài Gòn; họ là đồng hương Quỳnh Lưu, Nghệ An với một vài anh em chúng tôi trong tu viện, lại còn có họ hàng xa gần nữa. Chúng tôi ngạc nhiên nghe họ nói ở thành phố Vinh nhà cửa còn khang trang hơn cả Sài Gòn và ti-vi thì đặt khắp nơi ngoài đương phố. Họ ăn nói rất tự nhiên, chắc không có ý bịa đặt, song chúng tôi thì nghĩ ngay trong lòng là họ chỉ lặp lại đúng những lời tuyên truyền nào đó mà thôi. Chẳng lẽ họ tin đó là thật khi Quỳnh Lưu chỉ cách Vinh mấy chục cây số? Nhưng biết đâu! Theo tâm lý học, khi ta cứ lặp đi lặp lại mãi một điều gì thì dù là điều sai, nó sẽ có thể trở thành thật cho ta vào một lúc nào đó mà không hay. Tốt khoe ra, xấu che lại, đó là chuyện thường, nhưng biến cách xử sự đó thành như một tâm lý thường xuyên sợ phê bình, sợ sự thật thì không thể chấp nhận được. Càng nguy hại hơn khi hữu ý hay vô tình dạy cho người ta thiếu trung thực.

Chủ trương hợp tác hóa theo cách làm trước đây phải chăng là một nguyên nhân còn quan trọng hơn nhiều? Đó là hợp tác hóa bắt buộc để thực hiện việc xóa bỏ chế độ tư hữu về phương tiện sản xuất, -một bước quyết định để tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo quan niệm đơn giản trước đây. Trong nông nghiệp, ruộng đất, trâu bò, máy móc sản xuất đều là của chung, các thành viên hợp tác xã chỉ còn sức lao động để làm việc hưởng theo công đóng góp. Chính sách này đã được ồ ạt thực hiện xong ở phía Bắc trước 1975 và một phần tại phía Nam sau 75. Có lẽ chính trong môi trường hợp tác hóa này mà thực tế đã hình thành não trạng gian dối phổ biến: ít ai làm việc tận lực và thật thà vì cho rằng làm nhiều hay ít thì "cũng thế thôi"; hơn nữa nhiều người còn nghĩ lấy của công không "tội tình" gì vì của công tức cũng là của mình, đàng khác mình có lấy thì cũng là "bù trừ" lại theo lẽ công bằng thôi (?).

Tôi muốn thử suy luận xa hơn. Các Mác không định nghĩa bản chất con người là gì một cách trừu tượng và không quan tâm tới từng con người như những "ngôi vị" (có lý tính, tự do, trách nhiệm), nhưng đặt con người vào trong xã hội và định nghĩa nó như là "tổng hòa của những tương quan xã hội" (Luận cương VI về Phơ-bách). Ý thức của con người nói riêng và đời sống tinh thần nói chung đều là sản phẩm xã hội, là sự phản ảnh của thực tại vất chất, đúng hơn là của kinh tế. Về đạo đức chẳng hạn, Ăng-ghen chối bỏ nền đạo đức mà ông gọi là giáo điều với những qui tắc vĩnh cửu, dứt khoát, bất di bất dịch và phổ quát, ngược lại ông cho rằng mọi học thuyết đạo đức, phân tích cho tới cùng, đều là sản phẩm của tình trạng kinh tế của xã hội vào thời đại tương ứng (Anti-Duehring). Nền đạo đức nào cũng đều đại diện cho lợi ích của một giai cấp. Giai cấp vô sản có đạo đức riêng của mình. Theo lô-gic này thì những gì có ích cho giai cấp đều được coi là tốt, là đúng.

Tôi nghĩ ngày nay người cộng sản cũng nhìn nhận có những giá trị đạo đức chung cho con người, cho mọi người, bất kể họ thuộc giai cấp nào; nói cách khác, nguyên tắc tính giai cấp của luân lý đạo đức không phải là tuyệt đối, vì con người dù ở giai cấp nào thì cũng là con người. Không phải tất cả "bản thân" tôi chỉ do vị trí của tôi trong một giai cấp qui định hết. Quan niệm con người và đạo đức chỉ như sản phẩm xã hội đã hạ giá nhân phẩm và có thể dễ dàng đưa người ta tới chỗ xử sự tùy tiện đối với con người và với "chân lý khách quan" mà đúng ra mọi người phải tôn trọng, vì chân lý nằm cao hơn con người. Cái được xem là có lợi, là tốt cho một nhóm người, một giai cấp không nhất thiết là cái đúng, cái tốt nghĩa là mang tính đạo đức đích thực. Nói dối vẫn là nói dối cho dù là để bảo vệ cha mẹ mình, tôn vinh làng xóm mình, đoàn thể mình, tỉnh mình, giai cấp mình, vv. Nếu không chấp nhận như thế thì chẳng thể dựa vào đâu mà phê bình người ta thiếu trung thực!

Tôi thiển nghĩ, muốn cải tổ giáo dục theo chiều hướng trung thực, cần phải có một sự cải tổ sâu hơn về não trạng và về quan niệm đạo đức, tựu trung là về nhân sinh quan.

Copyright © 2006 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.