Một Thế Giới Mất Phương Hướng?
Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
1. Thế giới 40 năm sau Vatican II.
"Thế giới ngày nay tỏ ra vừa mạnh vừa yếu, có khả năng thực hiện những điều tốt đẹp nhất hoặc xấu xa nhất, đang khi đó trước mắt nó là con đường dẫn tới tự do hoặc nô lệ, tiến bộ hoặc thoái hoá, huynh đệ hoặc đố kỵ Lại nữa, con người đã ý thức được chính họ phải điều khiển cho đúng những năng lực do chính mình tạo nên và đó là những năng lực có thể đè bẹp họ hoặc phục vụ họ. Vì thế, họ phân vân ".
Đọc lại những nhận định trên đây của công đồng chung Vatican II trong hiến chế Vui mừng và Hy vọng (số9), tôi nghĩ rằng những niềm "hy vọng và lo âu"(số 4) của công đồng cách nay gần 40 năm về thân phận con người trong thế giới hiện đại vẫn còn hoàn toàn đúng, thậm chí càng đúng hơn. Xin trích dẫn thêm một đoạn ngắn sau đây của hiến chế:
" Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, vậy mà tới nay một phần rất lớn nhân loại trên thế giới đang quằn quại vì đói ăn và thiếu thốn, rồi biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù chữ. Chưa bao giờ con người ý thức mãnh liệt được sự tự do như ngày nay, đang khi đó lại thấy sống dậy những hình thức nô lệ mới mẽ về mặt xã hội cũng như tâm lý. Trong lúc đang mãnh liệt cảm thấy sự duy nhất cũng như sự lệ thuộc lẫn nhau trong tình liên đới cần thiết, thì thế giới lại bị lôi kéo kịch liệt theo những chiều hướng tương phản nhau do những lực lượng chống đối nhau (...) Sau hết, người ta nổ lực đi tìm một tổ chức trần thế hoàn hảo hơn, nhưng lại không lo tiến tới sự phát triển tinh thần tương xứng" (số 4).
Mặc dù phác vẽ khuôn mặt thế giới đầy tương phản và mâu thuẫn như thế, nhưng công đồng vẫn tỏ ra lạc quan hơn là bi quan đối với sự phát triển của nhân loại. Dường như công đồng muốn coi những mẫu thuẫn gắn liền với những thay đổi sâu xa trên thế giới lúc bấy giờ, cũng như ø tâm trạng giao động, phân vân tương ứng nơi lòng người chỉ là biểu hiện bình thường có thể gặp thấy trong "bất cứ cuộc khủng hoảng tăng trưởng nào" (số 4). Nhưng nếu so sánh với đầu thế kỷ XXI này, chúng ta thấy tình hình trên, nói chung, không thay đổi, thậm chí về một số mặt, các mâu thuẫn còn gia tăng và gay gắt hơn. Kỳ vọng của các nghị phụ về một thế giới công bình hơn, huynh đệ, tự do, hoà bình và hiệp nhất hơn, nhờ những tiến bộ vượt bậc của khoa học, kỷ thuật không ngừng nới rộng quyền lực của con người trên thiên nhiên, xã hội và chính bản thân họ, - kỳ vọng đó đã không được đáp ứng; ngược lại, một số những xu thế phát triển xấu mà các ngài đã cảnh báo, nay đã là hiện thực bi đát. Phải chăng thế giới không chỉ còn "ngả nghiêng" giữa đôi đường nữa, như công đồng nhận xét, mà đã dấn sâu vào con đường không lối thoát?
2. Những mâu thuẫn kỳ lạ.
Nền văn minh hiện đại tự hào là nền văn minh nhân bản nhất, nó tự hào là đã tôn vinh con người như chưa từng bao giờ thấy trong lịch sử, vì rằng nó vừa lấy con người làm mục tiêu, vừa coi con người là chủ thể duy nhất làm nên chính vận mệnh của mình: "con người là hữu thể tối cao của con người", nó tuyên bố như thế. Vậy mà tôi thấy những mâu thuẫn kỳ quặc nhất của thế giới hôm nay lại chính là những mâu thuẫn liên quan đến con người.
Chỉ trong tháng 12 năm 2003 này thôi, các đại biểu quốc hội Pháp (là quê hương của bản Tuyên ngôn nhân quyền nổi tiếng năm 1789) đã biểu quyết chấp nhận một dự luật cho phép các cặp vợ chồng có nhu cầu, được dùng một bào thai của mình để làm phương tiện chữa trị cho một đứa con khác bị bệnh và cần đến một vài bộ phận của "em" nó. Người Pháp gọi những đứa bé bị hy sinh đó là những "đứa bé-vị thuốc" (bébés médicaments). Thật là khủng khiếp!
Cũng mới đây, ngày 16.11.2003 toà án tối cao bang Massachusetts, Hoa Kỳ, đã quyết định chính quyền bang này phải cho các cặp đồng phái sống chung với nhau những quyền pháp lý hoàn toàn như những cặp hôn phối khác phái. Như thế là chính thức nhìn nhận những cuộc chung sống kia cũng là "hôn nhân". Một quyết định kỳ quặc. Mà đây chẳng phải là quyết định đầu tiên trên thế giới. Thử hỏi, người ta có thể nhân danh ai hay cái gì để làm chuyện phi lý như thế? Xã hội tồn tại nhờ sự phối hợp nam nữ trong hôn nhân hay nhờ sự chung sống giữa những người đồng phái? Một trong những mục đích thiết yếu, tự nhiên của hôn nhân chẳng phải là sinh con đẻ cái sao? Nếu không quy chiếu về Thiên Chúa nữa thi ít nhất cũng phải quy chiếu vào thiên nhiên mà hành động cho có lý chứ? Vạn vật có âm dương, đực cái, nam nữ, và thiên nhiên sinh sinh hóa hoá nhờ sự phối hợp giữa hai thành phần bổ sung cho nhau đó. Đó là qui luật của trời đất. Thế thì có gì là kỳ thị khi pháp luật và xã hội dành cho hôn nhân truyền thống những quyền lợi khác và lớn hơn những cặp đồng phái sống chung với nhau? Nếu lập luận rằng những cuộc sống chung ấy là nhu cầu và là lợi ích của các đương sự nên cần được pháp luật nhìn nhận, thì thử hỏi người ta sẽ dừng lại ở đâu? Nếu nay mai có những người viện vào lợi ích của họ và của xã hội để đòi hợp thức hoá đa thê chẳng hạn thì sao?
Chuyện gì mà chẳng thể có được trong cái thế giới đã gạt bỏ đi nhiều điểm qui chiếu khách quan chính đáng để lấy sở thích tùy tiện của con người làm chuẩn như hiện nay. Có những nhóm bênh vực quyền của loài vật đến độ đặt loài vật ngang hàng với con người. Họ phản đối những thí nghiệm trên các loài linh trưởng. Thậm chí cả những thí nghiệm trên heo, cho dù để phục vụ con người! Mới đây nghe nói đến những cuộc biểu tình trước một trại nuôi heo cung cấp heo cho các phòng thí nghiệm tại Newchurch, Anh quốc. Cũng ở Anh, người ta xây một khách sạn hạng sang cho loài vật, với bể tắm điều trị, phòng thể dục, giường nệm lông, ghế trường kỷ, tivi... Trên 50 nhân viên phục vụ trong đó. Mùa lễ Giáng sinh năm nay, người Anh đã tiêu khoảng 30 triệu đô-la về quà cho chó, như nước hoa, đồ áo, trang sức, thức ăn
Còn đâu là con người hữu thể tối cao? Có phải vì tôi có tiền thì tôi được quyền làm gì mặc tôi sao? Chắc chính quyền khó có thể can thiệp để ngăn cấm, nhưng đâu rồi lương tâm đạo đức của những người hành động như thế, trong lúc mà hàng triệu trẻ em trên thế giới đang thiếu ăn, không được học hành và chăm sóc y tế tối thiểu?
Hiện nay thế giới đang chia rẽ về vấn đề nhân bản người (human cloning). Chúng ta biết có hai loại nhân bản: nhân bản "sinh sản" nhằm tạo ra một phôi thai và cho phát triển thành người đầy đủ (nhưng người này chỉ là bản sao của một người khác tự ý hoặc được chọn làm bản gốc), và nhân bản "chữa trị" nhằm dùng phôi thai để nghiên cứu và trị bệnh. Nói chung, người ta muốn cấm việc nhân bản "sinh sản" nhưng đa số các nước muốn cho phép nhân bản "chữa trị". Trong trường hợp nào thì phẩm giá con người cũng vẫn bị chà đạp.
Chúng ta còn nhớ cách nay ít năm, một vài giáo phái kỳ dị đã làm chấn động thế giới khi đưa các tín đồ mình tới chỗ tự tử tập thể nói là để được giải thoát và được vào cõi vĩnh phúc. Một thông tin tôi tình cờ đọc được trên một hãng tin quốc tế năm 2002: 10% dân Ý tin vào chuyện bói toán, và đầu mỗi ngày có tới 25% người Ý tìm đọc mục "vận mệnh của bạn" trên các trang báo. Người ta đã muốn loại trừ Thiên Chúa, loại trừ mọi ảnh hưởng của các tôn giáo truyền thống nhân danh khoa học và tiến bộ để rồi chạy theo đủ thứ niềm tin, cho dù là kỳ quặc nhất! Nhà văn Chesterton, người Anh đã nhận định rất sâu sắc: "Không tin Thiên Chúa nữa, điều ấy không có nghĩa là không tin cái gì cả nhưng là tin bất cứ cái gì".
Tôi có quá lời không khi cho rằng những ví dụ trên đây là những "co dật" của một thế giới đã mất phương hướng? Vậy đâu là nguyên nhân sâu xa?
3. Thử tìm nguyên nhân.
Những sự kiện đã nêu rên đây bao hàm một quan niệm nhất định về con người. Con người mà nền văn minh hiện đại đề cao là con người cá nhân, con người tự do, tự lập, con người trần tục nghĩa là hoàn toàn đóng khung lại trong trật tự tự nhiên này, không gắn vào hay lệ thuộc quyền bính siêu nhiên nào. Bản thân nó tự coi là không có một chiều kích siêu nhiên, siêu việt nào cả. Theo nguyên tắc, nó chỉ phải nghe theo lý trí của mình mà thôi. Trong thực tế, lý trí (hay lý tính) chỉ được nhất quán áp dụng trong phạm vi khoa học kỹ thuật, trong tổ chức đời sống kinh tế và xã hội, còn trong đời sống đạo đức, mỗi người thường để cho cảm tính, ý muốn, sở thích hay lợi ích riêng chi phối. Xã hội tôn trọng tự do cá nhân đến mức gần như là dung túng cho nó muốn làm gì cũng được, bao lâu không làm hại tới trật tự chung hay quyền lợi kẻ khác. Ngoài lãnh vực khoa học ra, không còn những tiêu chuẩn khách quan tuyệt đối về chân lý và những nguyên tắc hành động đạo đức chung cho mọi người nữa. Nền văn minh hiện đại dấn sâu vào vật chất, dành rất ít chỗ cho tâm linh; tâm linh chỉ được nhìn nhận theo mức độ nó mang lại lợi ích thực tế cho con người, tựu trung tâm linh cũng chỉ là một thứ hàng tiêu dùng bên cạnh bao nhiêu thứ hàng khác.
Định hướng của nền văn minh hiện đại đã bắt đầu ở phuơng Tây thời Phục Hưng thế kỷ XV và đạt tới cao trào vào thời Cách mạng Pháp 1789, thời được mệnh danh là "thế kỷ ánh sáng". Đặc điểm chung của nó là chủ nghĩa nhân bản. Nhân bản, vì hoàn toàn tập trung vào con người, lấy con người vừa làm gốc vừa làm mục tiêu. Nhưng nền nhân bản này là vô thần hay ít nhất là trần tục. Người ta chối bỏ Thiên Chúa và đặt con người vào thế chỗ Thiên Chúa, hoặc tuy vẫn có đức tin, nhưng người ta sống như thể chẳng có Thiên Chúa hay thần thánh nào.
Hai thế kỷ XVIII-XIX, người ta đã lạc quan tin chắc rằng nhờ loại trừ Thiên Chúa và tôn giáo ra bên rìa xã hội, họ được hoàn toàn giải phóng, được tự do phát huy tất cả mọi năng lực của mình, và với sức mạnh của lý trí, -tiêu biểu bởi những tiến bộ kỳ diệu của khoa học kỹ thuật-, họ sẽ tự mình giải thích được mọi bí ẩn, giải quyết xong mọi khó khăn để xây dựng một thế giới vì hạnh phúc nhân loại. Lịch sử chỉ có thể tiến chứ không lùi. Nhưng rồi hai cuộc thế chiến tàn khốc chưa từng có trong lịch sử, khủng hoảng kinh tế, nghèo đói, những ý thức hệ đối nghịch, những chế độ độc tài, chạy đua vũ trang, sự hủy hoại môi trường, những hình thức tha hoá mới, những căn bệnh quái ác mới ..., những thực tế đó ở thế kỷ XX (và vẫn tiếp tục ở đầu thế kỷ XI này) đã làm tiêu tan dần dần mọi ước mơ và hy vọng. Khoa học kỹ thuật vẫn không ngừng tiến triển; của cải, tiện nghi và quyền lực con người tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, như ta thấy trong cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này, nhưng tâm trạng con người ngày nay nói chung thì lại là sợ hãi, bi quan, ngờ vực và cô đơn. Con người mạnh hơn nhưng không khoẻ hơn. Các nhà xã hội học nhận định rằng tôn giáo đã trở lại trong xã hội phương Tây từ thập niên 70 thế kỷ trước; hiện tượng này chứng tỏ một nhu cầu lớn về tâm linh, về ý nghĩa và về những điểm qui chiếu vững vàng cho cuộc sống, -nhu cầu mà nền văn minh duy vật chất, duy trần tục không đáp ứng được.
Như vậy, phải chăng trong căn bản nền văn minh hiện đại đang bị bế tắc do định hướng sai? Đối với Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II thì không nghi ngờ gì nữa: định hướng sai không phải vì quy về con người, nhưng vì quy về một con người không có Thiên Chúa. Ngài viết:"Trong thế giới hiện nay, có khuynh huớng giản lược con người vào chiều ngang [nghĩa là thuần túy tự nhiên, thuần túy trần tục]. Nhưng con người sẽ như thế nào nếu không mở ra với Đấng Tuyệt Đối? Câu trả lời nằm trong kinh nghiệm của mỗi người, nhưng cũng được ghi lại trong lịch sử nhân loại bằng máu đã đổ ra nhân danh những ý thức hệ, và do những chế độ chính trị muốn xây dựng 'một nhân loại mới' không có Thiên Chúa" (Thông điệp Đấng cứu chuộc loài người, số 8). Con người bị cắt đứt chiều kích siêu việt của nó sẽ chẳng cao cả hơn, trái lại trở thành mong manh hơn và thiếu an tòan hơn, dễ dàng bị đe dọa, khai thác, mất phẩm giá, làm mồi ngon cho đủ mọi thứ quyến rũ, thế lực và học thuyết. Con người bị cắt đứt chiều kích linh thiêng, siêu việt của nó, nói cho cùng, cũng chỉ là một sinh vật giữa các sinh vật khác, cho dù là sinh vât cấp cao.
Sai lầm của nền văn minh hiện đại không phải là nhân bản, nhưng là không nhân bản đúng mức vì con người của nó là phiến diện, một chiều, què cụt. Trong diễn văn bế mạc công đồng 7/12/1965 Đức Phaolô VI đã kêu gọi: "Hỡi các nhà nhân bản hiện đại, (...) xin hãy biết nhìn nhận nền nhân bản mới của chúng tôi. Vâng, cả chúng tôi nữa, và còn hơn bất cứ ai, chúng tôi cũng suy tôn con người." Ngài viết tiếp:" Nền nhân bản của chúng ta trở thành Kitô giáo (christianisme = chủ thuyết Kitô, chủ thuyết qui về Đức Kitôâ) và Kitô giáo chúng ta qui hướng về Thiên Chúa, đến nỗi ta cũng quả quyết được rằng: để biết Thiên Chúa, phải biết con người".
Trong công cuộc xây dựng đất nước chúng ta hiện nay, sự đóng góp độc đáo và quan trọng nhất của người Kitô hữu Việt Nam phải chăng là làm chứng và thể hiện nền nhân bản Kitô giáo bằng lối sống và hành động phục vụ con người theo gương Đức Kitô và như phục vụ chính Đức Kitô?
2.1.2004
|