Cau Xin Me

NĂM 1954

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

N

ăm 1954 được đánh dấu bởi những biến cố vô cùng quan trọng đối với lịch sử đất nước và dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ XX: cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève chia đôi đất nước, và cuộc di cư của khoảng một triệu đồng bào từ phía Bắc xuống bên kia vĩ tuyến 17, không kể một số cán bộ hoặc gia đình cán bộ từ miền Nam tập kết ra Bắc. Năm 2004 vừa qua, lễ kỷ niệm chiến thắng lịch sử Điện Biên đã được tổ chức thật long trọng; chính quyền cũng nhắc nhở và ca ngợi các thành phần tập kết này. Nhưng biến cố di cư đã không đuợc nhắc đến. Và điều đó cũng rất dễ hiểu. Riêng với cuộc đời tôi, kỷ niệm này mang một ý nghĩa đặc biệt. Đúng vào lễ Giáng Sinh năm 2004 là tròn 50 năm tôi sống ở miền Nam. Mấy tháng cuối năm nay, tôi thường suy gẫm về nó. Trong lúc tìm cách "đọc lại" nó trong niềm tin tôn giáo để khơi dậy tâm tình cảm tạ về những gì tôi nghiệm thấy như là ân huệ của Thiên Chúa cho bản thân mình,--điều này là chủ quan, chỉ có giá trị cho tôi,--thì tôi cũng không tránh khỏi liếc qua phía lịch sử khách quan và nhìn tác động của biến cố di cư trên đời sống dân tộc và giáo hội. Cái "liếc qua" này--mà tôi kể lại sau đây--không phải là một cách giải thích lịch sử theo các đòi hỏi của môn sử học hoặc triết học về lịch sử. Thật đơn giản, tôi chỉ thử ghi nhận một vài hậu quả tích cực cụ thể như mọi người có thể thấy, trong lúc chờ đợi các nhà nghiên cứu làm việc một cách chuyên sâu, bài bản.

1. Trước hết về mặt kinh tế, ai cũng biết rằng miền Nam đất rộng người thưa và rất giàu về các tiềm năng nông, lâm và ngư nghiệp nhưng chưa được khai thác bao nhiêu. Với làn sóng di cư có tổ chức các năm 54-55, một lực lượng lao động lớn được ồ ạt đổ vào; họ đã làm việc thật hăng say vì đang có nhu cầu bức thiết xây dựng một cuộc sống mới và cũng vì thấy đất đai phì nhiêu, các điều kiện làm ăn ở đây phong phú và dễ dàng hơn nơi quê cũ của mình nhiều .. Những đức tính cần cù, tiết kiệm, cầu tiến của đám dân miền Bắc và bắc Trung bộ này có dịp phát huy mạnh. Việc bố trí định cư tất nhiên có nằm trong những tính toán chính trị và quân sự nhưng chắc chắn có phối hợp với nhu cầu phát triển kinh tế. Những vùng đất hoang và vùng cao nguyên mênh mông đã được khai khẩn thành những vùng kinh tế trù phú. Các ngành kinh tế khác cũng được phát triển. Do những điều kiện thuận lợi hơn hẳn miền Bắc lúc bấy giờ, nhất là được tự do, người dân miền Nam được tiếp xúc rộng rãi và liên tục với những tiến bộ hiện đại về khoa học, kỹ thuật và kinh tế của phương Tây. Trong thời chiến tranh Quốc-Cộng, miền Nam đã có một đội ngũ trí thức và chuyên môn khá dồi dào và một lớp công nhân kỹ thuật có tay nghề và đã ít nhiều làm quen với sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kinh tế miền Nam lúc bấy giờ tuy phải phụ thuộc vào chiến tranh và viện trợ nước ngoài nhưng cũng là một nền kinh tế phát triển hơn kinh tế của các nuớc Đông Nam Á khác cùng thời.

2. Tôi còn thấy những hậu quả thật phong phú về các mặt "dân tộc", xã hội và văn hoá mà biến cố di cư đem lại. Nhờ sự chung sống và hoà trộn giữa người miền Nam "gốc" và người di cư, nhiều sự xa cách và khác biệt được giảm bớt hoặc xoá bỏ, họ hiểu nhau hơn (kể cả về giọng nói và từ ngữ), học hỏi với nhau rất nhiều điều, hơn nữa cả các tính cách khác nhau của người dân ba miền Bắc Trung Nam cũng được thêm phong phú. Chẳng hạn người Nam nói chung vốn không thấy cần phải cố gắng làm việc cực nhọc để làm giàu vì cuộc sống quá dễ dàng nhờ được thiên nhiên ưu đãi, thì khi chung đụng với dân di cư, phải cùng làm việc hoặc cạnh tranh với họ, chắc thế nào cũng học được tính cần cù, chịu khó, biết phòng xa, sự năng động và óc cầu tiến của những đồng bào này, không nhiều thì ít. Còn người di cư tất cũng không khỏi chịu ảnh những đức tính "đặc trưng" của người miền Nam như sự cởi mở, xuề xoà, chân tình, bộc trực. Sự học hỏi lẫn nhau không đương nhiên là có chủ ý nhưng nhiều khi chỉ là thẩm thấu tự nhiên, vô thức.

Một đất nước mà thực dân đã chia ra để dễ trị, nhất định phải vui mừng về những kết quả không hề cố tình tìm kiếm này.

3. Về mặt Giáo Hội, kết quả cũng rất dễ nhìn thấy. Giáo Hội ở phía Bắc đã mất mát rất lớn khi hàng trăm ngàn giáo dân, linh mục và tu sĩ của mình đã ra đi vào Nam trong những năm 1954-55. Giả sử điều này đã không xảy ra thì hiện nay tình hình Giáo Hội Việt Nam ta là như thế nào, chắc chắn không ai biết được. Nhưng nhìn vào hiện thực ta thấy rằng, sau khi đất nước được thống nhất, Giáo Hội ở phía Nam đã "quay về" đóng góp to lớn cho Giáo Hội toàn quốc: một công đồng giáo dân có trình độ văn hoá và giáo lý khá, một số trí thức công giáo đáng kể, một hàng giáo sĩ được đào tạo đầy đủ với nhiều người trình độ và chuyên môn cao, một giới tu sĩ đông đảo và năng động, một nền phụng vụ cải cách theo công đồng Vatican II, một nền thánh ca rất dồi dào phong phú và một số sách vở, tài liệu giáo lý, thần học, tu đức mà miền Bắc hoàn toàn thiếu thốn... Xin đừng ai quá ngạc nhiên khi tôi thêm một đóng góp vô hình nhưng tôi cho là rất quan trọng, đó là tinh thần mới mẻ của công đồng mà Giáo Hội miền Nam đã tiếp thu và đã cố gắng sống trong hơn 10 năm trước ngày thống nhất đất nước. Tinh thần ấy là tinh thần canh tân, cởi mở, đối thoại, hoà mình... Chính nó đã giúp Giáo Hội miền Nam mau mắn nhập cuộc vào xã hội mới một cách tích cực, năng động. Chính nó đã hướng dẫn lá thư mục vụ quan trọng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 và lá thư chung không kém phần quan trọng của hai giáo tỉnh Sài Gòn và Huế năm 1976. Một số người lúc đầu đã tỏ ra ngờ vực, thậm chí coi đó là "xu thời", "mềm yếu" hay "trần tục", nhưng bây giờ thì có thể nói mọi thắc mắc hiểu lầm đã được giải toả.

4. Ai đó có thể nghĩ trong lòng: Nếu như Việt Nam đã được độc lập ngay từ năm 1954 thì đã chẳng có chia đôi đất nước, chẳng có di cư, chẳng có cuộc chiến tranh khiến hàng triệu người phải chết hay bị tàn phế..., và trong trường hợp đó, Việt Nam đã có thể phát triển còn hơn tất cả những gì tôi nói trên, cả về mặt đất nước lẫn giáo hội. Nhưng muốn nghĩ cho vui thì cứ nghĩ, đó chỉ là một điều giả sử không hề có thực. Chữ "nếu" không có chỗ trong thực tế lịch sử. Vậy thì chỉ còn khả năng duy nhất là nhìn lịch sử như nó đã diễn ra và đánh giá nó như thế.

Suy gẫm về lịch sử cho ta cảm nghiệm về tính giới hạn của con người và về tính tương đối và hàm hồ (đa nghĩa) của các thực tại liên quan tới con người. Con người làm nên lịch sử nhưng cũng lệ thuộc lịch sử, nó không bao giờ "làm chủ" trọn vẹn mọi cái mình làm ra, nhưng thường bị nó vượt qua. Tựu trung là câu chuyện Tái Ông mất ngựa của Trung Quốc.

Tái Ông có một con ngựa rất quí. Một hôm bỗng nó biến mất. Bà con lối xóm hay tin kéo đến chia buồn. Tái Ông nói: "Mất ngựa chưa chắc đã là điều rủi, biết đâu lại là điều may". Ít ngày sau, con ngựa quí của Tái Ông trở về, dắt theo một con ngựa cái. Nghe tin đó, lối xóm lại rủ nhau tới chia vui. Tái Ông bảo: "Được ngựa chưa chắc đã là may; biết đâu lại là họa". Hàng xóm thất vọng lại tiu nghỉu ra về. Tái Ông có cậu con trai. Từ khi có con ngựa mới rất hay, cậu ta thích lắm, ngày nào cũng cỡi ngựa vào rừng săn bắn. Chẳng may bữa nọ cậu ta té ngựa gãy tay. Tin đồn nhanh, bà con xa gần lục tục kéo tới chia buồn. Tái Ông vẫn tỏ ra kỳ dị: "Con trai tôi gãy tay, chưa chắc đã là họa, biết đâu lại là may". Ít lâu sau trong nước có chiến tranh, thanh niên ai nấy phải lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, và nhiều người phải bỏ thân nơi chiến trường. Trong lúc đó cậu con trai của Tái Ông vì gãy tay nên được ở lại hậu phương phụng dưỡng cha già.

Nhắc tới câu chuyện Tái Ông ở đây không ngụ ý là cứ để cuộc sống buông trôi vì rồi mọi chuyện đều cũng như nhau cảû, nhưng để nói với người Kitô hữu rằng một khi ta đã tích cực đảm nhận lấy đời mình và từng giai đoạn lịch sử mình sống với tinh thần trách nhiệm và theo sự soi sáng của trí khôn suy xét, thì dù khách quan nó tốt xấu thế nào, ta có thể bình an thanh thản, phó thác cho tình yêu Thiên Chúa những yếu đuối lỗi lầm của ta và cảm tạ Người về hết mọi sự.

(19.1.2005)

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.