VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
ề Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo mà Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký lệnh công bố ngày 29/6/2004, đã có khá nhiều ý kiến nhận định hoặc thắc mắc trong và ngoài nước. Nay tôi cũng muốn góp vài nhận xét.
Nhận xét thứ 1.
Tôi không biết hết tất cả các văn bản pháp luật về vấn đề tôn giáo, nên không dám quả quyết mà chỉ dè dặt nhận xét rằng trước đây hình như nhà nước chỉ đưa ra những qui định về hoạt động tôn giáo, còn lần này pháp lệnh đề cập trực tiếp tới cả hoạt động tín ngưỡng nữa. Nếu thế thì đây là điểm mới rất đáng lưu ý. Pháp lệnh hiểu hoạt động tín ngưỡng là "hoạt động thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng khác" (Đ 8 #1). Tín ngưỡng không có tổ chức, cơ cấu, giáo lý, giáo luật chặt chẽ, rõ ràng như tôn giáo. Tín ngưỡng mang tính dân gian hơn. Theo tôi, nói tới hoạt động tín ngưỡng như thế (cùng với hoạt động tôn giáo trong cùng một văn bản pháp luật) là rất có ý nghĩa. Tuy gắn chặt vào văn hoá, nhưng tự gốc rễ của nó, hoạt động tín ngưỡng như đã mô tả ở trên, vẫn mang nặng ý nghĩa tôn giáo, diễn tả nhu cầu tâm linh sâu xa của con người, biểu lộ vẻ đẹp cao quí nhất của con người mà không một dân tộc nào không có. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ nhu cầu tâm linh ấy không được bộc lộ mạnh mẽ lắm, có khi còn bị cấm đoán nơi này nơi khác trong các vùng cộng sản. Nhưng sau chiến tranh kết thúc, khi đời sống dần dần trở lại bình thường, nhu cầu tâm linh cũng xuất hiện ngày càng mạnh mẽ hơn trong quần chúng; các sinh hoạt chung quanh các đền miếu, đình chùa và nơi hành hương, cũng như những lễ hội truyền thống mang tính văn hoá, tín ngưỡng tại một số địa phương được phục hồi dần dần. Có lẽ lúc đầu chính quyền đã tỏ ra cảnh giác, nhưng về sau này, trong lúc đề cao các truyền thống văn hoá dân tộc và trước nguy cơ các truyền thống ấy bị đe doạ bởi toàn cầu hoá và kinh tế thị trường, chính quyền không những đã cho phép mà còn khuyến khích một số những biểu hiện như thế. Vả lại, nếu chú ý, chúng ta cũng nhận thấy rằng việc tôn kính chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng mang rõ nét "tín ngưỡng" theo nghĩa mô tả của pháp lệnh ở Điều 8. Vì thế pháp lệnh khẳng định nhà nước không những bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn tôn trọng các giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của tín ngưỡng, tôn giáo (Đ 5).
Nhận xét thứ 2.
Về hoạt động tôn giáo, pháp lệnh lấy lại phần lớn nhũng qui định cũ, nhưng xác định rõ ràng hơn, thêm những chi tiết mới hoặc đổi mới theo hướng thoáng hơn. Xin đơn cử hai trường hợp quen thuộc.
Qui định về người đi tu đơn giản và rộng rãi hơn: họ nhập vào cơ sở tôn giáo ở đâu thì người phụ trách cơ sở đó chỉ phải đăng ký với Uûy ban nhân dân xã địa phuơng (Đ 21). Trước đây, nếu người ấy đến từ một huyện khác trong cùng một tỉnh hoặc từ các tỉnh khác thì đều phải đuợc sự chấp thuận của ban tôn giáo Tỉnh (nghĩa là phải xin phép). Như trong tu viện Phanxicô nơi tôi đang ở, có ba tu sĩ đã gởi đơn lên Chính quyền tỉnh, kèm theo giấy xác nhận của bề trên dòng, của xã và huyện liên hệ, để xin chứng thực họ là tu sĩ, nhưng cho tới nay chính quyền tỉnh trả lời rằng ba tu sĩ này, khi đi tu, không xin phép tỉnh nên tỉnh không thể cấp giấy chứng nhận được!
Ví dụ khác. Việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử được pháp lệnh tuyên bố rõ ràng là việc riêng của tổ chức tôn giáo, nhà nước chỉ đòi hỏi phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nuớc, thay vì phải được phép của chính quyền như trước đây. Pháp lệnh chỉ nêu những điều kiện về phương diện công dân mà thôi (Đ 22).
Nhận xét thứ 3.
Pháp lệnh qui định 3 trường hợp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền; 7 trường hợp phải đăng ký và 13 trường hợp "xin phép" (= phải được cơ quan thẩm quyền chấp nhận). Có lẽ các con số này gây ấn tượng sai lầm rằng các quy định mới không có gì mới mẻ và thậm chí còn khắt khe hơn xưa. Một linh mục Việt Nam phát biểu trên một hãng tin công giáo ở nước ngoài về pháp lệnh nói rằng: Không được phép làm gì cả; tự do của từng hành động đều do nhà nuớc quyết định; ngay cả các ứng viên linh mục cũng phải qua một cuộc thi (sát hạch) của chính quyền cộng sản. Nhận định như thế rõ ràng là không đúng.
Vấn đề gây lo lắng hoặc tranh cãi là nội dung của các từ thông báo, đăng ký và "xin phép". Theo tôi thì thông báo một hoạt động cho cơ quan chính quyền, hoàn toàn không có nghĩa là xin phép; việc tiến hành hoạt động ấy là quyền đương nhiên của người ta, chính quyền không được can thiệp vào, trừ khi có một lý do đặc biệt hệ trọng. Còn đăng ký thì sao? Nhiều người tự hỏi: phải chăng đó cũng là xin phép? Theo tôi, hiểu như vậy là sai. Có một trường hợp duy nhất được nêu lên trong pháp lệnh mà đăng ký là tương đương với xin phép, đó là khi một người đã chấp hành xong các hình phạt của toà án hoặc biện pháp xử lý hành chính muốn chủ trì nghi lễ, giảng đạo, truyền đạo hay quản lý tổ chức của tôn giáo, thì pháp lệnh nhấn mạnh: không những phải đăng ký mà còn phải được chấp thuận của cơ quan nhà nước nữa. Phải coi đây là trường hợp ngoại lệ. Những trường hợp "đăng ký" khác nêu trong pháp lệnh đều không có việc nhấn mạnh và nói rõ như thế. Điều này cho phép hiểu rằng việc nào đã đăng ký thì hầu như đương nhiên là được quyền tiến hành một khi đã hội đủ các điều kiện pháp luật đòi hỏi. Lấy trường hợp phong chức: tổ chức tôn giáo phải đăng ký về người đó, và người này phải có đủ những điều kiện nhà nước đòi hỏi về phương diện công dân, như quy định của Điều 22, #2 a, b, c: Là công dân Việt Nam, có đạo đức tốt; có tinh thần đoàn kết, hoà hợp dân tộc; nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp. Tuy nhiên, khác với thông báo, từ ngữ đăng ký bao hàm rằng chính quyền vẫn dành cho mình quyền can thiệp, nhưng chỉ can thiệp khi thấy không hay chưa hội đủ những điều kiện đã được ghi rõ trong pháp lệnh, chứ không phải tuỳ tiện theo ý chủ quan của người nắm quyền. Có nghĩa là chính quyền không được từ chối khi người ta không có gì sai luật.
Nhận xét thứ 4.
Tuy đã có đổi mới, có nới rộng, nhưng các qui định của pháp lệnh vẫn nặng về mặt quản lý các hành động tín ngưỡng, tôn giáo. Người tôn giáo vẫn nghĩ rằng nhà nước vẫn cảnh giác với tôn giáo, vẫn nhìn tôn giáo chủ yếu theo quan điểm macxít và kinh nghiệm lịch sử Việt Nam. Vì thế tuy khuyến khích tôn giáo làm công tác xã hội, y tế và giáo dục nhưng trong thực tế chính quyền các cấp vẫn rất dè dặt, thận trọng với các tổ chức tôn giáo; riêng trong lãnh vực giáo dục, mặc dù nhà nước có chủ trương xãhội hoá giáo dục nhưng trong pháp lệnh cũng chỉ nói tới hỗ trợ các tổ chức tôn giáo phát triển giáo dục mầm non mà thôi (Đ 33). Chưa nơi nào có trường tư thục do tổ chức tôn giáo đều hành. Các chức sắc tôn giáo và nhà tu hành được nhắc nhở về "trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ về lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật" (Đ 2). Còn Điều 24 buộc phải dạy các môn lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam trong chương trình đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo.
Kết luận. Chờ đợi của giới tôn giáo về pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo chưa được đáp ứng đầy đủ, nhưng dù sao về một số phương diện nào đó, pháp lệnh cũng đã thể hiện một bước tiến mới. Mong muốn trước mắt làkhi đưa nó vào cuộc sống, chính quyền vẫn -nói theo ông Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ - "tiếp tục quan điểm đổi mới trong công tác tôn giáo" và quan tâm "làm cho đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo được yên tâm và phấn khởi".
29. 8. 2004
|