Cau Xin Me

THÁI ĐỘ MỤC VỤ ĐỐI VỚI NGƯỜI TÍN HỮU DI DÂN

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Chắc không có giáo xứ nào của giáo phận Vinh (gồm Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình) là không có người đi làm ăn xa, rải rác trong nhiều tỉnh thành phía Nam, nhất là thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương. Nhiều xứ đạo có số người đi làm ăn xa lên đến hàng trăm. Công việc họ làm rất đa dạng, từ công nhân xí nghiệp, xây dựng, bán hàng, làm việc nhà cho đến bán ve chai, bán vé số; một số khác làm việc theo thời vụ ở những vùng cao nguyên có cây công nghiệp (cà phê, trà) hoặc những vùng nông nghiệp cần nhân công hái tiêu, hái điều, nhổ sắn (củ mì), v. v. Nói chung, toàn là những việc tay chân đơn giản, không đòi hỏi chuyên môn, do đó lương bổng không cao. Đời sống vật chất và tinh thần của đám di dân này đặt ra nhiều vấn đề cho các vị mục tử. Ở đây, tôi chỉ xin mạo muội đưa ra vài gợi ý về thái độ mục vụ nên có đối với họ, dựa trên một ít sự kiện tôi nghe được hoặc quan sát thấy, dù đây không phải là phạm vi phục vụ chuyên trách của tôi trong tư cách một linh mục.

Vượt lên trên những tiêu cực không thể tránh mà các vị chủ chăn gặp thấy nơi những con chiên mình đi làm ăn xa, thiết tưởng các vị nên có thái độ chung là yêu mến, tin tưởng và thậm chí trân trọng họ.

Về vật chất, họ đóng góp nhiều cho gia đình và một phần cho xã hội. Hồi tết nguyên đán vừa qua, tôi đã tận mắt nhìn thấy ở vùng quê hương tôi ở Yên Thành, nhiều thôn xóm phát triển khá hẳn lên so với cách nay 4-5 năm nhờ những người lao động ở nước ngoài (không bao nhiêu) và những người di dân lao động trong nước, khá đông. Nhiều gia đình nghèo xưa nay không "ngóc đầu" dậy nổi nhưng nhờ có một hai đứa con làm ăn trong Nam, bây giờ cũng sắm được xe máy, ti-vi, bàn ghế và một vài tiện nghi khác trong nhà. Các linh mục là những người "chuyên lo" về đời sống tinh thần, lại không phải vất vả bận tâm về cuộc sống vật chất thường có khuynh hướng đánh giá thấp các tiến bộ của con chiên về cái ăn, cái mặc, nhà ở và sự thụ hưởng vật chất. Thậm chí, có vị tìm cách ngăn cản hoặc gây khó dễ cho con chiên bỏ xứ sở đi làm ăn xa, như thể là những người này ham hố của cải, đặt vật chất cao hơn "sự đạo". Thiết tưởng đời sống vật chất là một nhu cầu tự nhiên (và quyền lợi) chính đáng của mọi người dân, tuy không trực tiếp thuộc trách nhiệm của người chủ chăn nhưng không thể không có liên quan. Giáo Hội nên đánh giá đúng mức những ai góp phần vào sự thịnh vượng xã hội và nâng cao đời sống vật chất của gia đình mình. Có thực mới vực được đạo. Cũng nên hiểu rằng đa số họ cũng phải vất vả khó nhọc và hy sinh lắm khi phải xa nhà, xa cha mẹ, vợ con để lao động nơi đất khách quê người.

Ngoài ra, người chủ chăn cũng nên chú ý tới vài nét tâm lý xã hội thông thường của người thôn quê lên thành phố để hiểu họ hơn. Ở thôn quê, người ta sống như trong một gia đình lớn, người ta biết nhau từ nhỏ, đi đâu cũng là người quen, người thân cả; người ta sống trong một áp lực xã hội bao trùm, làm gì cũng khó tránh khỏi dư luận nhận xét, phê bình, đồng tình hay lên án. Lên thành phố, người thôn quê cảm thấy như được tự do, được "giải phóng", được "là mình" hơn, có thể làm điều mình muốn mà không sợ bị "dòm ngó". Cơ may là họ có thể rèn luyện sự tự do, tự lập, sống các chọn lựa của mình cách ý thức hơn, thay vì sống theo áp lực của gia đình, xã hội; nhưng thực tế vì đại đa số đã không được huấn luyện để sống trưởng thành, tự lập nên đây thường là nguy cơ lớn cho những thanh niên thiếu nữ xa nhà và sống lẻ loi lạm dụng tự do để sống buông thả. Cũng may là đa số người lao động nhập cư vẫn sống thành nhóm với nhau, và thường được các cha xứ, các tu sĩ và giáo dân nơi họ tạm trú quan tâm giúp đỡ, nhất là về mặt tinh thần. Hôm nay khi tôi ngồi viết bài này, ngày chủ nhật 29 tháng 4, trong nhà thờ chúng tôi ở quận 9 Tp HCM, có hai thánh lễ, một lễ hôn phối cho một cặp công nhân nhập cư và một lễ cho nhóm công nhân đồng hương mừng bổn mạng là thanh Giuse-Thợ. Sau lễ, nhóm này tổ chức cắm trại trong vườn tu viện chúng tôi.

Ở trong những môi trường sống mới, người di dân thường xem xét lại các quan niệm và lối sống mình xưa nay ở quê nhà. Sự "đụng độ" về văn hoá là khó tránh khỏi, tuy mạnh yếu hay nhiều ít tùy người, tùy lứa tuổi. Nếu thiếu chín chắn, họ có thể hoặc là tự vệ, bảo thủ mọi thứ của làng xóm mình, không học được gì hay từ môi trường văn hoá xã hội mới hoặc ngược lại, chỉ biết chạy theo các mặt bề ngoài thậm chí tiêu cực nhưng "hấp dẫn" của lối sống đô thị. Người ta đã từng nhận xét rằng thanh niên vào Nam hay bắt chước tật xấu phổ biến là "nhậu nhẹt", nhậu lai rai cuối tuần và những dịp lễ nghỉ. Về mặt tôn giáo, sự so sánh cũng không thể tránh khỏi. Các vị chủ chăn không nên vội vàng coi là tiêu cực mọi ý kiến của con chiên đi làm ăn ở xa về "chê" (dĩ nhiên là không trực tiếp và công khai với cha xứ) lễ nghi phụng vụ ở xứ nhà không sống động hoặc quá dài, hoặc nhận xét về các bài giảng của cha xứ là "thế này thế kia", phê phán cách thi hành quyền bính ở quê nhà là "cứng cỏi" hay mối quan hệ xa cách giữa linh mục và giáo dân, v. v. Việc so sánh và nhận định như thế cũng chỉ là chuyện "tự nhiên" thôi, đó là chưa nói, nếu chúng ta biết nghe thì nó còn có thể giúp ta nhìn lại mình và cách phục vụ của mình...

Chắc thế nào cũng có những người "nhập" về trong xứ, trong họ đạo những điều thực sự là xấu, các vị chủ chăn phải bài bác một cách mạnh mẽ nhưng bình tĩnh với lời lẽ giải thích thuyết phục thay vì chỉ bực tức la mắng trên toà giảng... Những người đó, dù sao vẫn là con chiên trong bầy; nếu họ có là chiên bệnh (chiên ghẻ!) đi nữa thì người linh mục vẫn phải yêu mến và chăm chữa trị theo gương Chúa Giêsu, vị Mục Tử nhân lành.

Dù có người làm ăn xa nhà hư hỏng (làm sao tránh khỏi?), nhưng tuyệt đại đa số họ vẫn tốt, vẫn đáng cho các chủ chăn tin tưởng và quan tâm. Chính sự tin tưởng và mối quan tâm đó sẽ nâng đỡ họ trong cuộc sống vật chất và tinh thần khó khăn nơi tha phương, và động viên họ hữu hiệu hơn trước các cám dỗ và cạm bẫy đầy dẫy trong cuộc sống phức tạp. Vừa qua, có một cha xứ hạt Thuận Nghĩa nhân có việc vào Tp Hồ Chí Minh, đã gắng thu xếp để gặp gỡ, chuyện trò với hai nhóm công nhân gốc vùng Quỳnh Lưu, một nhóm khoảng 60, nhóm kia khoảng 160 người. Công nhân rất phấn khởi thấy vị chủ chăn "quê hương" chăm sóc mình như thế.

Phong trào người thôn quê kéo nhau đi làm ăn trong các đô thị là một hiện tượng tự nhiên, bình thuờng khi một xã hội bắt đầu hiện đại hoá, công nghiệp hoá. Nó đặt ra cho người mục tử nhiều vấn đề và nhiều mối ưu tư mục vụ. Tự nhiên ai cũng muốn một giáo xứ ổn định, một nề nếp sống đạo thuần nhất, đơn giản, ít vấn đề, dễ kiểm soát. Nay phong trào di dân nội địa (bền vững hay thời vụ) có nguy cơ phá vở hay ít nhất làm suy yếu nếp sống truyền thống của các giáo xứ, nên các vị chủ chăn thường có phản ứng ít nhiều tiêu cực, đó là chuyện dễ hiểu. Nhưng theo tôi biết, sau một số phản ứng như thế lúc ban đầu, các ngài dần dần đã thay đổi thái độ và cách nhìn đối với con chiên rời quê đi làm ăn xa. Như tôi mạo muội gợi ý trên đây, Giáo Hội ta không nên coi phong trào di dân đang diễn ra như một chuyện "chẳng đặng đừng phải chịu đựng" mà như một dịp, một lời mời gọi để đổi mới cách giáo dục đức tin và tổ chức đời sống đạo cho phù hợp hơn với một xã hội đang nổ lực tối đa để trở thành văn minh, hiện đại, tiên tiến. Mà kinh nghiệm cho thấy, văn minh, hiện đại thường đồng nghĩa với duy vật chất, duy trần tục, suy thoái đạo đức và dửng dưng tôn giáo.

29. 4. 2007

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.