HIỆN TÌNH GIÁO HỘI VIỆT NAM 2005
VÀI NHẬN ĐỊNH
Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
Cuối năm cũ, đầu năm mới người ta thuờng làm những cuộc tổng hợp và đánh giá trong các tổ chức, các ban, ngành phần đời cũng như phần đạo. Tôi cũng vừa được gợi ý làm một việc tương tự đối với đời sống Giáo Hội Việt Nam. Vì thiếu tư liệu để có thể đúc kết và đánh giá toàn diện, nên tôi chỉ xin mạo muội đưa ra một vài nhận xét về một số mặt mà tôi quan tâm mà thôi.
Thời gian gần cuối năm 2005, cuộc thăm viếng của Đức Hồng y Crescenzio Sepe, Bộ trưởng Bộ Truyền giáo của Toà Thánh từ 28 tháng11 đến 5 tháng12, rồi việc chính thức thành lập địa phận mới Bà Rịa ngày 5/12 và lễ tấn phong Đức cha Giu-se Võ Đức Minh tại nhàthờ chính toà Đà Lạt ngày 15/12 đã là những dịp đặc biệt để dư luận trong và ngoài nước hết lời ca tụng "sức sống" của Giáo Hội chúng ta. Chính Đức Hồng y Sepe cũng đã nhận định trên đài Vatican sau khi trở về Roma rằng đó là "một Giáo Hội vô cùng năng động và sống động", rằng ngài rất xúc động vì "sự nhiệt tình Kitô giáo và cách diễn tả đức tin sâu xa của cộng đồng này". Và ngài kết luận: "Tương lai chắc chắn là rất tích cực" (ZE 051205) Đây là nhận định quan trọng vì phát xuất từ một nhân vật cao cấp của Toà Thánh sau những điều mắt thấy tai nghe qua những tiếp xúc tại chỗ với Hội đồng Giám mục, với các tu sĩ, linh mục, chủng sinh, với giới trẻ, các tổ chức hoạt động tông đồ và bác ái, và dĩ nhiên những cuộc lễ với hằng ngàn hay chục ngàn người sốt sắng tham dự.
Nhận định tích cực về Giáo Hội Việt Nam như một Giáo Hội "dồi dào sức sống" không phải là điều gì mới mẻ. Ngay từ thời chế độ chưa thực sự "đổi mới", Đức Hồng y Roger Etchegaray, một chức sắc cao cấp khác của Toà Thánh cũng đã nói như thế sau chuyến thăm viếng Giáo Hội ta hồi tháng 7 năm 1989. Còn bà con Việt kiều hay du khách ngoại quốc có dịp thấy các thánh đường được xây dựng mới khắp nơi, các nhà thờ đầy ắp người dự lễ không phải chỉ vào ngày chúa nhật, lễ trọng mà nhiều nơi ngay cả ngày thường, hoặc các chủng viện, các tu viện không hề thiếu ơn gọi... , chắc họ không thể có cảm nghĩ nào khác hơn hai vị hồng y đến từ Vatican.
Tất cả những nhận định tích cực như trên đều là đúng, nhưng bản thân tôi vẫn cứ cảm thấy chưa hài lòng, vẫn nghĩ rằng còn có những tiêu chuẩn đánh giá khác nữa mà căn cứ vào đó, người ta sẽ có thể có một cái nhìn khác hơn, ít nhất là một cái nhìn bổ túc cho cái nhìn trăm phần lạc quan đó. Tôi thử gọi tiêu chuẩn ấy là tiêu chuẩn Tin Mừng hay phẩm chất Tin Mừng. Phải chăng xưa nay chúng ta quen lấy tiêu chuẩn tôn giáo hơn là tiêu chuẩn Tin Mừng để đánh giá? Tất nhiên Tin Mừng không loại bỏ tôn giáo, nhưng dù sao vẫn không đồng nhất với tôn giáo, "người tôn giáo" mẫu mực chưa chắc đã là "người Tin Mừng" mẫu mực, bằng chứng là hạng người tôn giáo được coi là kiểu mẫu nhất trong đạo Do Thái thường bị Chúa Giêsu nặng lời phê bình theo quan điểm của Người.
Sau đây tôi sẽ thử nêu lên một vài tiêu chuẩn chi tiết theo giáo lý Tin Mừng và giáo lý công đồng Vatican II, không phải để cung cấp một sự đánh giá đầy đủ về từng điểm nhưng cốt để gợi ý suy nghĩ với hy vọng cái nhìn của chúng ta về Giáo Hội sẽ được sâu sắc hơn.
Tinh thần nghèo khó, khiêm nhường
Sau 30-4-1975, Giáo Hội ở phía Nam trải qua một thời thật khó khăn, Giáo Hội mất đi phần lớn các phương tiện hoạt động, như nhà thương, nhà trường, cơ sở xã hội, đất đai v. v. ; phạm vi hoạt động bị thu dồn lại vào phụng tự trong khuôn viên nhà thờ dưới sự kiểm soát rất chẽ của chính quyền trong khoảng mười năm đầu; nhân sự phục vụ giảm bớt vì lý do di tản, bị giam giữ và vì không được dễ dàng đào tạo thêm. Dù muốn hay không, chúng ta đã chia sẻ số phận chật vật, bấp bênh chung của người dân, trở nên gần gủi với họ hơn, và như thế Giáo Hội biểu lộ rõ hơn khuôn mặt của Đức Kitô, vị Thầy nghèo khó, khiêm nhường và chịu đóng đinh. Nhưng qua thời mở cửa, sau khi các nước cộng sản Đông Âu sụp đổ vào cuối thập niên 80 đến nay, Giáo Hội đã mang một bộ mặt khác. Nhờ sự trợ giúp quảng đại của kiều bào, các giáo hội nước ngoài và tổ chức quốc tế, Giáo Hội từ Bắc chí Nam đã xây cất mới hay tu sửa lại "vô số" nhà thờ và cơ sở cho mình (nhà xứ, nhà sinh hoạt, tu viện, toà giám mục
), với qui mô lắm khi rất bề thế và hiện đại, không hiếm khi vượt quá nhu cầu thực sự. Phải chăng tâm lý thích phô trương và háo thắng vốn có của người công giáo ta lại xuất đầu lộ diện? Nhờ có nhiều phương tiện vật chất, Giáo Hội làm được nhiều việc rất tốt, nhưng cám dỗ xu theo hướng phát triển bề ngoài cũng có nguy cơ đe doạ việc phát triển ở chiều sâu Tin Mừng. Và quần chúng nghèo khó có lẽ đang cảm thấy Giáo Hội xa cách mình dần dần. Gần đây một vài kiều bào ở Mỹ và châu Aâu đã lên tiếng công khai phê bình một số người trong hàng giáo sĩ và tu sĩ chúng ta lúc nào cũng nói mình có nhu cầu để rồi không biết dừng lại trong việc đi xin tiền ngoại viện; các kiều bào ấyï còn tỏ ra nghi ngờ số tiền xin được không phải lúc nào cũng phục vụ cho lợi ích chíng đáng của Giáo Hội hay người bất hạnh. Đúng hay sai, thiết nghĩ đó vẫn là những lời phê bình đáng cho ta ngẫm nghĩ. Tiền của bao giờ cũng dễ kéo theo tính phô trương, tự đắc, lòng ham hố danh vọng, chức quyền và nhiều thứ khác đi ngược với Tin Mừng. Những cám dỗ ngọt ngào, nói theo cách của Đức cha Bùi Tuần mới đây (CGVDT, số 1539, tuần lễ 30/12/2005 - 5/1/2006).
Bác ái
Ở đâu, thời nào, hoàn cảnh nào thì sứ điệp Kitô giáo căn bản vẫn không thay đổi, đó là bác ái yêu thương, bắt đầu từ trong nội cộng đoàn Giáo Hội ra với xã hội bên ngoài, nhất là với mọi người nghèo khó, người đau khổ tinh thần và thể xác. Chứng tá căn bản, và cũng dễ tin nhất của ta, do đó cũng chính là bác ái. "Giáo Hội được Chúa Kitô sai đi trình bày và thông ban tình yêu Thiên Chúa cho hết mọi người và mọi dân tộc..." (Sắc lệnh về Truyền giáo, 10). "Như Thiên Chúa đã yêu chúng ta bằng một tình yêu vô vị lợi, thì các tín hữu cũng phải lấy tình bác ái mà lo lắng cho con người, bằng cách yêu mến họ với cùng một ý hướng như khi Chúa tìm kiếm con người" (như trên, 12). Nếu đời sống và hoạt động của Giáo Hội nêu cao được khía cạnh căn bản này là bác ái, thì đó mới thật là "sức sống" của Giáo Hội. Chúng ta thường mau mắn đồng hoá bác ái Phúc Âm với các việc làm xã hội từ thiện, nhưng sự gia tăng các phương tiện vật chất và các việc làm từ thiện không đương nhiên đồng nghĩa với việc gia tăng lòng bác ái, vì chúng ta có thể chỉ "giới thiệu" cho người khác chính bản thân ta thay vì giới thiệu Thiên Chúa, hoặc chúng ta "làm phúc" với thái độ của người ở trên ban phát xuống... Cũng đừng quên rằng trong hoàn cảnh cởi mở hiện nay, các tôn giáo khác, các tổ chức, đoàn thể và rất nhiều cá nhân ngoài Kitô giáo cũng rất nhiệt thành làm việc xã hội từ thiện. Vậy chỉ có phẩm chất Tin Mừng trong cách chúng ta phục vụ người khác mới là tiêu chuẩn và là tiêu chuẩn ưu tiên để các cộng đoàn Giáo Hội tự đánh giá mình. Nhưng chứng tá bác ái và hiệp nhất bên trong Giáo Hội cũng vô cùng quan trọng. Về điểm này, không nên coi thường tình trạng bè phái thường xảy ra trong các giáo xứ, giáo họ, khi tiềm ẩn khi công khai. Có thể nói nó là một cố tật gắn liền với não trạng cạnh tranh ảnh hưởng, cạnh tranh chức quyền vốn có nơi người Việt Nam.
Phụng tự và cuộc sống
Công đồng Vatican II cho ta một tiêu chuẩn để lượng định sinh hoạt nội bộ Giáo Hội nhất là phụng tự như sau: "Những nghi lễ dù đẹp mắt, những hội đoàn dù phát triển rầm rộ cũng không có ích bao nhiêu nếu chúng không hướng về việc giáo dục con người đạt tới sự trưởng thành Kitô giáo. Để đạt tới sự trưởng thành đó, các linh mục phải giúp họsáng suốt nhận ra trong các biến cố lớn nhỏ, đâu là việc phải làm, đâu là ý Chúa muốn. Họ cũng phải dạy các Kitô hữu không chỉ sống riêng cho mình, nhưng theo những đòi hỏi của luật bác ái mới, mỗi người hải tùy ơn nhận được mà phục vụ lẫn nhau, và như vậy, mọi người chu toàn nhiệm vụ của mình theo tinh thần Kitô giáo trong cộng đồng nhân loại" (Sắc lệnh về Linh mục, 6). Chắc các vị chủ chăn sẽ khiêm nhường hơn khi nhìn lại đời sống phụng tự và tổ chức giáo xứ mình theo tiêu chuẩn này của công đồng. Phải chăng "đạo nhà thờ", "đạo bí tích" vẫn là nét dễ nhận thấy nhất trong cách sống đạo của Kitô hữu ta?
Giáo sĩ và giáo dân
Vatican II là một công đồng thăng tiến giáo dân chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội. Công đồng nhấn mạnh sự bình đẳng và phẩm giá căn bản giữa mọi người trong Giáo Hội là con cái Thiên Chúa. Tất cả cùng nhau làm thành dân Thiên Chúa. Giáo hoàng, giám mục, linh mục trước tiên là những người Kitô hữu như các Kitô hữu khác; quyền bính, "chức vị" thuộc về cơ cấu thiết yếu của Giáo Hội mà Chúa Kitô đã thiết lập nhưng chỉ là những dịch vụ, không thêm bớt gì vào bản chất ơn gọi căn bản làm Kitô hữu của các ngài. Hiến chế tín lý về Giáo Hội trích dẫn lời của thánh Âu-tinh: "Làm giám mục cho anh em, tôi rất sợ; làm tín hữu với anh em, tôi rất an tâm. Giám mục là một chức vụ, tín hữu là một ân phúc. Giám mục là danh hiệu nguy hiểm, tín hữu là danh hiệu đem ơn cứu độ" (số 32).
Vậy giáo dân là thành phần trọn vẹn của Giáo Hội. Và hàng giáo sĩ phải yêu mến, kính trọng, thăng tiến họ, cũng như nâng đỡ, khuyến khích họ cộng tác vào đời sống và hoạt động của Giáo Hội, coi họ như anh chị em, như con cái, như những cộng sự viên đích thực. Về điểm này, tôi sợ rằng các chủ chăn chúng ta phần đông còn rất thiếu sót. Nhiều người vẫn coi giáo dân như những người để sai bảo, dù đó là ông chủ tịch Hội đồng giáo xứ do dân bầu ra, vì thực tế họ thường là người của cha xứ, thậm chí có trường hợp dân bầu người này, "cha" chỉ định người khác hoặc cha giải tán một hội đồng không vừa ý cha! Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng cách cư xử của linh mục với giáo dân tại Việt Nam nhiều nơi còn quá xa với giáo lý công đồng và giáo luật mới, thậm chí không khác lắm với cung cách của cán bộ cộng sản đối với nhân dân mà ta vẫn lấy làm khó chịu. Chỉ mấy gợi ý trên thiết tưởng cũng đủ để đừng vội hài lòng với những lời khen ngợi thường nghe về Giáo Hội chúng ta...
Sự tự do của con cái Chúa
Chúa Kitô đã là con người tự do nhất thế gian này, -tự do đối với quyền bính đạo đời, với luật lệ, truyền thống, với dư luận, với gia đình, thậm chí với một thứ tôn giáo nào đó; Người chỉ nghe theo cái thật, cái tốt, nhất là tình bác ái bất cứ ở đâu hay ở con người nào. Vì tự do thật nên Người không sợ hãi. Chúa muốn cho con người được tự do như thế, Người đến chính là để giải phóng ta khỏi mọi thứ sợ hãi và những gì cầm buộc chúng ta trong vòng nô lệ, mà căn nguyên sâu xa là tội lỗi. Ơn gọi Kitô hữu là một ơn gọi tự do. Trong căn bản, Kitô hữu là con người tự do. Tuy nhiên, ta vẫn chưa đạt tới mức con người hoàn thiện, còn dễ rơi lại vào nô lệ cho tính hư nết xấu và tội lỗi, vì thế còn cần đến những cơ cấu, tổ chức, quyền bính, luật lệ. Chúng phải giúp ta đạt tới tự do. Vậy mọi luật lệ chống lại phẩm giá con người, đè bẹp con người đều ngược với ý Chúa.
Tôi xin thử nêu mấy sự kiện sau đây để suy xét.
Tâm trạng sợ hãi: Không nhiều thì ít, nói chung giáo dân ta vẫn sợ "các cha"; sự sợ hãi đó có thể chỉ là tình cảm tự nhiên của bề dưới đối với đấng bề trên trong một xã hội và Giáo Hội vẫn còn nặng tính tôn ti đẳng cấp kiểu Nho giáo, nhưng nó cũng thường được gây nên bởi chính cách xử sự và thi hành quyền bính (quan liêu, hống hách, áp đặt, "cha chú"
) của vị chủ chăn đối với giáo dân. Nhiều giáo dân chỉ "vừa mặt, không vừa lòng" với chủ chăn mình nhưng sợ không dám nói ra.
Thiếu tự do: Tôi không muốn nói tới thứ tự do dân chủ như trong xã hội, nhưng tự do của con cái Chúa chẳng lẽ thấp kém hơn sao? Chúng ta có tự do góp ý, phê bình không? Tôi không thấy một bầu không khí thuận lợi trong Giáo Hội cho việc tự do phát biểu. Phần nào giống như trong xã hội chúng ta hiện nay. Giữa các Giám mục như thế nào thì tôi không biết, nhưng giữa linh mục với nhau, nhất là giữa linh mục có quyền với anh em khác, giữa linh mục già và linh mục trẻ, giữa cha chánh và cha phó, thật sự chưa có tự do dù vẫn biết không có luật lệ nào cấm đoán. Như thế làm gì có tự do giữa giáo dân với linh mục? Chắc cũng có nhưng rất hiếm! Tôi nghĩ yếu tố văn hoá, yếu tố xã hội, chính trị góp phần vào tình trạng thiếu tự do này, nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ dựa vào đó mà coi nhẹ những đòi hỏi của Tin Mừng? Tôi đã từng nghe có người bình phẩm đại khái rằng về mặt nào đó, Giáo Hội Việt Nam đang ở vào thời Trung cổ! Một lời phê bình rõ ràng là phóng đại nhưng ta đoán được tại sao họ dám "quá khích" đến thế?
Những qui định không hợp lý: Luật lệ xác định quyền lợi và nghĩa vụ, là để bảo vệ con người, bảo vệ tự do của họ và phát huy công ích, không phải chủ yếu để khống chế con người. Xã hội Việt Nam đang cố gắng tiến tới nhưng chưa phải là một xã hội pháp trị. Không những luật lệ còn thiếu mà lắm khi vì quyền lợi cục bộ người cầm quyền, dù ở cấp thấp, vẫn muốn duy trì những luật lệ lỗi thời hoặc bày ra đủ thứ qui định tuỳ tiện. Giáo Hội là một tổ chức hai ngàn năm, kinh nghiệm dồi dào, không hề thiếu luật lệ khôn ngoan. Trong lãnh vực đời cũng như đạo, người cầm quyền phải hành xử đúng luật và giúp người dưới làm đúng luật. Đó là điều tối thiểu. Nhưng tôi có một cảm nghĩ: một số nơi trong Giáo Hội ta, hình như vẫn có người cố tình duy trì một vài khoản của bộ giáo luật cũ nay không còn trong giáo luật mới nữa. Tôi cứ thường nghe chỗ này chỗ kia giáo dân bị "dứt phép thông công", hoặc ít ra là "cấm chịu các bí tích" vì những lý do xem ra không đúng với tinh thần giáo luật. Còn cái khoản tự ý đưa ra những qui định không thật sự chính đáng, gây phiền hà cho giáo dân, tạo thêm gánh nặng cho giáo dân, thì còn khá phổ biến. Tình hình này gây ra cho người ta cảm tưởng rằng nhập đạo là "mất tự do", là bước vào một tổ chức đầy những bó buộc nặng nề. Với não trạng con người thời đại, một tình hình như thế hay một ấn tượng như thế là một trở ngại lớn cho công cuộc loan báo Tin Mừng.
Để kết luận
Nếu những điều tôi nhận xét là đúng, thì bức tranh toàn cảnh về Giáo Hội Việt Nam hiện nay không hoàn toàn tươi sáng và không phải là không có vấn đề. Không ai phủ nhận sức sống và tiềm năng của Giáo Hội ta mà nền tảng có lẽ là đức tin còn mạnh mẽ của con người tín hữu Việt Nam. Nhưng Giáo Hội tiến bước giữa trần gian, trong một xã hội loài người nhất định và do đó tất yếu chịu tác động của xã hội trần thế. Chỉ từ mấy năm mở cửa còn mới mẻ đến nay thôi, chúng ta đã có thể thấy một số tác động tiêu cực trên đời sống người tín hữu (đồng thời với một số ảnh hưởng tích cực tuy khó dễ thấy hơn). Xã hội đang hiện đại hoá theo kiểu phương Tây, mà văn hoá phương Tây hiện đại cơ bản là duy trần tục, duy vật chất, đề cao tự do cá nhân, thực dụng và hưởng thụ... Tinh thần đó đang thấm dấn vào xã hội ta, nhất là giới trẻ, đe doạ ngay cả truyền thống văn hoá dân tộc. Tôi tự hỏi liệu Giáo Hội sẽ đứng vững bằng cách nào trước làn sóng trần tục hoá và vật chất "ngọt ngào" đó? Liệu cái sức sống của Giáo Hội đang được tán tụng hiện nay có đủ mạnh để chống lại sự tấn công của nó không? Nếu chúng ta không quan tâm tới một nền giáo dục đức tin chiều sâu, không tiếp tục canh tân mạnh mẽ hơn theo tinh thần Vatican II (cụmtừ canh tân thích nghi hình như đã bị lãng quên), đặc biệt là thăng tiến giáo dân cho đúng mức, thì không ai dám chắc tương lai của Giáo Hội làhoàn toàn tích cực.
(9-1-06)
|