Cau Xin Me

CẤU TRÚC ĐỐI NGẪU TRÉO
TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ

C

ác học giả thường cho rằng Tin Mừng theo Thánh Mác-cô đơn giản và chân phương. Ta hãy nghe nhận xét của các giáo sư Kinh Thánh: “Về văn chương, sách Mác-cô không hay lắm: từ vựng nghèo nàn, câu văn lủng củng, kết cấu lỏng lẻo”[1]. “Xét về văn chương, Mc được viết theo kiểu nói bình dân. Tiếng có khi cục mịch không thanh nhã; văn không được xuôi chảy. Nhiều tiếng đệm lập lại luôn đến nhàm chán”[2]. Tuy nhiên, ẩn dưới cái vẻ bề ngoài “lủng củng”, “cục mịch” ấy là cả một ý nghĩa sâu xa (vì tiếng là Tin Mừng Mác-cô, nhưng chính Thiên Chúa mới là tác giả đích thực). Ẩn dưới cái “kết cấu lỏng lẻo” ấy là một cấu trúc phức tạp mà ta có thể gọi là kết cấu đối ngẫu tréo. 

Thoạt mới nhìn qua các đoạn “Tranh luận về việc ăn chay” (2,18-22), “Các môn đệ bứt lúa ngày sa-bát” (2,23-27) và “Đức Giê-su chữa người bị bại tay” (3,1-6) trong Mác-cô, ta thấy nhận xét của các học giả rất đúng vì xem chừng như các trình thuật này không nối kết với nhau. Thực ra, như trên vừa nói, Mác-cô đã sử dụng hình thức văn chương đối ngẫu tréo để kết nối chúng lại.

Khi thuật truyện, tác giả đặt những sự kiện song song với nhau nhưng đều quy về một điểm trung tâm. Điểm trung tâm này là một ý tưởng chung cho cả hai biến cố. Ta hãy phân tích kỹ câu truyện Đức Giê-su chữa người bại liệt (Mc 2,1-12) và Đức Giê-su chữa người bại tay (3,1-6). Trong câu truyện thứ nhất, Đức Giê-su trở lại thành Ca-phác-na-um. Hay tin Người ở nhà, dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân cơ man những người với người, từ bên ngoài không sao len vào trong được. Đức Giê-su đang giảng Lời cho họ thì có bốn người đem đến cho Người một kẻ bại liệt nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Này con, con đã được tha tội rồi." Nhưng những người lãnh đạo tôn giáo mới nghĩ thầm: “Sao lại dám ăn nói phạm thượng như thế?” Tâm trí Đức Giê-su thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy? Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: 'Con đã được tha tội rồi', hai là bảo: 'Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi', điều nào dễ hơn? Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, Đức Giê-su bảo người bại liệt, Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà!" Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: "Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ!" (2,1-13)

Đức Giêsu làm hai việc khiến những người lãnh đạo tôn giáo bực tức: 

  1. Người tha tội cho người ta; và
  2. Người cáo giác họ không tin chân lý.

Đối với những lãnh đạo trong dân Do Thái, nào ai có thể tha tội cho người khác trừ phi là Thiên Chúa. Nên Đức Giê-su nói như thế là phạm tội lộng ngôn. Họ chỉ mới nghĩ như thế, nhưng Đức Giê-su “đi guốc trong bụng” họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy? Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: 'Con đã được tha tội rồi', hai là bảo: 'Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi', điều nào dễ hơn? (2,8-9). Như vậy, Người ngụ ý họ không tin chân lý mà đang chối bỏ điều hiển nhiên trước mắt.  

Việc chữa trị người bị bại tay cũng làm những người lãnh đạo dân Do Thái bực bội. “Đức Giê-su lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay. Họ rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy ngày sa-bát không, để tố cáo Người. Đức Giê-su bảo người bại tay: "Anh trỗi dậy, ra giữa đây!" Rồi Người nói với họ: "Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi?" Nhưng họ làm thinh. Đức Giê-su giận dữ rảo mắt nhìn họ, buồn khổ vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay: "Anh giơ tay ra!" Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường. Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su” (3.1-6).

Giống câu truyện trên, Đức Giêsu cũng làm những nhà lãnh đạo khó chịu về hai điều: 

  1. Người chữa bệnh vào ngày sa-bát; và
  2. Người cáo giác họ hiểu sai lạc về chân lý.

Hai câu truyện này thoạt nhìn dường như chẳng có liên hệ gì với nhau. Phân tích kỹ, ta thấy chúng có chủ đề như nhau, khiến ta phải suy nghĩ lại, không chừng phải kết luận ngược lại thì mới đúng. Thực ra, chúng liên kết với nhau bằng một cấu trúc đối ngẫu tréo.

Bây giờ ta lại xét đến một cặp sự kiện khác dường như cũng không liên hệ với nhau: Đức Giê-su dùng bữa với những người tội lỗi và các môn đệ bứt lúa vào ngày Sabát. Tương tự hai trình thuật trên, trong hai truyện này Đức Giêsu cũng làm cho những người lãnh đạo Do Thái bực bội. Thật vậy, Người đã ăn uống chè chén với phường tội lỗi, nghĩa là làm điều  khiến họ chướng tai gai mắt, và Người cũng vạch rõ những sai lầm của họ. Câu truyện còn lại cũng ngắn: “Vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa. Dọc đường, các môn đệ bắt đầu bứt lúa.  Người Pha-ri-sêu liền nói với Đức Giê-su: "Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia? Điều ấy đâu được phép!" Người đáp: "Các ông chưa bao giờ đọc trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ bị thiếu thốn và đói bụng?  Dưới thời thượng tế A-bi-a-tha, ông vào nhà Thiên Chúa, ăn bánh tiến, rồi còn cho cả thuộc hạ ăn nữa. Thứ bánh này không ai được phép ăn ngoại trừ tư tế." Người nói tiếp: "Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát"” (2, 23-27).

Một lần nữa, ta thấy Đức Giêsu và các môn đệ làm điều các lãnh đạo không chấp nhận và rồi Người lại vạch ra sai lầm trong suy nghĩ của họ. Nhận định này làm hé lộ “sợi chỉ đỏ” chạy dài xuyên suốt cả bốn câu truyện. Muốn vậy, ta hãy đi tìm điểm đối xứng.

Điểm đối xứng trong cấu trúc đối ngẫu tréo có những tính chất sau:  

  1. nó thường xuất hiện không chỉ trong một câu truyện;
  2. nó thường nằm gần điểm giữa của các biến cố; và
  3. nó phát biểu thành lời những hàm ý trong các câu truyện.

Với ba tiêu chí đó, ta đọc Mc 2,1-3,6 và tìm thấy ba “ứng viên” sau:  2,13-14, 2,18-22, và 2,27-28.

Theo tiêu chí (2), điểm đối xứng chia đôi những câu truyện và ta thấy cả ba đều hội đủ điều kiện này. Tuy nhiên, đoạn 2,18-22 được chọn vì đáp ứng cả ba tiêu chí để trở thành điểm đối xứng của cả bốn câu truyện:

Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?" Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được. Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì như vậy, miếng vá mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách lại càng rách thêm. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới!"” (2,18-22)

Đây là trình thuật về ý nghĩa của việc ăn chay. Phần quan trọng nhất trong trình thuật này là phần phát biểu cái ý tưởng quán xuyến cả bốn câu truyện. Ý tưởng đó được diễn tả bằng dụ ngôn “mới đi với cũ”.

Áo cũ và bầu da cũ tượng trưng cho những người lãnh đạo ôm khư khư lấy truyền thống không chấp nhận vải mới và rượu mới mà Đức Giêsu mang lại. Khi hiểu ý nghĩa dụ ngôn này, ta lập tức thấy ý nghĩa đó có liên hệ rất mật thiết với cả bốn câu truyện:

  1. Đức Giêsu và/hoặc các môn đệ làm một điều gì đó mà những luật sĩ và biệt phái với tinh thần vụ luật và hủ lậu không chấp nhận; và
  2. Đức Giêsu “phản pháo”, vạch rõ sai lầm trong lối suy nghĩ của họ.

Thực ra, cấu trúc đối ngẫu tréo trong Mác-cô không chỉ có thế, mà còn bàng bạc, hiện diện trong những cấp độ cao hơn (cấp “vĩ mô”: macro-chiasm) lẫn thấp hơn (cấp “vi mô”: micro-chiasm). Để làm rõ cái ý này, ta quy ước gọi bốn câu truyện Đức Giê-su chữa người bại liệt, Đức Giê-su dùng bữa với những người tội lỗi, các môn đệ bứt lúa và Đức Giê-su chữa người bại tay là A, B, B’ và A’. Ta có cấu trúc như thế này:

A B (Ý TRUNG TÂM) B' A'

Nhìn vào giữa A và B, giữa B' và A' ta lại có thể tìm thấy cấu trúc đối ngẫu tréo. Ta liền nhớ lại ba đoạn văn diễn ý trung tâm của bốn câu truyện mà ta chỉ mới nhặt ra mỗi một đoạn. Hai đoạn kia làm trung tâm cho những cấu trúc đối ngẫu tréo nhỏ hơn, và rồi đến lượt hai câu truyện A và A’, mỗi truyện lại đều có những yếu tố mang tính đối ngẫu tréo.

A(a(1 ytt 1')) (ý trung tâm) B(a') (Ý TRUNG TÂM) B'(a) (ý trung tâm) A' (a' (1 ytt 1'))

Cả hai truyện A và B (người bại liệt và ăn uống với người tội lỗi) đều có nét chung là nói về mối quan hệ giữa Đức Giê-su với người khác (Đức Giê-su làm “giao tế nhân sự PR”). Nhìn vào bên trong câu truyện:

“Đức Giê-su lại đi ra bờ biển hồ. Toàn thể dân chúng đến với Người, và Người dạy dỗ họ. Đi ngang qua trạm thu thuế, Người thấy ông Lê-vi là con ông An-phê, đang ngồi ở đó. Người bảo ông: "Anh hãy theo tôi!" Ông đứng dậy đi theo Người” (2,13-14).

để tìm ý trung tâm/điểm đối xứng, ta thấy đó là câu 2,14. Câu này không những kể cho ta nghe Đức Giê-su kêu gọi mọi người mà còn bảo ta cần đáp lại tiếng gọi ấy ra sao. Với cách làm tương tự như trên, ta thấy hai câu truyện B’ và A’ (môn đệ bứt lúa và người bị bại tay) đều xảy ra vào ngày sa-bát và bao hàm vấn đề ý nghĩa của lề luật và ngày sa-bát. Rồi ta lại tìm thấy một ý trung tâm và điểm đối xứng xuất hiện ở phía giữa hai câu truyện: "Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát[3]. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát" (2,27-28).

Những cấu trúc vừa trình bày chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể những cấu trúc đối ngẫu tréo của Tin Mừng Mác-cô. Có thể nói cả cuốn Tin Mừng là một đối ngẫu tréo xoáy quanh đoạn trung tâm Mc 8,27-30:

“Đức Giê-su và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp-phê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ: "Người ta nói Thầy là ai?" Các ông đáp: "Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó." Người lại hỏi các ông: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" Ông Phê-rô trả lời: "Thầy là Đấng Ki-tô." Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người”.

Đến đây, ta thấy rất rõ: dù cho từ vựng và ngữ pháp của Mác-cô đơn giản, nhưng sự đơn giản ấy ẩn chứa cả một ý nghĩa sâu xa bên dưới. Ý nghĩa này chỉ được khám phá ra một khi đã hiểu được cấu trúc đối ngẫu tréo sử dụng trong Tin Mừng Mác-cô.

Nói một cách hình tượng, ta vừa mới nhào lặn xuống nước và khám phá ra một chút gì ở bên dưới phần nổi của tảng băng Tin Mừng Mác-cô. Biết thêm được một điều gì đó, đặc biệt là Lời Chúa, là điều rất tốt. Thế nhưng mục đích cuối cùng của việc học không phải là lo thu tích kiến thức, mà là hành động. Vậy, ta sẽ làm gì với “Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1) mà ta đã lãnh nhận? Đức Giêsu là ai đối với ta? Theo cách nói của Hamlet trong vở kịch cùng tên của văn hào Anh Shakespeare thì đó mới là vấn đề – và là vấn đề quan trọng nhất mà mọi Kitô hữu phải tự đặt ra cho mình để rồi tìm cách trả lời bằng chính cả cuộc đời của mình.

Đan Quang Tâm

Tài liệu tham khảo:

“Chiasm in the Gospel of Mark”, Ricky Robertson, www.andrews.edu


[1] Linh mục Tanila Hoàng Đắc Ánh, Bài giảng chủ nhật và đại lễ Tin Mừng theo Thánh Mác-cô, Học Viện Đa Minh, 2002, tr.5.

[2] Linh mục Nguyễn Thế Thuấn, Thánh Kinh Tân Ước, Nhà Sách Đức Mẹ, Sài Gòn, 1969, tr. 140.

[3] Bản thân câu “Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát” cũng có một đối ngẫu tréo bên trong, giống như câu nói rất nổi tiếng của Cicero cách đây 2.500 năm “Ăn để sống chứ không phải sống để ăn” hoặc câu nói gần đây hơn đối với ta của cố Tổng thống Kennedy “Các bạn thanh niên, xin đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho mình, mà hãy tự hỏi mình đã làm gì cho tổ quốc”.