|
"Trước hết chúng ta sẽ thử bày tỏ chân lý mà đức tin tuyên xưng và lý trí nghiên cứu, đưa ra luận chứng và lý lẽ có tiềm năng, như thế chân lý có thể được xác nhận và kẻ chống đối bị thuyết phục."
Tôma Aquinas, Summa Contra Gentiles
rong các chương trước đây, chúng ta đã thấy làm thế nào Kitô Giáo khuôn đúc cốt lõi văn minh Tây Phương, gọt dũa các tư tưởng và thể chế mà chúng tồn tại trên hai ngàn năm. Trong vài chương tới, tôi sẽ khảo sát sự tương quan giữa Kitô Giáo và khoa học. Đặt biệt, tôi sẽ để ý đến sự tương phản nội tại giữa hai điều này; các văn gia vô thần thường đưa ra hình ảnh một cuộc chiến liên tục giữa hai bên. Sam Harris viết, sự mâu thuẫn có "tổng số là zêrô." E.O. Wilson tuyên bố nó là một kẻ thù "không hòa giải được", và truyền thông đại chúng hết hơi quảng cáo chủ đề cuộc chiến này, như tờ Time đăng ngay ngoài bìa số 13 tháng Mười Một, 2006, "Thiên Chúa đấu với Khoa Học".
Tuy nhiên khoa học là một công việc có tổ chức và được duy trì chỉ phát sinh một lần trong lịch sử loài người. Và nó phát sinh từ đâu? Ở Âu Châu, trong nền văn minh được gọi là Thế Giới Kitô Giáo. Tại sao khoa học hiện đại lại được phát sinh ở đây chứ không ở nơi khác? Trong bài diễn văn ngày 12 tháng Chín, 2006 tại Regensburg, nước Đức, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI lý luận rằng đó chính là nhờ Kitô Giáo nhấn mạnh đến sự quan trọng của lý trí. Đức giáo hoàng lý luận rằng lý trí là nét chính yếu để phân biệt Kitô Giáo. Trong khi bài nói chuyện ở Regensburg đưa đến sự tranh luận bởi vì sự nhận xét của đức giáo hoàng về Hồi Giáo, quan điểm của người về Kitô Giáo và lý trí thì rất đúng. Một cái nhìn không thiên vị về lịch sử của khoa học cho thấy khoa học hiện đại là một phát minh của Kitô Giáo thời trung cổ, và những khám phá vĩ đại trong khoa học phần lớn là công trình của Kitô Hữu.
Trước khi có tôn giáo như chúng ta hiểu, đã có thuyết duy linh, được dựa trên ý tưởng của một vũ trụ huyền hoặc. Từng con sông, từng cái cây, và từng hòn đá đều được cho rằng có thần linh chiếm đóng. Thế giới thật huyền bí, thất thường, không thể tiên đoán, và không thể kiểm soát được. Sau đó là các tôn giáo đa thần, tỉ như tôn giáo của người Babylon, người Ai Cập, và Hy Lạp. Mỗi tôn giáo này thừa nhận các hữu thể linh thiêng—đôi khi bất tử, đôi khi không—là những người can dự vào sự vận chuyển của thiên nhiên hằng ngày, tạo nên bão tố và động đất, biến con người thành con nai, và vân vân. Sau đó xuất hiện các tôn giáo lớn ở Đông Phương, Ấn Giáo và Phật Giáo, theo sau là các tôn giáo độc thần, Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo.
Trong những tôn giáo này, chỉ có một tôn giáo—Kitô Giáo—là dựa trên lý trí ngay từ ban đầu. Do Thái Giáo và Hồi Giáo chính yếu là những tôn giáo của lề luật; có một đấng ban ra lề luật và có thế lực trên thiên nhiên và con người. Trong trường hợp Do Thái Giáo, các sắc lệnh này được áp dụng chính yếu cho tuyển dân của Chúa, là người Do Thái. Trong trường hợp Hồi Giáo, lề luật được áp dụng cho mọi người. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, luật lệ được Thiên Chúa mặc khải và con người phải tuân theo. Cả người Hồi lẫn Do Thái có thể tranh luận rộng rãi, nhưng chỉ hạn chế trong cách giải thích và áp dụng lề luật. Ngược lại, Kitô Giáo thì không phải là một tôn giáo của lề luật nhưng một tôn giáo của tín điều. Kitô Giáo thường bận tâm với học thuyết, được coi là những điều tin tưởng thực sự về sự tương giao của con người với Thiên Chúa.
Triết gia Ernest Fortin viết rằng, trong khi kỷ luật cao nhất trong Do Thái Giáo và Hồi Giáo là tuân thủ lề luật, kỷ luật cao nhất trong Kitô Giáo là thần học. Các thần học gia Kitô Giáo có trách nhiệm dùng lý trí để tìm hiểu đường lối của Thiên Chúa. Trong Ấn Giáo và Phật Giáo không có thần học gia bởi vì con người không được mời gọi để tìm hiểu mục đích của Thượng Đế theo phương cách này.
Nhưng một thần học gia thì có ích gì? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này bằng cách nhìn đến Augustine, một giáo phụ. Augustine đối diện với một vấn đề thần học nghiêm trọng và sâu xa: Trước hôm nay đã có hôm qua, và trước hôm qua đã có hôm kia, và vân vân. Nhưng làm sao có thể được? Có phải một chuỗi hôm qua kéo dài vô tận vào quá khứ không? Nếu vậy, làm thế nào mà Thiên Chúa tạo dựng một vũ trụ luôn luôn hiện hữu? Nếu không, phải có một khởi đầu, nhưng trước đó là gì? Nếu vũ trụ được Thiên Chúa dựng nên thì Thiên Chúa làm gì trước khi tạo dựng vũ trụ?
Với những vấn nạn này, Augustine đã đưa ra một câu trả lời thật kinh ngạc mà dường như trước đó chưa bao giờ có: Thiên Chúa tạo nên thời gian cùng lúc với vũ trụ. Nói cách khác, "trước" khi có vũ trụ thì chưa có thời gian. Vũ trụ thì giống như một chu trình, nó có thể hoặc không thể giãn rộng mãi mãi về phía trước hay phía sau theo thời gian. Nhưng Thiên Chúa đứng bên ngoài chu trình này, và đó là điều chúng ta muốn nói Thiên Chúa thì "vĩnh cửu." Vĩnh cửu không có nghĩa "tiếp tục mãi mãi"; nó có nghĩa "đứng ngoài thời gian". Hãy để ý rằng Augustine không đưa ra một suy đoán thần học lờ mờ. Người đưa ra một luận điệu hoàn toàn phản trực giác về bản chất của vật thể. Ngày nay, nhờ khoa vật lý hiện đại và thiên văn học, chúng ta biết Augustine nói đúng; thời gian là một thuộc tính của vũ trụ, và thời gian xuất hiện cùng lúc với vũ trụ. Sự suy nghĩ của Augustine về bản chất của thời gian, hoàn toàn được phát sinh qua lý luận thần học, là một trong những hiểu biết sâu sắc nhất của lịch sử tư tưởng.
Để hiểu Kitô Hữu lý luận thế nào về Thiên Chúa, tôi muốn đưa ra hai lý lẽ nổi tiếng về sự hiện hữu của Thiên Chúa và dùng sự sắc bén của các nhà tư tưởng Kitô Hữu thời xưa để chống với những người vô thần hiện nay. Đầu tiên là lý lẽ của Aquinas dựa trên quan hệ nhân qủa. Aquinas lý luận rằng mọi hậu quả đòi hỏi một nguyên nhân, và vì vậy trên thế giới này không có gì là nguyên nhân của chính sự hiện hữu của nó. Bất cứ khi nào bạn gặp điều A, nó phải được gây ra bởi B. Nhưng rồi B phải được giải thích, vì vậy chúng ta có thể nói là nó được gây nên bởi C. Aquinas nói rằng, việc truy lùng nguyên nhân không thể tiếp tục vô tận, bởi vì nếu như vậy thì không có gì được hiện hữu. Do đó ngay từ ban đầu phải có một nguyên nhân gốc chịu trách nhiệm cho một chuỗi hậu qủa. Với nguyên nhân đầu tiên này chúng ta gọi là Thiên Chúa.
Các nhà vô thần nổi tiếng không lấy làm cảm kích. Sam Harris viết, "Nếu Thiên Chúa tạo nên vũ trụ thì cái gì tạo nên Thiên Chúa?" Quan điểm của ông được lập lại bởi một vài văn gia vô thần khác: Richard Dawkins, Christopher Hitchens, Carl Sagan, Steven Weinberg. Họ nêu ra vấn đề nghịch hành vô tận. Đúng, phải có một chuỗi nhân qủa, nhưng tại sao nó phải chấm dứt với Thiên Chúa? Tại sao nó không thể tiếp tục mãi mãi? Dawkins nói thêm rằng chỉ một Thiên Chúa phức tạp mới có thể tạo nên một phức tạp như vũ trụ, và chúng ta không thể giải thích được một hình thức phức tạp không thể giải thích (là vũ trụ) bằng cách hướng về một hình thức phức tạp không thể giải thích lớn lao hơn nữa (là Thiên Chúa). Hậu quả là Dawkins kết luận rằng "câu trả lời của người hữu thần thực sự thất bại" và ông thấy "không có cách nào khác để bác bỏ."
Tuy nhiên, ưu điểm của lý lẽ Aquinas thì không phải rằng mọi chu trình phải có một khởi đầu, nhưng là mọi chu trình, để hiện hữu, phải tùy thuộc vào điều gì đó ở bên ngoài chu trình ấy. Vì mọi sự phải có một nguyên nhân, vậy ai là nguyên nhân của Thiên Chúa, nói như vậy không phải là đã bác bỏ được. Lý lẽ của Aquinas không giả sử rằng mọi sự cần một nguyên nhân, mà chỉ nói rằng mọi sự hiện hữu trong vũ trụ thì cần một nguyên nhân. Sự chuyển động và tính cách ngẫu nhiên của thế giới không thể không có sự giải thích tối hậu. Vì Thiên Chúa ở ngoài vũ trụ. Người không thuộc về chuỗi biến động này. Do đó các quy luật của chu trình, kể cả quy luật nhân quả, sẽ không áp dụng cho Người.
Hãy nghĩ về Thiên Chúa như tác giả của cuốn tiểu thuyết. Các biến cố trong truyện có một vài liên hệ và hợp lý. Điều gì đó xảy ra ở đầu câu chuyện sẽ tạo nên sự khủng hoảng cho một nhân vật ở giữa câu chuyện. Các hành động của Raskolnikov trong cuốn "Crime and Punishment" (Tội Ác và Hình Phạt) của tác giả Dosteovsky đã gây nên cái chết cho một bà lão. Nhưng tác giả là nguyên nhân gây nên câu chuyện và ở mức độ hoàn toàn khác biệt. Quy tắc nhân quả áp dụng trong cuốn tiểu thuyết thì không áp dụng cho tác giả. Thật có lý để thắc mắc tại sao một nhân vật bỗng dưng xuất hiện, "Hắn từ đâu đến? Bạn giải thích thế nào về tên đó?" Tuy nhiên, trong hoàn cảnh này, thật không hợp lý để hỏi, "Ông Dosteovsky từ đâu đến? Bạn giải thích thế nào về ông ấy?" Tác giả đứng ngoài câu chuyện, và hành động sáng tạo của ông không thể được hiểu như một tình tiết trong câu chuyện.8 Qua sự tranh luận này, hiển nhiên là Harris và Dawkins không thể trả lời được lý lẽ của Aquinas.
Kế đến tôi xoay sang lý lẽ của Anselm về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Anselm bắt đầu một cách bất thường từ Thánh Vịnh 12:1, "Người ngu xuẩn tự nhủ rằng không có Thiên Chúa." Anselm muốn chứng tỏ rằng những ai từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa thì quả thật ngu xuẩn. Họ ngu xuẩn vì một khi hiểu được ý nghĩa của chữ Thiên Chúa, họ buộc phải tán thành với sự hiện hữu của Thiên Chúa. Anselm không nói đùa về điều này.
Không như lý lẽ có tính cách quy nạp của Aquinas, lý lẽ của Anselm thì thuần túy suy diễn và không dựa trên bất cứ dữ kiện nào nhờ kinh nghiệm. Anselm định nghĩa Thiên Chúa như "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến." Có thể đây là một định nghĩa hợp lý và được rộng rãi chấp nhận. Ngay cả người vô thần cũng không có khó khăn gì với định nghĩa này. Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng khái niệm về Thiên Chúa phải tương xứng với một hữu thể tối cao vượt quá giới hạn của sự tưởng tượng của chúng ta. Anselm nói tiếp khi chúng ta hiểu và chấp nhận định nghĩa này, chúng ta phải có một ý tưởng nào đó về Thiên Chúa trong đầu óc chúng ta. Thánh nhân không muốn nói đến một miêu tả có tính cách hình ảnh. Người chỉ muốn nói rằng tâm trí chúng ta hiểu khái niệm về Thiên Chúa như một tiềm năng hợp lý mà "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến."
Anselm nói, nếu điều này đúng thì Thiên Chúa phải hiện hữu. Chúng ta chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tại sao? Bởi vì nếu "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩa đến" có trong tâm trí thì điều đó cũng phải có trong thực tế. Lý do là vì, theo Anselm, để hiện hữu trong thực tế thì "vĩ đại hơn" chỉ hiện hữu trong tâm trí. Điều khả dĩ và có thật thì hiển nhiên cao hơn điều chỉ có trong sự khả dĩ. Anselm đưa thí dụ của một họa sĩ chân dung mà chân dung của ông, thực sự được vẽ ra, là hiện thực hóa một khả năng trực giác hay khái niệm có trong đầu ông; vì vậy bức tranh thật thì "vĩ đại hơn" khả năng trực giác hay khái niệm có trong đầu. Cũng vậy, để "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến" chu toàn định nghĩa của mình, nó phải hiện hữu. Nếu không nó sẽ là "sẽ có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến." Anselm cho rằng không những Thiên Chúa hiện hữu mà sự hiện hữu của Người còn tất yếu nữa. Nếu Người hiện hữu chỉ trong sự kiện và không bởi sự tất yếu, Người thực sự là một hữu thể vĩ đại, nhưng Người sẽ không là "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến."
Tôi đưa ra bằng cớ của Anselm không vì nó có sức thuyết phục ngay lập tức—chắc chắn chúng ta cảm thấy rằng Anselm đã tài tình đưa ra một lý luận thần học trong sự hùng biện—nhưng vì nó nổi tiếng là khó để bác bỏ. Descartes và Leibniz coi lý lẽ này có giá trị, và từ đó đưa ra những lý lẽ của mình. Tuy vậy, trong cuốn God Is Not Great, Christopher Hitchens tìm cách phơi bầy khuyết điểm của Anselm. Ông đưa thí dụ của một đứa trẻ trong truyện tiểu thuyết, nó được hỏi tại sao nó tin có con rồng. Đứa bé trả lời, "Nếu có chữ rồng, thì trước đây đã từng có con rồng." Hiển nhiên đây là lý luận trẻ con để phỏng đoán vật thể từ ý nghĩ về điều đó. Hitchens hân hoan rêu rao rằng lý lẽ của Anselm "đã bị đánh đổ."
Lý lẽ của Hitchens đầu tiên được đưa ra bởi người cùng thời với Anselm, một tu sĩ tên Gaunilo, và lý lẽ của Gaunilo thì có ảnh hưởng hơn Hitchens nhiều. Gaunilo tố cáo Anselm là đã hoán chuyển bất hợp pháp từ một ý niệm sang sự tồn tại. Quan điểm của Gaunilo cho rằng chỉ vì chúng ta có thể tưởng tượng những điều không thật, tỉ như con kỳ lân, người cá, và chó bay thì điều đó không có nghĩa là các tạo vật này hiện hữu. Anselm trả lời Gaunilo bằng cách vạch ra rằng lý lẽ về bản thể học của ông không nói rằng bất cứ gì chúng ta có thể tưởng tượng trong đầu thì tất yếu hiện hữu. Lý lẽ này chỉ nhấn mạnh rằng "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến" hiện hữu và hiện hữu cách tất yếu. Nói cách khác, Anselm chỉ đưa ra luận điệu trong một trường hợp đặc biệt. Chính nhân vật mà "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến" phải hiện hữu cách tất yếu: không có gì trong định nghĩa về con kỳ lân và con chó bay mà làm cho nó hiện hữu, đừng nói chi đến sự hiện hữu tất yếu.
Còn có những sự phản đối khác với Anselm, và tôi không có ý định thảo luận ở đây. Điều tôi muốn nói là thần học cho thấy kết quả của sự hoạt động của lý lẽ ở mức độ cao, và người ta không thể bỏ qua các lý lẽ này như nhiều người vô thần, dù bạn không đồng ý với các lý lẽ ấy. Hãy nghĩ đến nhiều lý lẽ nổi tiếng trong triết học, tỉ như, lý lẽ của Locke về quyền tư hữu hay lý lẽ của Wittgenstein về sự khả dĩ của một ngôn ngữ riêng. Dù chúng ta có coi các lý lẽ này thành công hay không, thật khó để cho rằng chúng phi lý. Đúng hơn, chúng đại diện cho những luận điệu thật hợp lý về bản chất của thực tại.
Với Aquinas và Anselm cũng vậy. Khi chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, họ không cầu viện đến mặc khải siêu nhiên. Lý lẽ của họ chỉ dựa trên lý trí. Dĩ nhiên, họ sống trong một khung cảnh khác biệt về lịch sử và triết học hơn chúng ta bây giờ, bởi thế các lý lẽ của họ cần được cập nhật hóa để có sức thuyết phục. Và khi chúng được tái phát biểu theo thuật ngữ hiện đại, chúng có sức thuyết phục. Như bạn thấy, tôi có ý định đưa ra lý lẽ tương tự như của Aquinas trong một chương sau đây về nguồn gốc của vũ trụ. Điểm tôi muốn nói là kiểu lý luận về Thiên Chúa mà chúng ta thấy nơi Augustine, Aquinas, và Anselm thì đặc thù Kitô Giáo. Trong bất cứ tôn giáo nào khác, rất ít loại này. Và thật rõ rệt, từ lý lẽ khoa học hiện đại được phát sinh.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|