Cau Xin Me

PALEY NÓI ĐÚNG: SỰ TIẾN HÓA VÀ LÝ LUẬN PHÁT SINH TỪ HOẠCH ĐỊNH

"Giao ước cũ là các mảnh vụn. Sau cùng con người biết rằng nó cô độc trong sự bao la tàn nhẫn của vũ trụ, mà từ đó nó xuất hiện bởi tình cờ"

Jacques Monod, Chance and Necessity

T

rong cuốn Natural Theology (Thần Học Tự Nhiên) được phát hành năm 1802, tác giả là thần học gia Anh Giáo, William Paley, đã đưa ra điều được coi là một lý luận không thể bác bẻ trên một thế kỷ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Paley viết, "Khi đi ngang cây thạch nam, giả sử chân tôi va phải một hòn đá, và nếu được hỏi làm thế nào hòn đá lại ở chỗ ấy, tôi có thể trả lời là nó đã ở đó tự bao giờ." Nhưng Paley viết tiếp, giả sử "tôi tìm thấy chiếc đồng hồ trên mặt đất. Thật khó mà nghĩ đến câu trả lời như ở trên." Điểm Paley muốn nói là bạn không cần phải là một thợ đồng hồ để thấy rằng chiếc đồng hồ đã được thiết kế như vậy. Có thể bạn không biết ai đã làm nên nó, nhưng bạn biết ai đó đã làm ra đồng hồ ấy. Paley tiếp tục cho thấy trái đất và sự sống thành hình như thế nào, kể cả con người, với các chi tiết vô cùng phức tạp, chứng tỏ trong sự hình thành của chúng có dấu ấn của sự thiết kế không thể chối cãi. Ông kết luận sự thiết kế như vậy chứng tỏ sự hiện diện của một thiết kế gia mà có thể được coi là "thợ đồng hồ" thần thánh của sự tạo dựng.

Khoảng hai thập niên trước, nhà sinh vật học Richard Dawkins phát hành cuốn sách của ông, The Blind Watchmaker (Thợ Đồng Hồ Mù), trong đó ông khẳng định rằng Paley "sai lầm một cách vẻ vang và dứt khoát." Dawkins lý luận rằng Charles Darwin đã khám phá ra một phương cách để thiên nhiên tạo ra dáng vẻ của sự thiết kế--phải, ngay cả những thiết kế chi li và phức tạp—mà không cần đến sự can thiệp của đấng tạo hóa. Dawkins tuyên bố rằng "tiến trình bất định, vô tình, tự động" của sự lựa chọn tự nhiên "giải thích cho sự hiện diện và hình thức có chủ đích hiển nhiên của mọi sự sống… Đó là thợ đồng hồ mù."

Lý luận của Dawkins—được chấp nhận rộng rãi bởi các nhà sinh vật học—từng được ca ngợi như một bác bỏ quyết liệt đối với lý luận từ sự thiết kế, một trong những lý luận cổ xưa nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nhiều nhà sinh vật học hàng đầu hiện nay hiểu và dậy về sự tiến hóa theo đúng các giới hạn này. Họ coi sự tiến hóa như xói mòn lý luận về Thiên Chúa và làm mất uy tín ý tưởng của Kitô Giáo là con người được tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Các quan điểm này, giờ đây là một phần của văn hóa chúng ta. Trong cuốn Revolution in Science (Cách Mạng trong Khoa Học), một cuốn nói về ảnh hưởng của khoa học trong lịch sử, Bernard Cohen nhận xét rằng "cuộc cách mạng của Darwin nghe như hồi chuông báo tử của bất cứ lý luận nào về sự thiết kế trong vũ trụ hay trong thiên nhiên." Trong một bài báo mới đây đăng trong tờ Harper's, David Quammen cho rằng nhờ Darwin mà có được một "ý tưởng thật đáng sợ trái với… toàn bộ tin tưởng đạo đức về nhân loại được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa." Và Michael Shermer, nhà phát hành báo Skeptic, tiêu biểu cho nhiều người trước đây là Kitô Hữu nhưng mất đức tin khi chấp nhận quan điểm tiến hóa của Darwin.

Công chúng Hoa Kỳ còn lờ mờ về tiến hóa. Một cuộc thăm dò của Gallup vào tháng Hai 2001 cho thấy 45 phần trăm những người được hỏi đồng ý rằng "Thiên Chúa dựng nên con người rất giống như hình dáng hiện nay tại một thời điểm nào đó". Các cuộc thăm dò tương tự trên hai thập niên qua cho thấy không có sự thay đổi đáng kể trong quan điểm của quần chúng. Các con số này làm nhiều khoa học gia bàng hoàng và đau khổ. Nó sẽ là một vấn đề nếu một vài người thô lỗ, được H. L. Mencken gọi là "người quê mùa ngu dốt từ trạng thái con bò," bướng bỉnh chống với sự tiến hóa. Một số những người này chưa chịu chấp nhận là trái đất hình tròn. Nhưng hầu như đến nửa dân số Hoa Kỳ! Nhiều khoa học gia và các người khác bầy tỏ sự thất bại của họ rằng quá nhiều "người theo thuyết sáng tạo" từ chối không chấp nhận những khám phá của khoa học hiện đại.

Người theo thuyết sáng tạo có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau. Hầu hết họ hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen, họ tin một cách không dè dặt rằng Thiên Chúa dựng nên trái đất và muôn vật trong sáu ngày. Một niềm tin rất rõ rệt của người theo thuyết sáng tạo là trái đất chỉ lâu có sáu ngàn năm—điều này không luôn luôn được đồng ý bởi những người thuộc nhóm thứ nhất. Con số này được tính toán từ phả hệ trong Kinh Thánh. Nhiều người theo thuyết sáng tạo chống đối sự tiến hóa với một cường độ dữ dội, bởi vì họ sợ rằng nếu một phần của Kinh Thánh bị minh chứng là sai thì không còn gì có thể tin được. Tôi tôn trọng sự tận tụy và hăng say về nhân cách của những người theo thuyết sáng tạo, tuy tôi không đồng ý với cách họ đọc Kinh Thánh hay cách nhìn các chứng cớ khoa học. Hơn thế nữa, sự lo ngại rộng lớn về thuyết Darwin trong nền văn hóa thì không chỉ là một sản phẩm của thuyết sáng tạo.

Người ta nói rằng bà vợ của một nhà quý tộc Luân Đôn, khi được cho biết là Darwin nói rằng loài người xuất phát từ tạo vật giống như đười ươi, bà đã thốt lên, "Anh ơi, hãy hy vọng là điều đó không đúng sự thật, nhưng nếu thật như vậy, hãy cầu xin để nhiều người không biết điều đó." Bà này đã đưa ra một thắc mắc thú vị: khi dậy cho con người biết rằng họ không hơn gì một con vật thì điều đó có ý nghĩa gì đối con người? Có thể ông chồng bắt đầu hành động như một con vật! Hãy nghĩ đến một ý tưởng không an tâm sau đây. Nếu người hàng xóm dùng vũ lực lẻn vào nhà bạn, giết hay đánh đập bạn, sau đó kéo con gái bạn về nhà họ để hãm hiếp, thì hầu hết mọi người đều coi đó là sự vi phạm trắng trợn. Nhưng trong thế giới loài vật, loại đối xử đó thì thông thường, tự nhiên và được mong đợi.

Chúng ta biết rằng trên một nửa thế kỷ, những người theo thuyết Darwin dùng các ý tưởng về sự "chọn lựa tự nhiên" và "sự sống còn của những gì thích hợp nhất" để biện minh cho các chính sách kỳ thị và dã man tỉ như ưu sinh (eugenic), luật bài trừ người di dân, và buộc phải vô hiệu hóa khả năng sinh sản. William Jennings Bryan—một nhà tôn giáo bảo thủ và cũng là chính trị gia cấp tiến—đã bênh vực cho lý tưởng thuyết sáng tạo trong vụ án Scopes phần lớn là vì ông ghê tởm chính sách này. Các người bênh vực thuyết tiến hóa ngày nay thường mau mắn lên tiếng là nhóm Darwin bóp méo sống sượng thuyết Darwin. Như một trong các giáo sư đồng môn của tôi đã nói, "Họ dùng khoa học cho mục đích ý thức hệ. Đó không phải là điều xảy ra ngày nay."

Nhưng đúng là vậy. Theo nhà sinh vật học Francisco Ayala, Darwin "đã hoàn thành cuộc Cách Mạng của Copernicus… Darwin khám phá rằng các sinh vật có thể được giải thích như một kết quả của tiến trình tự nhiên—sự chọn lựa tự nhiên—mà không cầu viện đến Tạo Hóa." Nhà sinh vật học E. O. Wilson viết, "Nếu nhân loại tiến hóa theo sự chọn lựa tự nhiên của Darwin, sự may rủi về di truyền và điều tất yếu của môi sinh, thì không phải Thiên Chúa dựng nên muôn loài." Nhà sinh vật học Stephen Jay Gould nêu lên sự tiến hóa để cho thấy rằng "không có thần khí âu yếm can thiệp nhìn đến công việc của thiên nhiên… bất cứ gì chúng ta nghĩ về Thiên Chúa, sự hiện diện của người không được thể hiện trong các sản phẩm của thiên nhiên."  Douglas Futuyma khẳng định trong cuốn sách của ông Evolutionary Biology, "Khi sự thay đổi gián tiếp, không có mục đích được liên kết với một tiến trình bất định, bất cần của sự lựa chọn tự nhiên, Darwin đã làm cho những giải thích có tính cách thần học hay tinh thần về tiến trình sự sống trở nên vô dụng." Nhà sinh vật học William Provine rêu rao rằng "sự tiến hóa là phương tiện vĩ đại nhất của chủ thuyết vô thần."

Như thế trong thuyết Darwin có động lực bài trừ tôn giáo, và đây là lý do chính mà nhiều người Hoa Kỳ không muốn chấp nhận. Họ coi thuyết Darwin như thuyết vô thần giả dạng khoa học. Họ còn nghi ngờ rằng thuyết Darwin đang được sử dụng để làm suy yếu tôn giáo và luân lý truyền thống. Nhiều phụ huynh lo rằng con cái họ khi lên đại học là những tín hữu Kitô tử tế nhưng khi tốt nghiệp chúng là những người không có đức tin và theo chủ thuyết luân lý tương đối. Như chúng ta thấy trong các đoạn trích ở trên, những lo lắng về thuyết Darwin hiện nay thì không phải không đúng. Trong một phương cách, thuyết tiến hóa được đề cao và giảng dậy ngày nay dường như để cổ vũ một chương trình xã hội mà nó bài trừ tôn giáo và phi luân lý.

Nhưng sự tiến hóa có trái ngược với những điều giảng dậy trong Kinh Thánh không? Chúng ta hãy thận trọng nhìn lại những gì được viết trong Sáng Thế Ký. Trong chương 2 câu 7, "Đức Chúa tạo nên người đàn ông từ bụi đất và thổi hơi sự sống vào mũi hắn." Ngay ở đây chúng ta thấy một điều quan trọng: Kinh Thánh nói rằng vũ trụ được tạo nên từ hư không nhưng không nói con người được tạo nên từ hư không. Đúng hơn, Kinh Thánh nói con người được dựng nên từ chất liệu có sẵn trong thiên nhiên. "Ngươi là đất và sẽ trở về bụi đất." Như thế Kinh Thánh thật phù hợp với ý tưởng rằng con người được tạo thành bởi các nguyên tử và phân tử và chia sẻ cùng chất DNA được tìm thấy trong sâu bọ, cá mập, và khỉ.

Tuy nhiên, sự thật thì câu chuyện tạo dựng trong Sáng Thế Ký không giúp chúng ta khám phá thấy rằng khoảng 98 phần trăm chất DNA của con người thì chung với loài khỉ. Trong cuốn Descent of Man (Nguồn Gốc Con Người), Darwin viết "con người… vẫn mang trong thân xác dấu ấn không thể tẩy xóa của nguồn gốc thấp kém của nó." Sự chống đối của chúng ta không phải về phương diện tôn giáo; nhưng chính vì chúng ta cảm thấy sự cách biệt hiển nhiên giữa chúng ta và loài khỉ. Dĩ nhiên Darwin không nói rằng loài người là miêu duệ của loài khỉ, nhưng chỉ nói rằng loài khỉ và loài người có cùng một tổ tiên. Bất kể lý thuyết này có giá trị gì, không có lý do gì để tẩy chay nó trên căn bản Kinh Thánh. Tín hữu Kitô, kể từ thời trung cổ đã đồng ý với Aristotle rằng con người là con vật—một "con vật có lý trí", nhưng vẫn là một con vật.

Theo Kinh Thánh, điều làm cho con người khác biệt là vì Thiên Chúa thổi linh hồn bất tử vào nó. Như vậy, không có trở ngại thần học khi coi thân xác con người xuất phát từ tạo vật khác. Kinh Thánh nhấn mạnh đến quyết định của Thiên Chúa. "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh của chúng ta." Kitô hữu luôn luôn hiểu Thiên Chúa là thần khí hơn là một thực thể vật chất. Hậu quả là nếu con người được dựng nên "giống như" Thiên Chúa, sự tương tự đó hiển nhiên không về phần thể chất. Trong cuốn The Third Chimpanzee, Jared Diamond đề cập đến con người như "cao hơn con khỉ được tôn vinh," ông đã vô tình nói lên điểm của Kitô Giáo. Có lẽ chúng ta có cùng tổ tiên với loài vật, nhưng chúng ta là loài vật được tôn vinh.

Nhưng có phải sự chống đối thuyết tiến hóa của Darwin chính yếu là từ người có tôn giáo, nhất là Kitô Hữu? Thực sự thì không. Người Ấn Giáo, Do Thái Giáo, và Hồi Giáo không bao giờ có trở ngại với sự tiến hóa vì họ luôn hiểu câu chuyện tạo dựng như các dụ ngôn. Sử gia Gertrude Himmelfarb viết, khi Darwin công bố cuốn Origin of Species (Nguồn Gốc Các Loài), một nhóm tẩy chay thuyết tiến hóa vì cho rằng nó làm suy yếu Kitô Giáo, và một nhóm khác lại nắm lấy cũng chính vì lý do ấy. Người bảo vệ hàng đầu thuyết Darwin, Thomas Henry Huxley là tay gan lì trí thức, thuộc về nhóm thứ hai. Là một người từ lâu ghét bỏ giáo hội Công Giáo, ông thú nhận rằng lý thuyết mới này hấp dẫn vì ông thấy nó sẽ làm hao mòn học thuyết của giáo hội. "Một trong những giá trị lớn lao nhất của nó trong mắt tôi là nó chiếm một vị thế đối lập triệt để và không thể hòa hợp đối với… giáo hội Công Giáo."

Nhưng những "không thể hòa hợp" này, như Himmelfard đã gọi, thì không đáng kể đối với sự chống đối của các nhóm khác: các khoa học gia nêu lên những chối đối ngoài tôn giáo đối với thuyết Darwin và người có tôn giáo không thấy có sự xung khắc giữa sự tiến hóa và Kitô Giáo. Thật ra có những chống đối về trí thức đối với sự lựa chọn tự nhiên được nêu lên bởi nhà tự nhiên học Anh là Richard Owen và nhà động vật học của Harvard là Louis Agassiz. Ernst Mayr, một người bênh vực thuyết tiến hóa từ lâu, viết rằng khi Darwin công bố Origin of Species "thực sự ông không có một mẩu chứng cớ rõ ràng cho sự thật của sự lựa chọn tự nhiên." Một người hâm mộ Darwin khác, Jonathan Weiner, nhìn nhận rằng bất kể tựa đề của sách, cuốn của Darwin "không trưng dẫn tài liệu về nguồn gốc của một loại nào cả."

Sau đó có vấn đề về tuổi của trái đất. Vật lý gia nổi tiếng là Lord Kevin công bố những tính toán về nhiệt động lực cho thấy trái đất thì quá "trẻ" để có thời gian tiến hóa xảy ra phù hợp với quy tắc của Darwin. Hóa ra Kevin sai lầm vì các vật lý gia thời bấy giờ chưa khám phá ra năng lực phóng xạ và quy trình hạch nhân để tạo ra năng lượng và sức nóng, kéo dài tiến trình nguội dần của trái đất. Ngày nay chúng ta biết tuổi của trái đất vào khoảng 4.5 tỉ năm, đủ thời giờ cho sự lựa chọn tự nhiên để tạo ra các biến đổi của nó. Nhưng Darwin và các khoa học gia cùng thời đã không biết điều đó. Các vật lý gia giỏi nhất thời ấy dường như không hợp với thuyết Darwin.

Ngay cả như vậy, nhiều Kitô Hữu đứng về phía Darwin. Tờ Dublin Review, một tờ báo Công Giáo có nhiều ảnh hưởng, ca ngợi cuốn sách của Darwin trong khi đưa ra một vài chống đối nhỏ. Người hỗ trợ Darwin hàng đầu ở Hoa Kỳ là nhà sinh vật học của Harvard là Asa Gray, nhìn thấy sự tiến hóa không phải là từ chối sự tạo dựng của Thiên Chúa nhưng là một tài liệu minh chứng về cách thực hiện của Người. Chính Darwin viết rằng sự giải thích của Gray "làm tôi hài lòng nhất, và tôi không nghĩ có ai nhìn thấy điểm ấy." Nhưng không bao lâu họ đã thấy, và trong nhiều năm, một số người bảo vệ Darwin nổi tiếng nhất, tỉ như Theodosius Dobzhansky và R. A. Fisher, là Kitô Hữu. Trong khi một số nhỏ Kitô Hữu cho rằng sự tiến hóa là một lạc giáo, hầu hết các nhà lãnh đạo Kitô Giáo tìm cách hòa hợp thuyết Darwin với câu chuyện tạo dựng trong Kinh Thánh. Chính Darwin là một người theo thuyết bất khả tri, nhưng khi từ trần, ông được chôn trong Tu Viện Westminster với sự đồng ý của Giáo Hội Anh Giáo. Một vài năm trước đây, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đưa giáo hội Công Giáo gần hơn với thuyết tiến hóa khi tuyên bố rằng nó "không chỉ là một giả thuyết." Nhà biện giáo C. S. Lewis không có trở ngại với thuyết này. Và một vài nhà tiến hóa nổi tiếng thời nay, tỉ như nhà sinh vật học Kenneth Miller và nhà di truyền học Francis Collins, là những tín hữu Kitô tốt lành.

Vậy, chúng ta đưa ra kết luận gì về cuộc chiến sôi nổi giữa người theo Darwin và người chống Darwin, trong tòa án cũng như trong truyền thông? Hiện thời có một phái tư tưởng được gọi là "intelligent design" (hoạch định có ý thức [thức định]). Các khuôn mặt dẫn đầu là William Dembski, Jonathan Wells, Michael Behe, và Philip Johnson. Được huấn luyện trong các ngành toán học, sinh hóa, và luật, những người này thì hoàn toàn khác với "người theo thuyết tạo dựng." Và họ nêu ra các câu hỏi quan trọng: Làm thế nào để giải thích sự phức tạp của con mắt? Tại sao lại có một "bùng nổ" ra những hình thể mới của sự sống, hoàn toàn không thấy trước trong dữ kiện hóa thạch, trong thời kỳ Cambria? Bất kể một quá trình kinh nghiệm lâu dài, những người cấy giống không thể cấy ghép với loài khác để tạo nên một loài mới, như vậy làm thế nào sự biến đổi tình cờ lại đạt được điều mà sự cẩn thận cấy ghép với loài khác lại thường thất bại? Trong khi hồ sơ hóa thạch cho thấy chứng cớ của sự tiến hóa tiểu ly (microevolution) (một loại chim này biến hóa thành loại chim khác), còn chứng cớ của sự tiến hóa vĩ mô đâu (macroevolution)?

Các nhà phê bình đưa ra một số yếu điểm của thuyết tiến hóa. Dữ kiện hóa thạch thì chưa đủ, như chính Darwin nhìn nhận. Các nhà sinh vật học thay phiên nhau tranh luận về điều gì đã gây nên sự "bùng nổ" Cambrian, và có nhiều lý thuyết trái ngược nhau và vẫn còn nhiều điều cần phải khám phá. Ngược lại, các nhà sinh vật học cho biết là sự phức tạp của con mắt có thể tiến hóa và đã từng tiến hóa từ các hình thể đơn thuần hơn của tế bào nhậy sáng (light sensitive cell)—thực sự chỉ trong vài trường hợp độc lập. Một khi thấy được trong một loài có rất nhiều thay đổi, thật không khó để thấy rằng sự tiến hóa có thể gây nên sự thay đổi từ loài này sang loài khác. Đó có phải là sự phóng đại để tin rằng con sư tử và con cọp được tiến hóa từ một tổ chung, dù không cách chi thấy được tiến trình này xảy ra? Tôi không phải là nhà sinh vật học, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các nhà sinh vật học trên thế giới đều chấp nhận thuyết tiến hóa. Trong khi cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn, dường như điều mà nhóm thức định cổ võ thì không chắc đúng và toàn thể nhà sinh vật học thì sai. Hãy để ý đến hai nhà sinh vật học Kitô Giáo hàng đầu nói về sự tiến hóa. Kenneth Miller viết, "Tiến hóa là một dữ kiện như bất cứ gì chúng ta biết trong khoa học." và Theodosius Dobzhansky tuyên bố thật hay, "Không có gì trong ngành sinh vật học có ý nghĩa ngoại trừ trong ánh sáng tiến hóa."

Sức mạnh lớn lao của sự tiến hóa như một lý thuyết khoa học là nó có ý nghĩa về hai dữ kiện to lớn về đời sống. Một đằng, mọi sinh vật từ cây cối cho đến thú vật, con người, tất cả đều được hình thành từ cùng một nguồn vật chất. Ngoài điều này, hiển nhiên là có nhiều nhóm sinh vật cho thấy cùng các đặc tính. Như vậy có sự hợp nhất đối với sự sống. Đồng thời, các tạo vật cho thấy sự đa dạng không thể tin được. Thật vậy có hàng triệu loài với các đặc tính vô cùng thay đổi. Sự tiến hóa là lý do cho sự tương đồng và cả sự khác biệt. Nó giải thích cho các đặc tính chung bằng cách thừa nhận rằng các tạo vật có cùng một tổ tiên. Nó giải thích sự khác biệt bằng cách cho rằng các tạo vật tiến hóa sang một hướng mới sau một thời gian lâu dài dưới áp lực của sự sinh tồn.

Một trong những chứng cớ mạnh mẽ nhất của sự tiến hóa là dữ kiện địa chất, vì tất cả cho thấy một hướng bất biến. Những tảng đá xưa nhất chỉ có các tạo vật đơn bào (single-celled). Địa tầng sau này cho thấy sự hiện diện của các loài không xương sống. Sau đó, đầu tiên chúng ta thấy cá, rồi loài lưỡng cư (trên cạn và dưới nước), rồi loài bò sát, và sau cùng các động vật có vú. Loài người xuất hiện sau cùng. Nếu lý thuyết Darwin chính xác, người ta sẽ tìm thấy các dữ kiện hóa thạch đúng ở những chỗ và đúng vào thời điểm mà người ta mong đợi. Không một dữ kiện hóa thạch nào được tìm thấy ở một nơi mà nó được mong đợi ở đó. Nếu chúng ta tìm thấy dữ kiện hóa thạch của một loài bò sát trong một cục đá thật xưa đến độ cá chưa xuất hiện, hoặc nếu chúng ta tìm thấy xương người ở vào thời điểm mà khủng long đang sống, thì thuyết Darwin sẽ bị chứng tỏ là sai và các nhà sinh vật học phải nghĩ ra một lý thuyết mới.

Cho đến khi điều này xảy ra—và tôi không nghĩ là sẽ xảy ra—sự tiến hóa vẫn là nguyên do hay nhất và có sức thuyết phục nhất về nguồn gốc chúng ta. Không thể chối bỏ sức mạnh giải thích của lý thuyết. Sự tiến hóa qua sự lựa chọn tự nhiên giúp chúng ta giải thích tại sao thuốc trừ sâu bọ và thuốc kháng sinh thường dẫn đến việc sâu bọ và vi khuẩn phát triển thành giống mới chống lại nỗ lực của con người muốn tiêu diệt chúng. Nói cách khác, chúng tiến hóa. Nếu không có sự tiến hóa, thật không dễ để hiểu các đặc tính của sinh vật mà dường như được thiết kế nghèo nàn hoặc không có mục đích gì rõ rệt. Chúng ta thấy con rắn với đôi chân nhỏ xíu được giấu dưới lớp da, và những con bọ có cánh mà không biết bay. Loài người chúng ta có ruột thừa không cần thiết. Làm thế nào để giải thích các cơ phận còn sót này? Sự tiến hóa nói rằng chính là vì rắn, con bọ không bay, và loài người, tất cả được bắt nguồn từ các tạo vật mà chúng cần các cơ phận này để sinh tồn.

Tuy vậy, sự tiến hóa vẫn là một lý thuyết với những giới hạn hiển nhiên. Khi Dawkins đặt tiêu đề cho cuốn sách của ông, "How the Evidence of Evolution Reveals a Universe Without Design" (Làm thế nào chứng cớ của sự tiến hóa cho thấy một vũ trụ không có sự hoạch định), ông không để ý đến những giới hạn này. Khi Dennett nêu lên sự tiến hóa như một giải thích đa năng trong ngành vũ trụ, tâm lý, văn hóa, đạo đức, chính trị, và tôn giáo, ông cũng đi quá xa ra ngoài chứng cớ. Ở đây, chúng ta phải phân biệt giữa các khía cạnh có tính cách kinh nghiệm và lý thuyết của sự tiến hóa. Dawkins và Dennett là các người theo Darwin có tính cách lý thuyết. Nhà sinh vật học Stephen Jay Gould có lần đặt tên cho họ là "Darwinian fundamentalists" (người theo giáo điều Darwin). Ông đã chê trách họ, tôi cũng vậy, vì dùng một lý thuyết rất mạnh mẽ nhưng rất hạn chế để giải thích cho hiện tượng hoàn toàn nằm bên ngoài lãnh vực sinh vật học. Hãy để ý đến ba đặc tính lớn lao của sự sống mà sự tiến hóa không thể giải thích được.

Sự tiến hóa không thể giải thích được khởi đầu của sự sống. Darwin đã không dám thử giải thích. Ông thừa nhận lúc đầu đã có sự sống, và sau đó ông tìm cách chứng minh làm thế nào một sinh vật có thể biến đổi sang sinh vật khác. Năm 1953 có một sự phấn khởi đáng kể khi Stanley Miller đã tạo ra axít amin bằng cách cho luồng điện chạy qua một hợp chất gồm nước, hydrô, mêtan, và ammônia. Sự phấn khởi này tắt ngúm khi sau đó người ta thấy rằng khí quyển của trái đất lúc nguyên thủy hầu hết được tạo thành bởi khí carbon và ammônia. Như thế, kinh nghiệm của Miller không thích hợp để giải thích việc sự sống phát sinh từ sự vô sinh qua một chuỗi tác động tình cờ của hóa chất. Hơn thế nữa, sự sống bao gồm nhiều điều hơn là chỉ có sự phát sinh axít amin. Trở ngại chính là làm thế nào để các hóa chất đơn thuần như axít amin tạo ra được các chất đạm và các yếu tố căn bản khác của sự sống. Nguồn gốc sự sống, như nhà sinh vật học Franklin Harold thú nhận, là một trong "những bí ẩn chưa được giải quyết trong khoa học."

Tế bào đơn giản nhất là một trong những cơ cấu phức tạp nhất trên trái đất, trong đó nó chứa đựng nhiều dữ kiện hơn cả những bộ bách khoa tự điển. Richard Dawkins viết, "mã di truyền (genetic code) thì thực sự có số bộ, rất giống như mã số máy điện toán." Như Dawkins cho thấy, mỗi một phân tử DNA là một tính toán trong mã sinh hóa (biochemical code) với khả năng bên trong để chuyển biến và tái tạo. Harold nhận xét rằng ngay cả một tế bào vi khuẩn "cho thấy các mức độ của sự cân đối và phức tạp thật đầy dẫy ở mức độ lớn lao" so với bất cứ gì tìm thấy trong thế giới vô sinh. Ngoài ra, "Một tế bào chứa đựng một nhất thể trọn vẹn, một đơn vị của sự sống, trong một ý nghĩa sâu đậm hơn: giống như các chân và lá của các sinh vật cao hơn, các phân tử của nó góp phần cho các chức năng… Phân tử là những phần của một hệ tổng hợp, và trong khả năng đó, có thể nói là phục vụ các hoạt động của tế bào như một tổng thể."

Nói cách khác, tế bào cho thấy dấu vết rõ ràng của sự hoạch định. Thật vô cùng quan trọng để nhận biết rằng mẫu căn bản của sự sống này, với mọi cơ cấu phức tạp của RNA và DNA, được thiết lập đầy đủ đã đến với sự xuất hiện đầu tiên của sự sống. Sự tiến hóa thừa nhận rằng các tế bào có khả năng này. Và các khoa học gia tìm thấy rằng vết tích đầu tiên của sự sống đã có từ 3.5 đến 4 tỉ năm, chỉ một thời gian ngắn sau khi trái đất được thành hình. Có hợp lý để cho rằng sự tổng hợp tình cờ của các hóa chất đã có thể tạo nên một điều vô cùng phức tạp và đầy đủ chức năng như một tế bào sống động hay không? Điều đó giống như cho rằng sự tổng hợp tình cờ của các nguyên tử có thể tự ráp lại với nhau thành chiếc phi cơ. Dawkins viết, "Dù nguồn gốc sự sống không chắc chắn đi nữa," nó đã phải xảy ra theo kiểu cách này "vì chúng ta sống ở đây." Cần phải có nhiều đức tin để tin vào những điều như vậy.

Sự tiến hóa cũng không thể giải thích được ý thức, mà nhờ ý thức chúng ta biết được toàn thể thế giới. Là con người, chúng ta biết rằng chúng ta có ý thức. Các tạo vật khác, tỉ như con chó, cũng dường như có ý thức, tuy có lẽ không cùng một phương cách như chúng ta. Dường như không thể tin được là các nguyên tử hydrô, carbon, oxy, và vân vân có thể tạo ra cho chúng ta khả năng lĩnh hội và cảm nghiệm được thế giới chung quanh chúng ta. Như vậy, sự tiến hóa giải thích gì cho ý thức? Nó ban cho những ích lợi gì? Làm thế nào một sự sống vô thức lại biến đổi thành sự sống có ý thức? Nhà khoa học về nhận thức Steven Pinker thú nhận là không thể giải thích được. Trong cuốn How the Mind Works (Cách Tâm trí Hoạt Động), ông viết "Hiển nhiên người ta không biết gì về chức năng li ti của bộ óc… Sự hiện diện của chủ thể mà người đầu tiên cảm nhận thì không thể giải thích bằng khoa học." Do đó, vấn đề mà Daniel Dennett "giải quyết" bằng cách tuyên bố rằng ý thức là một ảo tưởng nhận thức, nó thực sự là một trở ngại.

Sau cùng, sự tiến hóa không thể giải thích lẽ phải hay luân lý của con người. Điểm này đầu tiên được đưa ra bởi Alfred Russel Wallace, người cùng đề nghị với Darwin thuyết tiến hóa qua sự lựa chọn tự nhiên. Tôi không muốn bị hiểu lầm ở đây. Sự tiến hóa có thể giải thích tại sao kích thước bộ óc lớn hơn và khả năng sinh tồn cho những tạo vật có bộ óc lớn hơn. Nhưng lẽ phải (sự hợp lý) là điều gì đó cao hơn điều này. Sự hợp lý là khả năng nhận biết điều gì đó là sự thật. Chúng ta có thể bao gồm trong sự hợp lý khả năng độc đáo của con người về ngôn ngữ, nó là khả năng để phát biểu có hệ thống và lưu loát những ý tưởng hiểu biết về thế giới chung quanh chúng ta. Con người trong các nền văn hóa sơ khai phát triển ngôn ngữ như một phương tiện của sự hợp lý, trong khi con mèo không thể thốt ra một câu. Sự tiến hóa có thể giải thích làm thế nào các tạo vật hình thành các đặc điểm giúp cho sự sống còn. Như Steven Pinker đã viết, "Đầu óc chúng ta được khuôn đúc cho sự thích hợp, chứ không phải chân lý." Như vậy, loài người chúng ta có được khả năng này ở đâu để suy đoán không chỉ những gì giúp loài người tiếp nối trong các thế hệ sắp tới, nhưng còn hiểu được những gì xảy ra trong thế giới? Nói cách khác, giá trị sinh tồn của chân lý là gì? Triết gia Michael Ruse, một người theo thuyết Darwin, thú nhận rằng "không ai, chắc chắn không phải là thuyết Darwin, có thể trả lời được câu hỏi này."

Con người không chỉ có khả năng hợp lý nhưng còn luân lý. Trong cuốn Descent of Man, Darwin thú nhận rằng "trong những khác biệt giữa con người và các loài vật thấp hơn, ý thức luân lý hay lương tâm là điều quan trọng nhất." Luân lý nói với chúng ta trong một tiếng khác biệt: không phải những gì chúng ta thi hành nhưng những gì chúng ta phải thi hành. Bình thường, luân lý ép buộc chúng ta phải hành động trái với tư lợi hiển nhiên. Nó thúc giục chúng ta đừng nói dối dù khi có lợi cho chúng ta và giúp đỡ tha nhân dù họ là người lạ. Trong một chương sau này, tôi sẽ đề cập đến làm thế nào các nhà tiến hóa tìm cách giải thích tính cách luân lý theo ngôn từ của Darwin. Ở đây tôi sẽ nói vài điều mà hầu hết họ đồng ý: có nhiều sự suy đoán được phát minh nhưng không có một giải thích nào có tính cách tiến hóa có thể giải thích được các khả năng căn bản của con người.

Bạn có thấy tại sao sự ngạo mạn của những người phò Darwin như Dennett và Dawkins thì hoàn toàn sai chỗ không? Những người này dường như nghĩ rằng họ được trang bị với loại lý thuyết tinh thông nào đó để có thể giải thích đầy đủ về vũ trụ, và vị trí của chúng ta ở trong đó. Tuy nhiên, thuyết tiến hóa của họ không thể giải thích được nguồn gốc của sự sống, nguồn gốc của ý thức, hay nguồn gốc của sự hợp lý và luân lý của con người. Bất cứ lý thuyết nào không thể giải thích được các giai đoạn quan trọng này thì không thể cho rằng đã giải quyết được vấn nạn các nguồn gốc, dù là sự sống hay vũ trụ. Nó chỉ có thể có công làm sáng tỏ một số biến chuyển. Sự tiến hóa dường như chỉ đúng trong một giới hạn, nhưng nó không thể đi xa hơn.

Rất đúng là một ngày nào đó, khoa học sẽ cung cấp cho chúng ta câu trả lời hay hơn. Tôi không đưa ra loại lý luận hàm hồ cho rằng vì khoa học không thể giải thích được thì đích thật là Thiên Chúa đã làm điều ấy. Nhưng tôi cũng không muốn chìm trong loại "vô thần của khoảng cách" cho rằng ngay cả khi không có sự giải thích, chúng ta phải tin rằng sẽ có một sự giải thích tự nhiên. Phải, khoa học đã có những bước tiến thật vĩ đại trong việc giải thích một số điều nhưng trong các lãnh vực khác khoa học chưa đạt được sự tiến bộ kể từ thời Babylon. Ước đoán tốt nhất của chúng ta là chấp nhận những gì chúng ta biết cho đến nay, và dựa theo đó đưa ra kết luận. Cho đến bây giờ, sự tiến hóa là một lý thuyết hữu ích nhưng không thể giải thích cho loại sự sống mà chúng ta đang có trong thế giới.

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với những điều rêu rao của Dawkins và những người khác rằng thuyết tiến hóa của Darwin đã tiêu diệt được lý luận của Paley về sự hoạch định. Thực sự, lý luận của Paley chưa bao giờ bị bác bẻ. Tôi không nói về chi tiết đặc biệt mà Paley đưa ra, nhưng về trường hợp tổng quát của ông về sự hoạch định. Thực sự trường hợp đó ngày nay còn mạnh mẽ hơn khi Paley đưa ra cách đây hai thế kỷ.

Dawkins thì quá mù quáng vì thành kiến chống tôn giáo để thấy được điều đó, nhưng lý luận của ông trong cuốn The Blind Watchmaker thực sự hỗ trợ cho lý lẽ về sự hoạch định. Để thấy lý do, hãy nghĩ đến thí dụ về máy điện toán. Một máy điện toán thì giống như chiếc đồng hồ của Paley: nó hiển nhiên cho thấy sự hoạch định. Không ai có thể dám chắc rằng máy điện toán "được tiến hóa" cách nào đó qua những động lực của sự lựa chọn tự nhiên. Ai đó đã làm ra nó và ai đó đã lập trình (program) nó. Bây giờ hãy giả sử rằng đây không phải là trường hợp về một loại "software" nào đó. Hãy giả sử rằng "software" này hoạt động trong một kiểu "open source" (tự do). Nó chấp nhận những thay đổi bất ngờ và bằng cách nào đó các lập trình thích ứng và hữu dụng đã tồn tại. Hãy thừa nhận rằng tiến trình ở đây là có tính cách tiến hóa; nó không được ai dẫn dắt cả. Câu hỏi của tôi là: có thể nào sự tiến hóa trong trường hợp của "software" này làm suy yếu tính cách hoạch định của máy điện toán không? Hiển nhiên là không. "Software" có thể biến đổi nhưng ai đó đã làm ra máy điện toán và thiết kế trong đó một lập trình ngay tự đầu.

Bây giờ hãy áp dụng sự tương tự này vào vũ trụ. Trong các chương trước tôi đã đưa ra chứng cớ mạnh mẽ rằng vũ trụ là sản phẩm của sự hoạch định. Vũ trụ không thể tiến hóa qua sự lựa chọn tự nhiên, khi vũ trụ làm thành toàn thể thiên nhiên. Ai đó đã làm ra vũ trụ và quy định các luật lệ để ảnh hưởng đến sự hoạt động của vũ trụ. Bây giờ trong vũ trụ có biết bao hình thể sự sống mà chúng tương đương với các "software" trong sự loại suy của chúng ta. Những hình thể sự sống này là sản phẩm của sự tiến hóa và Darwin cùng những người kế tiếp đã giải thích được các kiểu biến hóa. Nhưng sự tiến hóa không thể giải thích được nguồn gốc của vũ trụ và các quy luật của nó. Vậy làm thế nào sự tiến hóa có thể bỏ qua sự lý luận về hoạch định vì nó áp dụng cho chính vũ trụ và các quy luật điều hành nó? Hiển nhiên là không thể. Trong trường hợp này, như với máy điện toán, sự tiến hóa chỉ là một phần nên không thể bác bỏ sự hoạch định của toàn thể. Chứng cớ không thể chối cãi là ai đó đã hoạch định toàn thể sự kiện.

Nếu các quy luật của vật lý không được điều chỉnh một cách tinh vi để phù hợp với nguyên tắc hướng nhân, các hành tinh như mặt trời sẽ không cháy một cách từ từ và nhất định như hiện thời, để sự sống tổng quát—nhất là sự sống con người--có thời giờ tiến hóa. Chính sự tiến hóa buộc phải có một thiết kế nhân vũ trụ tinh vi. John Barrow và Frank Tipler lý luận rằng vật lý học đã cung cấp một "lý luận về hoạch định mới rất đáng kể tương tự như điều được Paley đưa ra." Các nhà sinh vật học nào nhấn mạnh rằng sự tiến hóa hoạt động theo các quy tắc của thời gian và tình cờ, họ thường quên rằng nó cũng lệ thuộc các quy luật của một vũ trụ mà không phải là sản phẩm của thời gian và tình cờ. Ngay cả nếu Thiên Chúa không gạt bỏ các luật tự nhiên để giúp cho loài người phát sinh, ai là người lập trình các tế bào với mã số? Ai ban cho nó khả năng để tự sinh sản? Ai làm nên vũ trụ với các quy luật để có thể tạo ra giống người? Đâu là câu trả lời sau cùng cho lý do tại sao thực tại lại được cấu tạo theo kiểu cách này?

Vật lý gia Stephen Barr viết:

Khi cẩn thận khảo sát, những miêu tả khoa học về các tiến trình thiên nhiên thì không bao giờ thấy sự thứ tự phát sinh từ sự hỗn độn, hay hình thể phát sinh từ vô hình thể. Ngược lại, chúng luôn luôn cho thấy một thứ tự đã tàng ẩn trong bản chất các sự vật, tuy thường trong một phương cách bí ẩn và giấu kín. Khi chúng ta thấy những hoàn cảnh có vẻ bừa bãi, hay những vật có vẻ vô định hình, tự động hay tự nhiên "sắp xếp" thành các khuôn khổ có thứ tự, điều chúng ta thấy trong từng trường hợp là những gì dường như bừa bãi thì thực sự đã có một thứ tự lớn lao ở trong đó… Điều Dawkins dường như không cảm kích là thợ đồng hồ mù của ông thì đáng kể hơn đồng hồ của Paley. Paley tìm thấy một "đồng hồ" và tự hỏi làm thế nào nó xuất hiện ở đó một cách tình cờ. Dawkins tìm thấy một nhà máy tự động bao la mà đã mù quáng tạo nên đồng hồ, và ông cảm thấy rằng ông đã thực sự trả lời điểm của Paley. Nhưng đó là điều lố bịch. Làm thế nào một nhà máy tạo nên đồng hồ lại không cần giải thích hơn là chính các đồng hồ?

Để một loại sự sống tiến hóa sang một loại khác thì có thể gán cho các động lực mù quáng trong thiên nhiên, nhưng nguyên tắc hướng nhân ám chỉ rằng các động lực này được thành hình một cách có tính toán, có mục đích, với ý hướng tạo nên các vật thể sống động mà các nhà sinh vật học đã thiển cận giả sử rằng chúng ở đây bởi sự tình cờ. Nói rằng mỏ con chim sẻ và mầu sắc của con bướm và mắt của con người tất cả đều được tiến hóa bởi sự tình cờ, đó là một chuyện. Nhưng vũ trụ đã tạo ra chim sẻ, con bướm, và con người thì hiển nhiên là kết quả của một sự hoạch định có ý định và sáng tạo. Như thế việc Dawkins "bài bác" Paley đã thất bại một cách vẻ vang và hoàn toàn. Paley thì đúng từ đầu đến cuối.

Từ tất cả những điều này, hiển nhiên, vấn đề không phải là sự tiến hóa. Vấn đề là ở thuyết Darwin. Sự tiến hóa là một lý thuyết khoa học. Thuyết Darwin là một lập trường siêu hình và một ý thức hệ chính trị. Thật vậy, thuyết Darwin là sự thêu dệt vô thần dựa trên thuyết tiến hóa. Là một lý thuyết, sự tiến hóa thì không chống đối tôn giáo. Thay vì bác bỏ sự hoạch định, sự tiến hóa thực sự tiết lộ kiểu cách mà sự hoạch định được xảy ra. Nhưng người vô thần liên tục dùng thuyết Darwin và ảo tưởng của thợ đồng hồ mù để làm suy yếu đức tin nơi Thiên Chúa. Nhiều khoa học gia đã bị điều khiển bởi thủ đoạn vô thần này. Họ đã vô tình để mình rơi từ sự tiến hóa vào thuyết Darwin. Vì vậy họ trở nên con cờ thí của chương trình vô thần.

Tín hữu Kitô không nên sợ cuộc tranh luận về tiến hóa, bởi vì không có gì trong đó đe dọa đức tin của chúng ta. Lập trường của Kitô Hữu là Thiên Chúa đấng tạo nên vũ trụ và mọi sự trong đó, và sự tranh luận về tiến hóa là làm thế nào những thay đổi này xảy ra. Với Kitô Hữu, cuộc tranh luận về sự tiến hóa sẽ đi đến sự ganh đua lý thuyết về phương cách mà Thiên Chúa đã tạo ra vũ trụ. Quan điểm của tôi là Kitô Hữu và các tín đồ khác phải nắm lấy thuyết tiến hóa trong khi phản đối thuyết Darwin. Người hữu thần phải là quán quân khoa học trong khi cùng lúc vạch trần phương cách mà trong đó ý tưởng của Darwin bị thao túng về ý thức hệ, giống như cách đây một thế kỷ bởi tổ chức Darwin. Chính sự quảng bá ý thức hệ này được giả dạng khoa học là điều phải tranh đấu ở trong lớp. Sự tiến hóa phải được giảng dậy, nhưng không dính dáng đến sự siêu hình của thuyết Darwin. Thay vì kiện cáo để dậy các lý thuyết về sự tạo dựng và sự thức định (intelligent design) ở trong lớp, Kitô Hữu phải kiện tụng để tẩy chay kiểu giải thích vô thần của Darwin. Qua sự tiến hóa, được hiểu cách đúng đắn, Kitô Hữu có thể xác nhận rằng sách thiên nhiên và sách thánh không mâu thuẫn. Thật vậy, cả hai xác nhận một vũ trụ và các tạo vật là sản phẩm của một sự hoạch định siêu nhiên và sự tạo dựng thần thánh.

Dinesh D'Souza

(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)