|
"Không có chuyện khoa học phi triết học. Chỉ có khoa học mà triết lý được đưa vào cách bừa bãi."
Daniel Dannett, Darwin's Dangerous Idea
ã đến lúc phải đặt vấn đề nghiêm trọng với sự hiểu biết của chúng ta về khoa học hiện đại. Vấn đề không phải với chính khoa học hiện đại, nhưng đúng hơn với một quan điểm sai lầm về khoa học: ý tưởng cho rằng khoa học là một khuôn khổ đầy đủ để hiểu biết về con người và vũ trụ, bởi thế những gì không phải là khoa học đều tự động bị tẩy chay. Tuy phương cách tiếp cận với kiến thức này được đưa ra như một bản tóm lược hợp lý, tôi muốn cho thấy nó hoàn toàn vô lý. Nó giống như cố gắng tìm hiểu một vụ giết người chỉ dùng đến quy tắc vật lý và hóa học. Tuy những quy tắc đó không thể bỏ qua để tìm hiểu xem khẩu súng nào đã được dùng đến, và nạn nhân đã chết được bao lâu khi tìm thấy xác, chúng ta phải nhìn đến khía cạnh khác để khám phá ra các yếu tố quan trọng tỉ như tại sao tên sát nhân lại làm điều đó. Trong chương này chúng ta sẽ thấy tại sao việc cố gắng giải thích mọi sự một cách khoa học thì chưa đủ và ngay cả vô lý. Những người vô thần theo đuổi phương pháp tiếp cận này thì thực sự là một trở ngại cho khoa học.
Các khoa học gia thường nghĩ về mình là những người theo lẽ phải. Họ cho rằng họ sẵn sàng đi theo con đường của chứng cớ bất kể nó dẫn đưa đến đâu. Thật vậy không có lãnh vực nào khác mà người ta tự khen ngợi mình nhiều về sự hợp lý biết chừng nào của họ, về các kết luận phù hợp nghiêm nhặt biết chừng nào với thử nghiệm và kinh nghiệm, và về những thành kiến được chước giảm biết chừng nào qua tiến trình dẫn chứng theo kinh nghiệm và sự phê bình của người đương thời. Lời rêu rao của Carl Sagan thì rất phổ thông: "Tại tâm điểm của khoa học là… một rộng mở đối với ý tưởng mới, bất kể nó kỳ lạ và khác thường như thế nào." Đó là thanh thế của khoa học trong văn hóa chúng ta mà những điều rêu rao này được chấp nhận rộng rãi.
Tuy nhiên thái độ thực sự của một số khoa học gia có thể là vô lý hiển nhiên. Các khoa học gia hàng đầu đôi khi ôm chầm lấy một kết luận mà chứng cớ của nó thật yếu ớt. Những người thức giả này trở nên căm phẫn khi kết luận của họ bị đặt vấn đề, và ngay cả lên án những người phê bình họ là kẻ thù của khoa học. Trong những trường hợp khác, các khoa học gia cho thấy họ không muốn chấp nhận các kết luận ngay cả khi có biết bao chứng cớ minh chứng điều đó. Thật vậy, họ khước từ vị thế hợp lý và muốn tự xếp mình đứng về phía lập trường vô lý mà hiển nhiên ít đáng tin cậy.
Một vài năm trước đây, văn gia khoa học nổi tiếng là John Maddox đã viết một bài trong Nature với tựa đề: "Down with the Big Bang" (Đả đảo Đại Thanh). Đây là một ngôn ngữ kỳ lạ của một khoa học gia. Hiển nhiên biến cố Đại Thanh đã xảy ra, nhưng Maddox cho thấy là ông ao ước nó đừng xảy ra. Không chỉ có một mình ông. Trong chương mười một, tôi trích lời diễn tả của Arthur Eddington về Đại Thanh như "ghê tởm." Eddington thú nhận ông ao ước tìm thấy "một lỗ tròn thực sự" để "cho phép sự tiến hóa của thời gian vô tận được khởi sự." Như vậy một trong những lý do chống đối biến cố Đại Thanh là để có chỗ cho thuyết tiến hóa.
Còn có những người khác. Vật lý gia Stephen Hawking giải thích tại sao phần lớn khoa học gia bị thu hút đến thuyết tình trạng cố định của nguồn gốc vũ trụ: "Do đó có một số toan tính để tránh đi đến kết luận rằng có một sự đại thanh… Nhiều người không thích với ý tưởng rằng thời gian có một khởi đầu, có lẽ vì nó thoáng cho thấy sự can thiệp của thần thánh." Steven Weinberg cũng có cùng quan điểm. Một số nhà vũ trụ học tán thành các lý thuyết bởi vì chúng "nhẹ nhàng tránh né vấn đề Sáng Thế."
Chính xác vấn đề này là gì? Nhà thiên văn học và vật lý học Lee Smolin viết rằng nếu vũ trụ khởi sự từ một điểm thời gian, điều này "mở cánh cửa cho tôn giáo trở lại." Viễn tượng này làm các khoa học gia thất kinh. "Có phải mọi sự hiểu biết khoa học của chúng ta về thế giới thực sự chỉ còn là một câu chuyện huyền thoại trong đó không có gì hiện hữu… cứu vãn được một số thần trí thiêng liêng, là đấng, muốn khởi sự một thế giới, chọn những điều kiện tiên khởi và sau đó đưa các vật thể vào sự hiện hữu chỉ bằng ý muốn?" Smolin viết thêm, "Đối với tôi, dường như chỉ có một danh từ duy nhất cho một quan sát viên như thế là Thiên Chúa, và theo các lập trường này, đó là lý thuyết bị chỉ trích là không có thực."
Ở đây chúng ta có các khoa học gia không muốn đóng đúng vai trò khoa học gia. Tại sao lại cần phải phản đối những gì được tìm thấy trong khoa vật lý hiện đại chỉ để sự tiến hóa có thời gian khởi sự? Tại sao lại quan trọng để tránh né "vấn đề Sáng Thế" hoặc tránh xa bất cứ lý thuyết nào đề nghị có bàn tay thần thánh trong vũ trụ? Nếu chứng cớ chỉ về hướng của một đấng tạo hóa, tại sao không đi theo hướng đó?
Douglas Erwin, một nhà cổ sinh vật học của viện Smithsonian Institution, trả lời phần nào, "Một trong những quy tắc của khoa học là không được có phép lạ," ông nói với tờ New York Times. "Đó là cơ sở căn bản của điều chúng tôi thi hành." Nhà sinh vật học Barry Palevitz có điểm tương tự. Ông viết, "Siêu nhiên thì tự động ngoài giới hạn của sự giải thích về thế giới tự nhiên."
Erwin và Palevitz thì rất đúng khi nói rằng có sự cấm cản phép lạ và siêu nhiên trong sự khám phá vũ trụ của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, lời tuyên bố của họ đưa ra câu hỏi thâm sâu hơn: tại sao phép lạ và siêu nhiên bị cho là ngoài ranh giới? Nếu một phi thuyền không gian chụp được những hình ảnh chưa bao giờ có của các vật thể trong không gian mà nó cho thấy GIAVÊ ĐÃ TẠO RA ĐIỀU NÀY, thì cộng đồng khoa học vẫn từ chối công nhận sự hiện hữu của một đấng tạo hóa siêu nhiên hay sao?
Phải, nó sẽ từ chối. Và lý do thì vừa đơn giản và vừa ngạc nhiên: khoa học hiện đại được đề ra để loại trừ một đấng hoạch định. Khoa học hiện đại trong tiến trình hoạt động ngày nay, điều thật độc đoán là mọi chứng cớ về Thiên Chúa thì trước nhất bị tẩy chay bởi khoa học. Ngay cả chứng cớ do kinh nghiệm thường được chấp nhận trong khoa học thì bị từ chối không cho lên tiếng. Bất kể chứng cớ có mạnh mẽ hay bền bỉ thế nào; các khoa học gia, hành động trong tư cách chuyên môn của họ, thì buộc phải lờ đi phép lạ. Lập trường của khoa học hiện đại thì không phải là không có phép lạ nhưng đúng ra là không cho có phép lạ.
Tất cả những điều này dường như thật ngạc nhiên, trong cái nhìn bằng cách nào khoa học đã phát triển từ các lãnh vực thần học và tổ chức Kitô Giáo, Copernicus, Kepler, Boyle, và nhiều người khác đã thấy sự tương hợp sâu đậm giữa khoa học và tôn giáo. Tuy nhiên, trong hơn một thế kỷ qua, dường như khoa học đã gạt bỏ điều được công nhận từ trước là vũ trụ phản ánh sự hợp lý của Thiên Chúa. Bây giờ các khoa học gia thường thú nhận tính cách trật tự của vũ trụ nhưng từ chối không muốn nghĩ đến nguồn gốc của sự trật tự đó. Một lý do của sự thay đổi này là phong trào tục hóa giới trí thức gia tăng kể từ giữa thế kỷ mười chín, một tiến trình được diễn tả bởi Christian Smith trong cuốn, The Secular Revolution (Cuộc Cách Mạng Tục Hóa).
Lý do khác là sự khám phá những bí ẩn không thể giải thích của vũ trụ, từng được gán cho Thiên Chúa, giờ đây có thể được giải thích theo khoa học. Ernst Mayr viết, "Cuộc cách mạng của Darwin không chỉ thay thế lý thuyết này với lý thuyết khác, nhưng đúng ra quan điểm thế giới mà trong đó siêu nhiên được chấp nhận như một sự giải thích bình thường và thích đáng được thay thế bằng một quan điểm thế giới mà trong đó không còn chỗ cho các động lực siêu nhiên." Hậu quả là khoa học trở nên một tập thể hoàn toàn trần tục, và điều này—thật kỳ lạ--tạo nên những khó khăn cho khoa học. Vì giới hạn sự chú ý đến một vài loại giải thích nào đó, khoa học hiện đại tự tách biệt khỏi các chân lý không tuân theo loại giải thích đó.
Chúng ta đã thấy một số vật lý gia hàng đầu không muốn nhìn nhận chứng cớ mạnh mẽ về nguồn gốc vũ trụ để tránh không muốn nghĩ đến đấng sáng tạo. Bây giờ chúng ta hãy để ý đến làm thế nào một số nhà sinh vật học nổi tiếng sẵn sàng nắm lấy chứng cớ yếu ớt của sự tiến hóa và giảm bớt sự can thiệp cần thiết của một thực thể linh thiêng vào tiến trình này. Nhà sinh vật học Franklin Harold biết rằng ngay cả các tế bào đơn giản nhất, sự hoạt động của nó thật phức tạp là dường nào, bởi vì ông viết sách về điều đó. Ông cũng biết sự tiến hóa giả sử rằng có sự hiện hữu của các tế bào đã hoàn toàn được thành lập với khả năng tự sinh sản. Như vậy, nguồn gốc của tế bào là gì? "Sự sống phát sinh ở trái đất này từ các vật thể vô sinh, bởi một loại phương thức tiến hóa nào đó." Làm thế nào Harold biết điều này? Ông thú nhận, "Đây không phải là một phát biểu có thể minh chứng bằng dữ kiện, nhưng là một thừa nhận". Một giả sử được hỗ trợ bởi điều gì? Harold không sợ để trả lời, "Nó không được hỗ trợ bởi bất cứ chứng cớ trực tiếp nào, hoặc cũng không có cái nào tương tự, nhưng nó phù hợp với chứng cớ mà chúng ta có."
Thực ra, tôi tìm thấy có người không đồng ý với sự giả định của Harold: Francis Crick, người đồng khám phá ra cấu trúc của DNA. Crick, cũng như Harold, nhìn nhận rằng nguồn gốc sự sống có vẻ là một phép lạ, vì cách cấu tạo phức tạp của tế bào và vì sự sống thật mau chóng xuất hiện trên trái đất sau khi được hình thành. Crick không thể đồng ý với Harold, Dawkins, và những người khác là những người nhìn nhận một cách vô tư rằng một loại hóa chất tổng hợp nào đó phải được minh chứng là đúng. Do đó Crick đưa ra một lý thuyết khác: những người lạ trong không gian đã đem sự sống đến trái đất từ một hành tinh khác! Thuyết này được nghiêm trọng đưa ra trong cuốn sách của Crick, Life Itself.
John Maddox thú nhận rằng khoa học không biết gì nhiều về sự tương quan giữa các mạch não bộ và ý thức của con người. Tuy vậy, ông khẳng định, "Một sự giải thích về trí tuệ, cũng giống như của não bộ, cuối cùng phải là một giải thích theo phương cách mà tế bào thần kinh hoạt động. Nói cho cùng, không có gì khác để giải thích." Nicholas Humphrey còn đi xa hơn nữa, "Là các khoa học gia, sự thừa nhận ngạc nhiên phải có của chúng ta là một số mức độ ý thức phải là một ảo tưởng." Hầu hết người ta thấy đây là một kết luận đáng kể, nhưng không phải Humphrey; nó là một "thừa nhận ngạc nhiên."
Viết trong cuốn The Blind Watchmaker, Richard Dawkins thú nhận rằng có những "khoảng cách biệt" quan trọng trong dữ kiện hóa thạch. Và rồi lý luận của ông có một đổi hướng lạ lùng. Nếu chúng ta coi trọng thuyết tiến hóa của Darwin, "Những khoảng cách biệt này, thay vì là những bất toàn khó chịu hay những bối rối khó xử, trở nên đúng như những gì chúng ta phải tích cực trông đợi". Nói cách khác, sự thiếu chứng cớ thì tự nó là minh chứng rằng lý thuyết ấy đúng. Điều này quá lạ thường đến độ người ta phải tự hỏi sự hiện diện của chứng cớ có thể làm gì với lý thuyết này. Liệu rằng một dữ kiện hóa thạch mà không có khoảng cách biệt sẽ là một minh chứng trái với sự tiến hóa của Darwin, như chúng ta nghe Dawkins và một số nhà sinh vật học mong đợi "một cách chính xác" và "tích cực" rằng loại chứng cớ như vậy phải không thể có?
Sau cùng Dawkins không cần giấu diếm khi nói, "Thuyết tiến hóa, bởi sự lựa chọn tự nhiên thì chỉ là một lý thuyết, chúng ta biết lý thuyết đó có thể giải thích về sự hiện diện của các cấu tạo phức tạp. Ngay cả khi không có chứng cớ, nó vẫn là lý thuyết tốt nhất hiện có." Đây là một thú nhận được tiết lộ. Steven Pinker có cùng quan điểm: "Vì không có cách nào khác, hầu như chúng ta phải chấp nhận sự lựa chọn tự nhiên là sự giải thích về sự sống trên hành tinh này dù không có chứng cớ về điều đó." Điểm của tôi thì không phải là từ chối chứng cớ về sự tiến hóa. Nó có, nhưng không đủ mạnh khiến quý vị tin tưởng bởi những tay quán quân về thuyết Darwin. Đó là vì những quán quân thuyết Darwin đã hoàn toàn mù quáng với những khuyết điểm trong thuyết này. Họ không thể ngay cả tưởng tượng rằng nó không đúng.
Đây là một mức độ giáo điều làm bối rối bất cứ người hữu thần nào. Ngay cả người tín hữu mạnh mẽ nhất cũng có thể tưởng tượng điều khả dĩ là không có Thiên Chúa. Vậy làm thế nào những tay quán quân về lý lẽ này lại chấp nhận một phương cách tiếp cận quá khép kín? Đó là sản phẩm của một thái độ triết lý mà nhiều người có nhưng không biết rằng mình có. Dawkins và nhiều người khác dường như ngây thơ nghĩ rằng họ là các ông tổ lý lẽ chỉ biết tuân theo các chứng cớ. Lý do họ bị lừa dối về thái độ triết lý đó là nó được ẩn giấu bên trong chính phương pháp tiếp cận khoa học.
Khoa học hiện đại dường như được dựa trên sự tin tưởng không lay chuyển về chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa tự nhiên là một học thuyết cho rằng tất cả thiên nhiên chỉ có vậy. Theo chủ nghĩa này, không có phép lạ cũng không có sức mạnh siêu nhiên. Bởi thế các phúc trình về siêu nhiên chỉ có thể được giải thích căn cứ vào tự nhiên. Chủ nghĩa duy vật là sự tin tưởng rằng thực thể vật chất là thực thể duy nhất. Không có sự tách biệt thực thể tâm trí hay tinh thần. Dĩ nhiên, người ta có ý thức và tư tưởng và có lẽ ngay cả cảm nghiệm tinh thần, nhưng điều này chỉ có thể hiểu là hoạt động của tế bào não trong bộ óc vật chất. Tâm trí và tinh thần được cho rằng chỉ là hiện tượng phụ của vật chất.
Hiện thời các triết thuyết này—chủ nghĩa tự nhiên và duy vật—chưa bao giờ được chứng minh. Thật vậy, chúng không thể minh chứng vì không thể nào chứng minh rằng thực thể vô hình không hiện diện. Chủ nghĩa tự nhiên và duy vật không phải là các kết luận khoa học; đúng hơn, chúng là các giả thuyết khoa học. Chúng không được khám phá trong thiên nhiên nhưng áp đặt lên thiên nhiên. Nói tóm, chúng là những điều phải tin.
Nhà sinh vật học Richard Lewontin viết:
Chúng ta đứng về phía khoa học bất kể kiểu cách vô lý của một số cơ cấu, bất kể sự thất bại để chu toàn nhiều hứa hẹn huê dạng về y tế và đời sống, bất kể sự dung thứ của cộng đồng khoa học vì những câu chuyện hão huyền, bởi vì chúng ta có một sự tin tưởng trước đó—một tin tưởng vào chủ nghĩa duy vật. Không phải là các phương pháp và tổ chức khoa học bằng cách nào đó đã thu hút chúng ta chấp nhận một sự giải thích vật chất về hiện tượng thế giới, nhưng, ngược lại, chúng ta bị ép buộc bởi một sự tin tưởng từ trước đối với vật chất tạo thành một dụng cụ điều tra và một bộ ý niệm mà nó tạo ra những giải thích vật chất, bất kể có phản trực giác, bất kể điều không quen ấy khó hiểu. Hơn thế nữa, chủ nghĩa duy vật thì tuyệt đối, vì chúng ta không cho phép một Bàn Chân Thần Thánh ở cánh cửa.
Và bạn nghĩ rằng tôi bịa đặt ra điều ấy!
Vậy có phải khoa học có tính cách vô thần tự bên trong? Ở đây chúng ta phải phân biệt hai loại chủ nghĩa vô thần. Loại thứ nhất là chủ nghĩa vô thần theo thủ tục hoặc theo phương pháp. Điều này có nghĩa các khoa học gia làm việc với giả sử rằng chúng ta sống trong một thế giới tự nhiên, vật chất. Trong lãnh vực này, phép lạ bị cấm đoán, không bởi vì chúng không thể xảy ra, nhưng vì khoa học là sự tìm kiếm những giải thích tự nhiên. Bởi thế, cũng vậy, tâm trí và linh hồn phải được nghiên cứu về phương diện vật chất, không vì chúng thuần túy là hiện tượng vật chất, nhưng vì công việc của khoa học là chỉ để khảo sát các ảnh hưởng vật chất của những điều phi vật chất.
Trong thủ tục này hay nghĩa hẹp này, quả thật khoa học thì vô thần. Và điều này không trở ngại, vì chúng ta không muốn các khoa học gia khi gặp những điều khó khăn đã bỏ cuộc và nói, "Tôi không điều tra thêm nữa. Tôi chỉ coi đó là một phép lạ." Lịch sử cho thấy việc tìm cách giải thích thiên nhiên có thể đem lại các kết quả tuyệt vời. Nhà vật lý học Paul Davies rất đúng khi viết, "dù một sự kiện xảy ra có kinh ngạc và không thể giải thích đi nữa, chúng ta không bao giờ tuyệt đối chắc chắn là ở một thời điểm tương lai xa xôi nào đó, người ta sẽ khám phá ra một hiện tượng tự nhiên để giải thích điều đó." Dĩ nhiên không có lý do để tin rằng bất cứ gì được dựa trên sự mong đợi của những khám phá khoa học tương lai mà nó chưa xảy ra. Ngay cả vậy, có nhiều ích lợi để các khoa học gia thi hành công việc của họ và khảo sát thế giới trong chiều kích tự nhiên và vật chất.
Có nhiều khoa học gia có đức tin là những người không thấy khó khăn để làm việc trong lãnh vực vô thần theo thủ tục và đồng thời vẫn giữ đức tin của mình. Nhà sinh vật học Francis Collins nói rằng là một nhà sinh vật học, ông nghiên cứu những giải thích tự nhiên về nguồn gốc sự sống trong khi là một Kitô Hữu, ông tin rằng còn có các sức mạnh siêu nhiên đang hoạt động. Ông viết, "Khoa học không chỉ là một phương cách hiểu biết duy nhất." Nhà thiên văn học Owen Gingerich viết, "Khoa học hoạt động trong một khuôn khổ gò ép để tạo nên hình ảnh sáng chói về thiên nhiên… Điều này không có nghĩa vũ trụ thì thực sự vô thần, nhưng mà là khoa học trong chính khuôn khổ của nó thì không có cách nào khác để hoạt động." Tuy vậy, cùng lúc Gingerich tin rằng "thực thể đi sâu hơn" là những gì khoa học miêu tả nó. Gingerich lý luận rằng quan điểm hữu thần của "một vũ trụ mà Thiên Chúa có thể đóng một vai trò tương tác" là một quan điểm có giá trị mà "khoa học không nhận thấy" nhưng đồng thời "không bị loại trừ bởi khoa học".
Một số người coi khoa học và tôn giáo là mâu thuẫn tự bản chất bởi vì họ vô tình chấp nhận loại vô thần thứ hai, mà chúng ta có thể gọi là vô thần theo triết học. Đây là giáo điều cho rằng thực thể vật chất và tự nhiên là tất cả những gì hiện hữu. Mọi thứ khác phải là hão huyền. Nhà sinh vật học Francis Crick nhìn nhận rằng sự tin tưởng chủ nghĩa duy vật và thái độ thù nghịch tôn giáo đã thúc đẩy ông đi vào lãnh vực này. "Tôi đi vào khoa học vì những lý do tôn giáo này, không hồ nghi gì cả. Tôi tự hỏi đâu là những điều dường như không thể giải thích và được dùng để hỗ trợ niềm tin tôn giáo." Sau đó Crick tìm cách cho thấy những điều đó thuần túy có nền tảng vật chất. Cùng một tâm trạng như vậy, vật lý gia Steven Weinberg thú nhận rằng niềm hy vọng khoa học sẽ giải thoát người ta khỏi tôn giáo "là một trong những điều thực sự đã dẫn dắt tôi trong cuộc đời."
Những người chống đối tôn giáo như Crick, Weinberg, Dawkins, và Dennett, thường trộn lẫn chủ nghĩa vô thần theo thủ tục và chủ nghĩa vô thần theo triết học. Họ lấy cớ rằng vì Thiên Chúa không thể được khám phá bởi khoa học thì Thiên Chúa cũng không thể được khám phá bởi bất cứ gì. Đây là một khẳng định cổ điển từ nhà sinh vật học Will Provine: "Khoa học hiện đại trực tiếp ám chỉ rằng thế giới được sắp xếp đúng với các quy tắc hay cơ hội có tính cách định đoạt. Không một nguyên tắc nào có chủ đích trong thiên nhiên. Không có thần thánh và không có quyền lực hoạch định nào có thể nhận thấy một cách hợp lý." Provine làm như đây là một trong những khám phá vĩ đại của khoa học hiện đại, trong khi nó là giả thuyết để khoa học hiện đại hoạt động. Provine thừa nhận mà không minh chứng rằng kiến thức khoa học là một loại kiến thức duy nhất, và vì vậy nó đem cho chúng ta sự tiếp cận đích thực và đầy đủ với thực tế.
Những thừa nhận này có giá trị hay không? Tôi sẽ khảo sát giả thuyết thứ hai ở chương sau. Nhưng hãy để ý đến giả thuyết thứ nhất, khoa học là một loại kiến thức duy nhất. Vật lý gia John Polkinghorne đưa ra thí dụ sau. Nếu bạn hỏi một khoa học gia, "Tại sao nước lại sôi?" họ sẽ trả lời về phương diện phân tử và nhiệt độ. Nhưng còn có một giải thích thứ hai: nước sôi là vì tôi muốn có một tách trà. Sự giải thích thứ hai là một diễn tả thực tế có giá trị chắc chắn, tuy nhiên nó bị bỏ qua và tránh né bởi khoa học. Lý do của điều này, nhà toán học Roger Penrose viết, vì khoa học không thể trả lời câu hỏi về bản chất hay mục đích của thực thể. Khoa học chỉ có thể trả lời câu hỏi, "Nó hoạt động như thế nào?" Do đó khoa học không thể cho rằng là một diễn tả đầy đủ về thực tế, chỉ một khía cạnh của thực tế.
Chủ nghĩa vô thần theo triết lý thì có tính cách độc đoán một cách hẹp hòi bởi vì nó loại bỏ các kiến thức nào không phù hợp với chủ nghĩa tự nhiên và duy vật. Chỉ có dữ kiện nào thích hợp với lý thuyết thì được phép đưa vào. Ngược lại, người hữu thần thì cởi mở hơn và hợp lý hơn nhiều. Người hữu thần không từ chối giá trị của lý lẽ khoa học. Ngược lại, người hữu thần liên tục lý luận theo kiểu cách này trong công việc và đời sống. Người hữu thần sẵn sàng nhìn nhận các nguyên do có tính cách vật chất và tự nhiên của các biến cố, nhưng họ cũng nhìn nhận sự khả dĩ của loại kiến thức khác. Chỉ vì khoa học không thể nhìn nhận rằng chứng cớ Đại Thanh chỉ về sự hiện hữu của một đấng tạo hóa, điều đó không có nghĩa nó không phải là một sự suy luận có giá trị. Chỉ vì khoa học không thể cho thấy con người có chiều kích thiêng liêng mà không thấy trong các loài khác, điều đó không có nghĩa một kết luận như thế, dựa trên cảm nghiệm, thì không hợp lý hay không thể chấp nhận.
Chân lý khoa học không phải là chân lý trọn vẹn. Nó không thể chứng tỏ là đúng cho chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa duy vật bởi vì nó hoạt động trong vòng tự nhiên và vật chất. Khi chúng ta nhận biết điều này, chủ nghĩa vô thần theo triết lý trở nên ít đáng tin cậy. Và rồi chúng ta có thể để khoa học thi hành công việc đáng thán phục của nó mà không phải lo rằng chủ nghĩa vô thần theo thủ tục sẽ hỗ trợ cho chủ nghĩa vô thần một cách tổng quát.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch) |