|
"Để vội cười vào mọi điều kỳ diệu, chúng ta phải thấy thế giới này hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng chúng ta chỉ có thể thi hành điều này khi nhìn vào thế giới với một cái nhìn cực kỳ nông cạn và thú nhận một cách chắc chắn rằng chúng ta lao mình vào một đại dương bí ẩn và khó hiểu và không có kiến thức thấu đáo và trực tiếp và không hiểu biết về sự vật hay chính chúng ta."
Arthur Schopenhauer
au khi đã thiết lập giới hạn của lý lẽ như bị gò bó trong thế giới cảm nghiệm, bây giờ chúng ta phải đương đầu với câu hỏi nhiều tranh luận. Trong thế giới khoa học và luật tự nhiên, phép lạ có xảy ra hay không? Trong thế kỷ hai mươi mốt, có thể nào tin được sự sinh hạ mà đồng trinh, và nước biến thành rượu và sống lại từ cõi chết không? Ở đây tôi sẽ cho thấy những ý tưởng đó hoàn toàn phù hợp với khoa học hiện đại, và lý luận nổi tiếng nhất chống đối các phép lạ--do triết gia David Hume đưa ra—có thể được chứng minh là vô căn cứ, dựa trên chính triết lý của Hume.
Vấn đề phép lạ thì cực kỳ quan trọng đối với Kitô Hữu, bởi vì Kitô Giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới tin vào phép lạ. Các tôn giáo khác, tỉ như Do Thái Giáo, có thể phúc trình hay công nhận phép lạ, nhưng chỉ có Kitô Giáo là tin tưởng vào phép lạ. Tôi đặc biệt nghĩ đến phép lạ tâm điểm của Kitô Giáo. Trong thư gửi tín hữu Côrintô 15:14, Phaolô viết rằng nếu Đức Kitô không sống lại, "lời rao giảng của chúng tôi thì vô dụng và đức tin của anh chị em cũng vậy." Nhưng sự phục sinh thì không phải là phép lạ duy nhất trong Tân Ước. Trong khi vị sáng lập Hồi Giáo, ngôn sứ Môhamét, chưa bao giờ cho rằng đã làm một phép lạ, Đức Kitô lúc nào cũng làm phép lạ. Người đi trên mặt nước, dẹp êm bão tố, nuôi ăn biết bao người, chữa người mù, và ngay cả cho Lagiarô sống lại sau khi đã chết. Nếu phép lạ không thể xảy ra thì Kitô Giáo không thể đáng tin.
Richard Dawkins sắc sảo nhận xét rằng các phép lạ tiêu biểu cho nền tảng mà trên đó tôn giáo và khoa học dường như có những xác nhận đối nghịch. Nhà sinh vật học Stephen Jay Gould lý luận trong cuốn Rocks of Ages rằng khoa học và tôn giáo có thể thoải mái chung sống khi hoạt động trong các lãnh vực riêng biệt: "Khoa học tìm cách ghi nhận đặc tính thực sự của thế giới tự nhiên… Đàng khác tôn giáo hoạt động trong lãnh vực cũng quan trọng không kém, nhưng vô cùng khác biệt, về mục đích, ý nghĩa và giá trị con người." Dawkins nhận xét rất đúng rằng sự phân biệt này không luôn luôn như vậy. Lý do là vì tôn giáo cũng có những thừa nhận về thiên nhiên. Cựu Ước cho biết Môsê đã tách nước Biển Đỏ, và Giôna sống trong bụng cá mập. Tân Ước nói về một trinh nữ tên là Maria nhưng đã thụ thai, và một người tên là Giêsu đã thi hành biết bao điều ngoài sự giải thích của con người.
Dawkins nói, "Khoa học được dựa trên các chứng cớ có thể minh xác". Theo Dawkins, các câu chuyện phép lạ của Kitô Giáo là "những xâm phạm hiển nhiên vào lãnh vực khoa học. Mỗi một phép lạ này chẳng khác gì một thừa nhận khoa học, một vi phạm đến sự hoạt động bình thường của thế giới tự nhiên." Hậu quả là, "bất cứ sự tin tưởng nào ở phép lạ đều hoàn toàn trái với không chỉ dữ kiện khoa học nhưng còn trái với tinh thần khoa học." Thật vậy, trong sự thẩm định của Dawkins, phép lạ thì không gì khác hơn "khoa học tồi tệ." Cũng như các quy luật khoa học không thể vi phạm, các phép lạ cũng không thể xảy ra. Bởi đó, người có lý trí "phải tẩy chay phép lạ."
Nhiều Kitô Hữu phái tự do quá sợ hãi quyền lực khoa học đến độ họ thi hành bất cứ gì để xua đuổi phép lạ. Khi làm như vậy, họ dựa trên một truyền thống nghiên cứu kinh thánh dựa trên cuốn Life of Jesus của David Strauss, được phát hành đầu tiên năm 1835. Strauss coi phép lạ là những điều hoang đường. Làm thế nào Đức Giêsu có thể nuôi hàng ngàn người ăn với một vài miếng bánh và cá? Có lẽ Người có kho thực phẩm bí mật, hoặc dân chúng đem đến thức ăn của họ. Làm thế nào Đức Giêsu đi trên mặt nước? Có lẽ một tấm ván nổi ngay bên dưới. Làm thế nào Đức Giêsu cho Lagiarô sống lại sau khi chết? Có lẽ Lagiarô bị thôi miên. Làm thế nào Đức Giêsu bước ra khỏi mộ? Có lẽ Người không sống lại nhưng điều quan trọng là các môn đệ tin như thế và niềm tin đó đã khiến họ đầy niềm vui và hy vọng. Những giải thích này thực sự được các nhà thần học đưa ra. Họ tẩy chay phép lạ bằng cách tẩy chay Kitô Giáo.
Tôi có ý định chứng minh rằng phép lạ có thể xảy ra bằng cách bác bỏ lý lẽ mạnh mẽ nhất chống với phép lạ. Tôi không có ý định bào chữa tính cách xác thực của một phép lạ nào đó. Tôi chỉ nói rằng không nên vội bác bỏ phép lạ như phản khoa học hay không thể tin được. Cũng như mọi Kitô Hữu, tôi thú nhận rằng phép lạ thì không chắc—đó là lý do chúng ta dùng chữ phép lạ--nhưng những biến cố không chắc thì có thể và đã xảy ra, và điều này cũng đúng với phép lạ.
Lý lẽ mạnh mẽ nhất chống đối phép lạ được đưa ra bởi triết gia hoài nghi David Hume trong cuốn Enquiry Concerning Human Understanding. Lý lẽ của ông được người vô thần nêu lên rất nhiều; Dawkins và Christopher Hitchens, cả hai đều viện dẫn sách ấy để bào chữa cho việc tẩy chay phép lạ. Hume lý luận rằng:
- Phép lạ là một vi phạm với những quy luật tự nhiên đã được biết.
- Chúng ta biết các quy luật này qua kinh nghiệm được tái diễn và liên tục.
- Lời chứng của những người báo cáo về phép lạ thì trái nghịch với sự hoạt động của quy tắc khoa học đã được biết.
- Hậu quả là, dựa trên lý trí, không ai có thể tin ở phép lạ.
Việc Hume chống đối phép lạ có ảnh hưởng rất lớn, nhưng nó cũng có thể được trả lời một cách hữu hiệu. Để trả lời việc ấy, chúng ta phải quay về với công việc của chính Hume. Bài viết của ông cho thấy tại sao kiến thức loài người thì quá hạn hẹp và không đáng tin đến độ không thể hoàn toàn gạt bỏ tính cách khả dĩ của phép lạ. Tội nghiệp, khi trình bầy lý lẽ chống đối phép lạ, Hume dường như quên đọc lại chính cuốn sách của ông. Sự bác bẻ của tôi sẽ cho thấy:
- Phép lạ là một vi phạm đến những quy luật tự nhiên đã được biết.
- Dựa trên giải thích của Hume, các quy tắc khoa học không thể xác minh về cảm nghiệm.
- Bởi đó, các vi phạm của luật tự nhiên đã được biết thì rất có thể.
- Do đó, phép lạ có thể xảy ra.
Để thấy ảnh hưởng của Hume, chúng ta phải quay về với các môn đệ thời nay của ông, những người tự nhận là thuộc về chủ nghĩa thực chứng hữu lý (logical positivist). Người vô thần và "sáng chói" không dùng chữ này, nhưng nếu bạn nghiên cứu các điều giả định của họ bạn sẽ thấy họ dựa trên chủ nghĩa thực chứng hữu lý. Một người thực chứng hữu lý nghĩ rằng khoa học hoạt động trong lãnh vực có thể kiểm chứng được về quy luật và sự kiện, trong khi luân lý hoạt động trong lãnh vực chủ quan và không thể kiểm chứng được những lựa chọn và giá trị. Người thực chứng hữu lý tin rằng kiến thức khoa học là loại kiến thức tốt nhất, và bất cứ gì trái với các thừa nhận của khoa học thì phải bị loại bỏ, coi là vô lý. Những người này đầy dẫy chung quanh chúng ta. Nhiều người rất có giáo dục và họ lên tiếng với một thái độ đoan quyết, do đó, ngay cả những người không đồng ý với điều họ nói cũng gặp khó khăn để trả lời họ.
Với người thực chứng hữu lý, có hai loại phát biểu: những phát biểu có tính cách phân tích và phát biểu tổng hợp. Một phát biểu phân tích là sự phát biểu mà tính cách chân thật hay giả dối có thể được xác định bằng việc xem xét chính lời phát biểu. Nếu tôi nói, "Ông hàng xóm của tôi là người độc thân có một cô vợ trẻ đẹp", bạn biết ngay là tôi không nói thật. Chữ độc thân có nghĩa "chưa kết hôn", bởi thế một người độc thân không thể có vợ. Với Hume, toán học đem lại một thí dụ cổ điển của các chân lý có thể phân tích. Các định lý toán học thì đúng bởi định nghĩa; người ta có thể nói chúng là chân lý cố hữu.
Một phát biểu tổng hợp có thể được minh xác bằng cách kiểm điểm sự kiện. Nếu tôi nói, "Người hàng xóm của tôi nặng ba trăm cân và thích đọc sách của Richard Dawkins," bạn không thể biết điều đó có thật hay không qua sự phát biểu ấy. Bạn phải đến thăm người hàng xóm của tôi và hỏi ông ta. Hume lý luận rằng sự phát biểu phân tích thì đúng theo tiên nghiệm (a priori), tỉ như, bởi định nghĩa. Phát biểu tổng hợp, ngược lại, thì đúng theo hậu nghiệm (a posteriori), tỉ như, bằng cách nhìn vào chứng cớ. Với Hume, khoa vật lý cung cấp chuẩn mực của chân lý tổng hợp. Qua phương pháp khoa học—giả thuyết, thực nghiệm, minh chứng, và phê bình—chúng ta có thể khám phá ra các chân lý tổng hợp về thế giới.
Trên căn bản này, Hume đưa ra sự bác bỏ nổi tiếng về siêu hình, mà ông không coi có bất cứ chân lý nào. Hãy nghĩ đến điều thừa nhận của tôn giáo rằng "có đời sau" hoặc "Thiên Chúa dựng nên vũ trụ." Điểm của Hume là những phát biểu này không đúng bởi định nghĩa, cũng không thể được minh chứng bằng cách xem xét sự kiện. Hậu quả là, ông lý luận, ngay cả nhưng phát biểu này thì không đúng—chúng vô nghĩa. Hume viết, "Nếu chúng ta xem xét bất cứ sách nào—tỉ như, về thần tính hay trường phái siêu hình—chúng ta hãy hỏi, nó có chứa đựng bất cứ lý luận trừu tượng nào về phẩm chất hay số lượng không? Không. Nó có chứa đựng bất cứ cảm nghiệm nào về sự kiện thực tế hay kinh nghiệm không? Không. Vậy hãy đốt nó đi, vì nó không chứa đựng gì cả mà chỉ là ngụy biện và ảo tưởng."
Đôi khi điều này được coi là nguyên tắc của Hume về kinh nghiệm có thể kiểm chứng. Nó chỉ cho phép hai loại sự thật: những điều đúng bởi định nghĩa và những điều đúng bởi kinh nghiệm xác nhận. Tuy nhiên, ngay ở đó chúng ta thấy có vấn đề. Chúng ta hãy áp dụng chính tiêu chuẩn của Hume với học thuyết của chính ông: Nguyên tắc có thể minh xác có đúng bởi định nghĩa không? Không. Vậy, có cách nào để xác nhận nó về cảm nghiệm không? Một lần nữa, không. Hậu quả là, theo lời khuyên của Hume, chúng ta phải đốt cháy nguyên tắc của ông bởi vì nó chỉ là điều sai lạc, nó còn không mạch lạc.
Có một vấn đề khác trong lý luận của Hume, không hiển nhiên nhưng thật trầm trọng. Cần phải có thiên tài Immanuel Kant vạch ra điều mà Hume đã hoàn toàn không chú ý. Trái với sự khẳng định của Hume, các định lý toán học không có tính cách phân tích. Hãy nghĩ đến định lý nổi tiếng trong hình học của Euclid, "khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm là một đường thẳng." Điều này dường như hiển nhiên đúng, và tuy vậy nó không thể được xác nhận bằng việc xem xét lời phát biểu. Trong định nghĩa ấy không có gì làm cho nó đúng. Vậy làm thế nào để biết nó đúng? Chúng ta phải kiểm điểm. Chính khi chúng ta chấm hai điểm trên tờ giấy và vẽ một đường ngang qua chúng thì mới có thể nhận xét rằng khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm là một đường thẳng. Kant cho thấy rằng nhiều định lý toán học khác thì thuộc loại này.
Tôi nhắc đến việc Kant sửa sai Hume không có nghĩa rằng các định lý toán học này thì sai. Điều tôi muốn nói là tính cách xác thực của nó chỉ có thể thiết lập bởi sự tổng hợp. Chúng ta chỉ có thể tiến hành bằng cách nhìn đến dữ kiện. Do đó, một cách tổng quát các quy tắc toán học giống như quy tắc khoa học. Chúng ta chỉ có thể xác định chúng bằng cách nghiên cứu thế giới chung quanh. Tuy nhiên, khi nghiên cứu thế giới chung quanh, chúng ta làm đảo lộn sự khám phá đầu tiên của Hume.
Các quy tắc khoa học không thể được kiểm chứng. Chúng không thể được minh xác bằng cảm nghiệm. Khoa học được dựa trên luật nhân quả, và luật ấy cũng không thể được minh xác bằng cảm nghiệm. Lý luận của Hume là một trái bom. Kết quả cho đến ngày nay là những ứng dụng mà rất ít người lĩnh hội, và cho đến hôm nay bóng ma Hume vẫn tiếp tục ám ảnh các hành lang của khoa học hiện đại. Thật lý thú khi thấy người có học, kể cả những người tự cho là "sáng chói", tiếp tục rêu rao về khoa học rằng nó được bùng nổ hai thế kỷ trước đây bởi Hume.
Tại sao quy tắc khoa học không thể kiểm chứng? Câu trả lời của Hume là không có sự quan sát nào, dù vĩ đại bao nhiêu, có thể được dùng để rút ra một kết luận tổng quát vô giới hạn mà nó có thể bào chữa một cách hợp lý. Nếu tôi nói mọi con thiên nga đều mầu trắng và coi đó là giả thuyết khoa học, làm thế nào tôi có thể minh chứng điều đó? Bằng cách kiểm điểm các con thiên nga. Một triệu con. Hoặc mười triệu con. Dựa trên điều này tôi có thể nói một cách tin tưởng rằng mọi thiên nga đều mầu trắng. Điểm của Hume là tôi không thực sự biết điều này. Ngày mai, rất có thể tôi trông thấy con thiên nga mầu đen, và quy tắc khoa học của tôi cũng vậy.
Đây không phải là một thí dụ nhỏ nhặt. Hàng ngàn năm trước khi khám phá ra Úc Châu, người ở Tây Phương chỉ thấy thiên nga mầu trắng. Hậu quả là toàn thể thế giới Tây Phương coi thiên nga đương nhiên có mầu trắng, và thành ngữ "trắng như thiên nga" rải rác trong văn chương Tây Phương. Chỉ khi người Âu Châu đặt chân đến Úc Châu, lần đầu tiên họ thấy con thiên nga đen. Điều mà trước đây được coi là chân lý không thể vi phạm, nay đã phải rút lui.
Ở điểm này, người ta có thể đoán rằng các tay quán quân khoa học ngày nay hân hoan vỗ lưng nhau và nói, "Phải, và đây là điểm tuyệt vời về khoa học. Nó luôn luôn rộng mở để được sửa sai và bổ túc. Thất bại là mẹ thành công." Chắc là như vậy. Carl Sagan ca tụng các khoa học gia như chính ông vì họ có "truyền thống kiểm điểm sự tranh luận của nhau." Quan điểm của Sagan được lập lại nơi Daniel Dennett, ông viết, "Các phương pháp khoa học thì không phải không sai lầm, nhưng chúng có thể hoàn thiện vô hạn định… Có một truyền thống phê bình mà nó thúc ép sự tiến bộ bất cứ khi nào và bất cứ đâu khám phá ra sự thiếu sót."
Nói như vậy là quên đi điểm của Hume, đó là ngay tự đầu khoa học không thể được chứng minh là đúng khi đưa ra các quy tắc này. Tất cả quy tắc khoa học đều không thể kiểm chứng về kinh nghiệm. Làm thế nào chúng ta biết ánh sáng di chuyển với tốc độ 186,000 dặm một giây? Chúng ta đo nó. Nhưng chỉ vì chúng ta đo thấy vận tốc đó một lần, hay mười lần, hay một tỉ lần, điều đó không có nghĩa ánh sáng luôn luôn và ở bất cứ đâu di chuyển với vận tốc đó. Chúng ta chỉ thừa nhận điều này, nhưng chúng ta không biết nó có như vậy không. Ngày mai, có thể chúng ta tìm thấy một hoàn cảnh mà trong đó ánh sáng di chuyển với một vận tốc khác, và rồi chúng ta sẽ nhớ đến thiên nga đen.
Nhưng quy tắc khoa học không thể nào xuất phát từ sự liên hệ hợp lý giữa nguyên nhân và hậu quả sao? Không. Hume lý luận, bởi vì không có sự liên hệ hợp lý giữa nguyên nhân và hậu quả. Có thể chúng ta thấy biến cố A và sau đó là biến cố B, và chúng ta cho rằng biến cố A tạo ra biến cố B, nhưng chúng ta không biết chắc. Tất cả những gì chúng ta quan sát là một tương quan, và dù biết bao tương quan đi nữa cũng không thể gộp thành một liên hệ tất yếu.
Hãy để ý một minh họa đơn giản. Một đứa bé lần đầu tiên làm rơi trái banh xuống mặt đất. Nó ngạc nhiên khi thấy trái banh nẩy lên. Sau đó chú của đứa bé, người tốt nghiệp Massachusetts Institute of Technology, giải thích cho nó rằng thả một vật tròn như trái banh sẽ làm cho nó nẩy lên. Ông ta có thể giải thích điều này bằng những chữ như đặc tính và kết quả. Nếu những chữ này có nghĩa, chúng phải ám chỉ điều gì đó bằng cảm nghiệm. Nhưng bây giờ hãy nghĩ đến câu hỏi thâm sâu mà Hume nêu lên: cảm nghiệm nào mà ông chú này có mà đứa bé đó không có? Hume nhận xét, sự khác biệt là ông chú này đã nhìn thấy nhiều trái banh nẩy lên. Mỗi lần ông thả trái banh xuống đất là nó nẩy lên. Và mỗi lần ông thấy ai đó làm điều ấy, kết quả giống vậy. Đây là điều căn bản—và là căn bản độc nhất—về sự hiểu biết cao hơn của ông chú.
Bây giờ Hume rút ra một kết luận hấp dẫn: trên căn bản, ông chú này không có cảm nghiệm gì khác hơn đứa trẻ. Ông chỉ lập lại cảm nghiệm này nhiều lần. Do đó, chính thói quen khiến ông nghĩ, "Vì mình đã thấy điều này xảy ra nhiều lần trước đó, bởi vậy nó phải xảy ra nữa." Nhưng ông này không chứng minh một sự liên hệ tất yếu, chỉ là một mong đợi xuất phát từ kinh nghiệm quá khứ. Làm thế nào ông biết rằng kinh nghiệm quá khứ sẽ lập lại mỗi lần như vậy trong tương lai? Sự thật, ông không biết. Theo phương cách này Hume kết luận rằng quy tắc nhân quả không thể được kiểm chứng. Hume không từ chối là thiên nhiên có quy tắc, nhưng ông không cho rằng chúng ta biết được các quy tắc đó. Khi chúng ta đề ra quy tắc, Hume đề nghị rằng đây chỉ là một cách long trọng tuyên bố rằng, "Đây là sự phỏng đoán tốt nhất của chúng ta dựa trên những thử nghiệm từ trước."
Nhân tiện, cũng không bác bẻ Hume khi nói, "Phải nhìn nhận rằng khoa học không 100 phần trăm đúng, nhưng tối thiểu chúng 99.9 phần trăm đúng. Chúng có thể không chắc, nhưng chúng rất có thể là sự thật." Làm thế nào bạn xác định lời tuyên bố đó? Làm thế nào bạn minh chứng, tỉ như, quy tắc bình phương nghịch đảo của Newton? Nó nói rằng mọi vật thể trong vũ trụ sẽ thu hút vật thể khác với một sức tỷ lệ thuận với khối lượng và tỉ lệ nghịch với số bình phương khoảng cách giữa chúng. Quy tắc này không thể kiểm tra ngoại trừ phải thật sự đo được sự tương quan giữa mọi vật thể trong vũ trụ. Và vì đó là điều bất khả, không có số lần thử nghiệm nào có thể đi đến kết luận về tính cách khả dĩ của lời phát biểu của Newton. Mười triệu lần thử không thể xác định 99.9 có thể xảy ra—hoặc ngay cả 50 phần trăm có thể xảy ra—bởi vì có thể hai mươi triệu lần chưa được thử mà trong đó có thể người ta tìm thấy quy tắc Newton chưa hoàn hảo.
Tại điểm này chúng ta phải để ý đến sự bực tức của nhà thiên văn Neil deGrasse Tyson. Tyson tin rằng đó là điều nực cười khi nói rằng các quy tắc khoa học không đáng tin: "Sự thành công của khoa học dựa trên sự kiện mà nó có hiệu quả." Nếu khoa học không chính xác định rõ tính chất của thế giới thì máy bay sẽ không bay được và người ta không được chữa lành khi được chữa trị. Phi cơ có bay và người ốm được chữa lành trong các bệnh viện, và trên căn bản đó khoa học phải được coi là đúng. Tyson khinh bỉ nói rằng, thà bay trong chiếc phi cơ được cấu tạo theo các quy tắc vật lý hơn là ngồi trên một chiếc "được cấu tạo bằng các quy tắc của nhà tử vi."
Tôi đồng ý là khoa học hữu hiệu—và bạn sẽ không thấy lý luận nào khác của tôi về các giới hạn của nhà tử vi—nhưng không phải mọi quy tắc khoa học đều đương nhiên đúng trong mọi trường hợp. Hãy nghĩ đến sự nhận biết bàng hoàng này. Các quy tắc Newton được coi là tuyệt đối đúng trong gần hai thế kỷ. Chúng hoạt động một cách thật tốt đẹp. Thật vậy, trong các phát biểu chung không ai phải chịu quá nhiều kiểm chứng có tính cách cảm nghiệm. Mọi bộ máy dùng đến các nguyên tắc của nó, và toàn thể cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ được dựa trên vật lý học và động lực học của Newton. Newton được minh chứng là đúng hàng triệu lần trong một ngày, và các lý thuyết của ông dẫn đến các thành quả vật chất bất ngờ. Tuy vậy, các lý thuyết của Einstein về sự tương đối đã đối nghịch với Newton, và bất kể số lần kiểm chứng không thể đếm được, các quy tắc Newton được chứng minh là sai trong một số trường hợp hoặc tối thiểu không đầy đủ. Điều này không có nghĩa các quy tắc của Einstein thì tuyệt đối đúng; trong tương lai có thể chúng được cho thấy là sai lầm trong những khía cạnh nào đó.
Từ những thí dụ như vậy, triết gia Karl Popper kết luận rằng không một quy tắc khoa học nào có thể cho rằng minh chứng được điều gì cả, trong một ý nghĩa tích cực. Khoa học không thể minh chứng lý thuyết, nó chỉ có thể chứng minh là sai.10 Khi chúng ta rộng rãi thử nghiệm một lý thuyết, và nó không được chứng minh là sai, chúng ta có thể tạm thời tin nó là đúng. Tuy nhiên, điều này không phải vì lý thuyết được chứng minh, hay ngay cả vì dường như nó đúng. Đúng hơn, chúng ta theo phương cách này vì, thực tế mà nói, chúng ta không có cách nào tốt hơn để theo. Chúng ta tin lý thuyết ấy dù còn nghi ngờ cho đến khi tìm thấy điều gì khác hơn. Không có gì sai trái trong tất cả những điều này một khi chúng ta nhận biết rằng các quy tắc khoa học thì không phải "quy tắc thiên nhiên". Chúng là quy tắc của con người, và chúng tiêu biểu một hình thức phỏng đoán tốt nhất về thế giới. Điều chúng ta gọi là quy luật thì không gì khác hơn những khuôn khổ và hàng loạt những quan sát được. Chúng ta nghĩ thế giới hoạt động theo phương cách này cho đến khi cảm nghiệm tương lai minh chứng ngược lại.
Tôi đang trình bầy trường hợp hồ nghi ở đây không phải vì muốn tán thành triết lý của Hume (hay của Popper) một cách không dè dặt. Đúng hơn, mục đích của tôi là lật đổ lý luận phản đối phép lạ của Hume bằng cách dùng chính triết lý về cảm nghiệm và hoài nghi của ông. Hume cả quyết rằng các phép lạ vi phạm quy luật của thiên nhiên, nhưng tôi nói rằng triết lý hoài nghi của chính Hume cho thấy rằng chẳng có luật thiên nhiên nào được biết. Các phép lạ chỉ có thể bị bác bỏ nếu quy tắc khoa học thì tất nhiên đúng—nếu chúng thú nhận là không có ngoại lệ. Nhưng Hume từng giải thích rằng vì không có định đề gì về cảm nghiệm để chúng ta biết đây là trường hợp. Các phép lạ chỉ có thể được coi là phản khoa học nếu sự hiểu biết của chúng ta về tương quan nhân quả quá rộng rãi đến độ chúng ta có thể tin tưởng bác bỏ quan hệ nhân quả thần thánh, và bởi đó chúng ta không thể bỏ qua tính cách khả dĩ của quan hệ nhân quả thần thánh trong những trường hợp ngoại lệ.
Khi nói về phép lạ, chúng ta có thể muốn nói đến, hoặc một biến cố cực kỳ hiếm có, tuy có thể xảy ra về phương diện khoa học, hoặc một biến cố mà cách nào đó mâu thuẫn với các quy tắc thiết định của tự nhiên. Hãy nghĩ đến câu hỏi liệu một người chết có thể sống lại hay không. Chúng ta có thể coi điều này không thể có trong trường hợp đặc biệt vì không ai thấy điều đó xảy ra. Mọi cố gắng về y khoa để làm người chết sống lại đều thất bại. Nhưng điều đó không có nghĩa việc người chết sống lại là một vi phạm đến luật tự nhiên. Có ai dám chắc rằng trong tương lai, những tiến bộ y khoa sẽ không thể đạt đến điểm có thể phục hồi người chết? Dĩ nhiên không. Do đó sự tuyên bố khoa học rằng người chết không thể sống lại là một sự thật có tích cách thực tế--hữu ích cho đời sống hàng ngày—nhưng nó không phải là một chân lý tất yếu.
Nhưng nếu chúng ta trông thấy người chết sống lại trong tương lai, thì có thể rằng người chết đã từng sống lại trong quá khứ, trong một hoặc nhiều trường hợp. Ở đây tôi không cho rằng điều này đã xảy ra, tôi chỉ nói rằng nếu nó có thể xảy ra một ngày nào đó, thì có thể trước đây nó đã xảy ra. Tính cách khả dĩ không thể bị hạn chế với các biến cố tương lai. Nếu nó đã xảy ra trong quá khứ, nó sẽ là một phép lạ. Nếu nó xảy ra trong tương lai, chúng ta gọi đó là một tiến bộ khoa học. Bất cứ cách nào, nó có thể xảy ra, không vì luật tự nhiên tất nhiên bị lật đổ, nhưng vì chúng ta không biết đầy đủ về các quy luật ấy.
Phép lạ cũng có thể được coi như những tạm ngưng thực sự của luật tự nhiên, và ở đây cũng vậy, không có gì trong khoa học hay sự hữu lý để nói rằng những điều này không thể xảy ra. Ai nói rằng những quy tắc này thì không thể thay đổi? Không có bằng chứng nào cho một kết luận vội vàng như thế. Hiển nhiên, nếu Thiên Chúa hiện hữu, phép lạ có thể xảy ra. Với Thiên Chúa, hiển nhiên không có những giới hạn bên ngoài lãnh vực tự nhiên. Ngay cả các vật lý gia hiện đại nhìn nhận rằng luật tự nhiên không được áp dụng ở ngoài thế giới tự nhiên. Không có gì "lạ lùng" về thiên đàng hay hỏa ngục vì lý do đơn giản rằng không có luật tự nhiên hoạt động bên ngoài vũ trụ.
Nhưng ngay cả trong thiên nhiên, Thiên Chúa không thể bị giới hạn. Như tác giả cuốn tiểu thuyết, Thiên Chúa hoàn toàn trách nhiệm cốt truyện. Làm thế nào Người lại bị ràng buộc bởi các quy tắc và tình tiết mà Người đặt ra? Nếu Thiên Chúa bỗng dưng gián đoạn "tính cách hợp lý" của câu chuyện, kết quả chắc chắn sẽ tan vỡ và hoang mang. Nhưng đây là điểm của phép lạ, để phá vỡ tiến trình bình thường của sự vật và lôi kéo sự chú ý đến điều gì đó xảy ra bên ngoài câu chuyện. Nếu Thiên Chúa dựng nên vũ trụ Người cũng tạo nên các quy luật tự nhiên, và Người có thể thay đổi chúng vào lúc nào đó nếu muốn.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|