![]() |
||
CANH BẠC HOÀI NGHI:
|
||
|
"Có Thiên Chúa hay không có Thiên Chúa. Cả một sự xáo trộn bất tận tách biệt chúng ta. Tại tận cùng của khoảng cách vô tận này, một cuộc chơi đang tiếp diễn và đồng tiền sẽ xấp hay ngửa. Bạn đánh cuộc như thế nào?" Blaise Pascal, Pensées
ính cách khả dĩ của phép lạ đã được cho thấy (xem chương trước), bây giờ chúng ta có thể tiếp tục khảo sát xem đức tin có hợp lý hay không. Mới thoạt nhìn, điều này dường như là một việc mâu thuẫn. Làm thế nào có thể dùng sự hợp lý để bào chữa cho sự vô lý? Ở đây tôi có ý định cho thấy rằng đức tin thì không cách nào trái ngược với lý lẽ. Đúng hơn, đức tin là phương cách duy nhất để khám phá các chân lý ở bên ngoài lãnh vực của lý lẽ và cảm nghiệm. Dựa trên triết gia và toán học gia Blaise Pascal, tôi có ý lý luận rằng canh bạc của người vô thần đối với sự hiện hữu của Thiên Chúa thì hiển nhiên vô lý. Với những gì chúng ta biết và không biết sẽ xảy ra sau khi chết, không còn cách nào khác là phải cân nhắc lợi thế. Khi thi hành điều này, chúng ta khám phá thấy rằng từ quan điểm của chính lý lẽ, người thông minh thì đánh cá có đức tin. Có đức tin là một điều có ý nghĩa. Với nhiều người, các kết luận này dường như ngạc nhiên, vì đối với họ đức tin vẫn là một ý niệm rắc rối và nhiều khi xúc phạm. Stephen Jay Gould khảo sát một trường hợp nổi tiếng trong Phúc Âm Gioan khi ông Tôma từ chối không tin Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết. Ông nói, "Nếu tôi không nhìn thấy tay có dấu đinh của Người, và thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi sẽ không tin." Bởi thế Đức Giêsu hiện ra với ông Tôma và cho phép ông được nhìn và chạm đến, và ông Tôma nói, "Lậy Chúa là Thiên Chúa của tôi." Đức Giêsu trả lời, "Tôma, vì con thấy nên con tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin." Gould nhận xét, "Tôi không thể nghĩ đến một phát biểu xa lạ với các quy tắc khoa học nào khác hơn … lời trừng phạt của Đức Giêsu đối với Tôma". Với Daniel Dennett, đức tin gợi ra hình ảnh ông già Nôen và chú thỏ Easter Bunny, là những niềm tin thích hợp cho con nít nhưng chắc chắn không phải cho người lớn. Carl Sagan viết rằng trong khi khoa học "không đòi hỏi chúng ta bất cứ gì về đức tin", tôn giáo "thường yêu cầu chúng ta tin mà không thắc mắc." Từ quan điểm của Richard Dawkin, đức tin là "một tình trạng tâm trí mà nó dẫn đưa người ta đến sự tin tưởng điều gì đó—bất kể là gì—trong khi hoàn toàn thiếu chứng cớ hỗ trợ… Đối với tôi, đức tin dường như đúng là một loại bệnh tâm thần." Thoạt nhìn, thái độ thù nghịch của người vô thần đối với đức tin có vẻ khó hiểu. Chúng ta thường quyết định dựa trên đức tin. Chúng ta thường tín thác vào giới có thẩm quyền và hành động dựa trên những xác nhận của họ mà chúng ta không muốn hay không thể kiểm chứng. Tôi không có mặt tại trận chiến Nếu chúng ta quá tỉ mỉ dựa vào sự tin tưởng thì đời sống hiện đại sẽ trở nên bất khả cũng giống như chúng ta cứ nhất quyết dựa trên chứng cớ và sự minh xác trước khi tiến hành. Làm thế nào để biết hạt ngũ cốc thì an toàn trước khi ăn? Làm thế nào để biết chắc là chiếc xe của tôi không bị nổ tung dọc đường? Tại sao tôi phải coi người đối thoại với tôi qua điện thoại thì đương nhiên đang ở đó? Làm thế nào để biết lá phiếu của tôi bầu cho ứng cử viên tổng thống ấy sẽ được đếm và không bị gian lận? Một câu trả lời là tôi biết điều đó vì "phương cách ấy" đang hoạt động. Tôi ăn món ngũ cốc và tôi thấy khỏe khoắn. Tôi lái xe và nó đưa tôi đến sở làm. Và vân vân. Tôi có thể tin tưởng vào kỹ thuật, ngân hàng, bản đồ, và hệ thống dân chủ bởi vì chúng đem lại sự tốt lành. Nhưng đây không phải là lý luận chống đối đức tin tôn giáo, bởi vì, đối với tín hữu, đức tin cũng đem lại sự tốt lành. William James vạch ra điểm này trong cuốn The Varieties of Religious Experience. Đức tin nơi Thiên Chúa, đối với hàng triệu tín đồ, thường được minh chứng là đúng trong đời sống hàng ngày. Người ta tin tưởng vào Thiên Chúa vì sự trung tín và tình yêu của Người trong cùng một phương cách họ tin tưởng người phối ngẫu—qua cảm nghiệm lâu dài và bền bỉ. Thật vậy, tín đồ tin tưởng vào Thiên Chúa còn hơn tin tưởng vào hãng máy bay, bản đồ, và máy điện toán, và điều này cũng được dựa trên chứng cớ có tính cách cảm nghiệm. Máy điện toán sẽ hỏng, bản đồ sẽ lỗi thời, và hãng máy bay sẽ lộn xộn. Nhưng Thiên Chúa thì không. Tuy nhiên, sự bảo vệ đức tin này thì chưa đủ, bởi vì đức tin tôn giáo thì không chỉ bao gồm những gì làm thỏa mãn nhu cầu và ý muốn của con người, nhưng còn bao gồm chân lý. Đức tin thừa nhận những loại đặc biệt. Linh hồn thì bất tử và có sự sống sau cái chết. Trên thiên đàng có Thiên Chúa, Đấng tìm cách kết hợp vĩnh viễn với chúng ta. Thiên đàng là nơi của những ai tín thác vào Thiên Chúa, trong khi những người từ chối Thiên Chúa thì ở một nơi khác. Và vân vân. Những thừa nhận này thì không thể kiểm chứng, và vì vậy chúng rất khác biệt với các thừa nhận về Nhưng từ điểm này, Kant không kết luận rằng đức tin tôn giáo thì vô lý. Trái lại, ông lý luận rằng ngoài lãnh vực lý trí, không cách chi có những quyết định vô lý dựa trên đức tin. Điểm quan trọng ở đây là trong thế giới cảm nghiệm hay hiện tượng, chúng ta ở một vị trí để đưa ra một công thức dựa trên kinh nghiệm và trắc nghiệm và kiểm chứng và lý luận. Trong thế giới ấy, đó là điều dị đoan để cho đó là đức tin khi điều ấy không được hỗ trợ bởi chứng cớ và lý lẽ. Tuy nhiên, ngoài thế giới hiện tượng, các tiêu chuẩn này không được áp dụng, cũng như các quy tắc vật lý chỉ áp dụng cho vũ trụ chúng ta chứ không phải vũ trụ khác. Do đó khi Christopher Hitchens thường bài bác các thừa nhận tôn giáo dựa trên căn bản rằng "điều có thể khẳng định mà không có chứng cớ thì cũng có thể bị bác bỏ mà không có chứng cớ," ông đang đưa ra điều mà các triết gia thường gọi là một sai lầm về phạm trù. Ông dùng tiêu chuẩn cảm nghiệm để phán đoán những điều nằm bên ngoài lãnh vực cảm nghiệm. Ông muốn có chứng cớ từ một lãnh vực mà các quy tắc bình thường về minh chứng không áp dụng. Bên ngoài khả năng của lý trí và cảm nghiệm, sự thiếu chứng cớ không thể được dùng như bằng chứng của sự thiếu sót. Điều đáng chú ý, nhiều người ngày nay muốn sống với giả sử rằng không có Thiên Chúa, không có đời sau, và không có thực thể bên ngoài thế giới cảm nghiệm. Những người này không những tự nhận là vô thần nhưng họ còn là người bất khả tri giáo (agnostic), mà sự ngu dốt tự nhận của họ biến thành chủ thuyết vô thần trên thực tế. Thường với nụ cười tự mãn, họ nói, "Tôi không thể tin vì tôi không biết." Thái độ này khác thường vì hai lý do. Thứ nhất, họ hoàn toàn không thắc mắc gì về những câu hỏi quan trọng nhất trong cuộc đời: Tại sao chúng ta ở đây? Có phải cuộc đời chỉ có vậy? Điều gì xảy ra khi chúng ta chết? Những bí ẩn vĩ đại này thúc giục mọi người phải suy nghĩ về hoàn cảnh của mình, và tuy vậy vẫn có người từ chối suy nghĩ về các bí ẩn đó. Họ tiếp tục đòi hỏi chứng cớ về một loại mà nó không có ở đây. Thái độ của họ thì cũng kỳ dị vì nó cho thấy họ không ý thức gì về sự giới hạn của lý trí. Không thể có chứng cớ có tính cách cảm nghiệm vì các giác quan không thể thấu hiểu một lãnh vực ở bên ngoài cảm nghiệm. Khi lý trí đạt đến giới hạn, có hai điều khả dĩ. Chúng ta có thể dừng lại, hoặc chúng ta có thể tiếp tục. Một số nhà tư tưởng, tỉ như triết gia Ludwig Wittgenstein, lý luận rằng bên ngoài những gì chúng ta có thể khẳng định bằng lý lẽ, chúng ta không khẳng định gì cả. Wittgenstein viết, "Chúng ta không đến được đáy của sự vật, nhưng đến một điểm mà không thể đi xa hơn nữa, là nơi chúng ta không thể thắc mắc gì thêm." Với câu hỏi, "Đằng sau sự chết có gì?" Wittgenstein từ chối trả lời bằng cách này hay cách khác. Chắc chắn là ông không trả lời "Chẳng có gì cả", như sự tin tưởng sai lầm của Richard Dawkins hay Sam Harris. Ông không thể nói như vậy là vì ông không biết. Câu trả lời này—"Tôi không biết"—là một phát biểu của loại bất khả tri giáo. Nó bao gồm sự gián đoạn phán đoán khi đối diện với sự ngu dốt mà hiển nhiên cao hơn chủ thuyết vô thần. Tuy vậy, thật lạ lùng, hình thức bất khả tri giáo này lại được chia sẻ bởi tín đồ tôn giáo. Người tín hữu cũng không biết. Trong Do Thái 11:1, Kinh Thánh viết đức tin đó là "bản chất của những gì hy vọng, là chứng cớ của điều không trông thấy." Nếu người tín hữu đã biết, sẽ không còn vấn đề đức tin. Hãy nghĩ điều này: tôi không tin rằng con tôi ở lớp bẩy. Tôi biết con tôi ở lớp bẩy. Tôi chưa ở thiên đàng, và vì vậy tôi không thể nói là tôi biết chỗ đó. Nhưng tôi tin có thiên đàng. Đức tin là một bày tỏ sự tin tưởng mà chúng ta không biết rõ. Đức tin nói rằng dù tôi không biết rõ điều gì, tôi tin điều đó có thật. Từ điểm này chúng ta rút ra một kết luận mà sẽ làm ngạc nhiên nhiều người vô thần, ngay cả một vài Kitô Hữu: sự hồ nghi là thói quen thích hợp của tâm trí người có đức tin. Có một câu chuyện trong Phúc Âm Máccô 9:17-24 về một ông đến với Đức Kitô để xin chữa lành cho con ông bị quỷ ám. Đức Giêsu nói với ông, "Nếu ông có thể tin, thì mọi sự đều có thể." Và người này thưa, "Thưa Chúa, tôi tin. Xin giúp cho sự hồ nghi của tôi." Đây là lời cầu xin của mọi tín hữu đích thật. Kitô hữu có đức tin ngay cả khi họ không rõ, trong khi người không có đức tin thì từ chối không muốn tin bởi vì họ không rõ. Thói quen hồ nghi của tâm trí thì thật tự nhiên đối với Kitô Hữu cũng như đối với người không có đức tin. Đức tin tôn giáo thì không trái ngược với lý lẽ. Mục đích của đức tin là để khám phá các chân lý vô cùng quan trọng đối với chúng ta tuy chúng không thể biết được qua các phương tiện tự nhiên. Wittgenstein tuyên bố nổi tiếng trong cuốn Tractatus rằng "nếu mọi vấn đề khoa học có thể được trả lời, các vấn nạn về đời sống vẫn chưa được đụng đến chút gì" Vấn đề là khoa học hoạt động trong một lãnh vực, và những câu hỏi quan trọng nhất của đời sống—Tại sao tôi ở đây? Tôi phải yêu thương như thế nào? Tôi phải sống cho cái gì?—nằm bên ngoài lãnh vực ấy. Đức tin là một toan tính để chạm đến lãnh vực bên ngoài cảm nghiệm và soi sáng cho các câu hỏi ấy. Cả hai ông Kant và Wittgenstein đều nói đây là điều bất khả, nhưng họ muốn nói sự bất khả theo hoạt động của lý lẽ. Có thể có một cách khác. Đối diện với những câu hỏi tối quan trọng về sự hiện hữu của con người, triết gia Brian Magee viết, "Chúng ta, như những người lính bị giam hãm trong một thành trì, đang không ngừng và tuyệt vọng tìm kiếm một lối thoát xuyên qua các bức tường thành, và chúng ta chỉ có hy vọng, dù thể hiện được hay không, có một đường hầm, nhờ các kiểu đột nhập khác nhau, sẽ đưa vào bên trong thành trì ấy mà không phải xuyên thủng các bức tường." Câu này là một diễn tả tuyệt vời về việc đức tin tìm ra một con đường mà lý lẽ bế tắc. Mục đích thì giống nhau, đi tìm chân lý, nhưng hành trình đức tin tiếp tục khi lý lẽ bỏ cuộc săn đuổi. Nếu người bất khả tri giáo muốn giã từ vũ khí và bỏ cuộc, họ không thể bực dọc với các tín hữu là người sẵn sàng thử một con đường mới để tìm ra đỉnh cao nhất. Người tín hữu dùng đức tin để đi vào một lãnh vực mới, đó là sự mặc khải. Ở đây không còn sự lựa chọn nào khác bởi vì lý lẽ thực sự đã cạn kiệt. Người tín hữu tin rằng sự mặc khải sẽ tiết lộ các chân lý được giấu kín khỏi lý lẽ. Người tín hữu không tin "một cách mù quáng" nhưng đúng ra với "đôi mắt rộng mở." Kitô Hữu dựa vào đức tin không để ngăn chặn sức mạnh tự nhiên của con người nhưng để dẫn dắt họ thấy được rõ ràng hơn. Họ mong đợi sự mặc khải sẽ tái phục hoạt và hướng dẫn lý trí của họ. Châm ngôn của Thánh Augustine được áp dụng ở đây: "Hãy tin và bạn sẽ hiểu." Đó là lý do tại sao người tín hữu thật bối rối khi người vô thần kết án họ là vất bỏ khả năng tri thức. Nhà phê bình xã hội Michael Novak nói rằng "việc sử dụng lý lẽ thì hơi giống như dùng đến mắt trần, trong khi 'dựa trên đức tin' thì giống như mang cặp kính được điều chỉnh tuyệt hảo… để hiểu được các chiều kích vô hình của thực tại." Trong khi chúng ta có kiến thức về một ý nghĩ hay một đề nghị, chúng ta có đức tin ở một con người. Daniel Dennett phải cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng người này không phải là Ông Già Nôen hay chú thỏ Easter Bunny. Đức tin tôn giáo là một khẳng định của niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, và vào quyền năng cũng như sự đáng tin cậy của Người. Nếu có một thượng đế, Đấng đã dựng nên vũ trụ với sự lưu tâm đặc biệt cho con người, thì thật hữu lý để cho rằng, vì chúng ta không có khả năng tìm ra Người, Người sẽ tìm đến với chúng ta theo phương cách của Người. Người tín hữu cho rằng khi con người không thể đến với Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ đến với loài người. Đức tin là một loại quà tặng. Nó là phương cách để Thiên Chúa tiết lộ chính Người cho chúng ta qua sự mặc khải. Nếu Thiên Chúa không làm như vậy, không cách chi loài người chúng ta tìm ra Người và Người sẽ vẫn tách biệt với các thụ tạo của Người. Pascal bắt đầu với định đề của Kant rằng "bước sau cùng của lý lẽ là phải nhận biết có vô tận những điều trổi vượt hơn lý lẽ." Trong một vài bài viết, Pascal đồng ý rằng thật may mắn cho loài người vì những chân lý cao vời có thể được biết qua đức tin thay vì lý lẽ. Nói cách khác, đức tin thì có cho mọi người. Nếu phương cách duy nhất để tìm kiếm Thiên Chúa là qua lý lẽ thì những người tài giỏi sẽ tìm ra con đường ấy và những người kém thông minh sẽ bị loại trừ. Vào được thiên đàng sẽ giống như vào đại học Harvard. Hiển nhiên Thiên Chúa muốn có nhiều người vào thiên đàng hơn là nhiều tiến sĩ; dường như Người sẵn sàng dành chỗ cho các ngư phủ và những người khiêm tốn. Lý lẽ là dòng dõi quý tộc, nhưng đức tin thuộc chế độ dân chủ. Tuy nhiên, tại sao chúng ta chọn đức tin khi đứng trước sự hồ nghi? Câu hỏi hắc búa chính yếu của con người là đề tài nổi tiếng của canh bạc Pascal. (Pascal không phát minh ra canh bạc này; nó được đưa ra bởi thần học gia Hồi Giáo Abu Hamed al-Ghazali trong cuốn The Alchemy of Happiness [thuật tôi luyện hạnh phúc]. Pascal rất quen thuộc với al-Ghazali và có lẽ lấy lý luận này từ ông ta). Pascal trình bầy canh bạc theo lối cổ điển, và khi làm như vậy ông đã đề ra một sự lựa chọn không thể tránh né cho tất cả những người "sáng chói," người bất khả tri giáo, và người vô thần. Pascal lý luận rằng cuộc đời chúng ta là một canh bạc. Giả sử bạn được đề nghị một công việc mới mà vì đó sẽ giúp bạn thăng tiến sự nghiệp. Nó rất hứa hẹn, nhưng dĩ nhiên cũng có những rủi ro. Không có cách chi biết trước là sự việc sẽ ra sao. Bạn phải quyết định có nên nhận hay không. Hoặc bạn đang yêu một người nào đó. Bạn đã hẹn hò trong một thời gian, nhưng bạn không thể biết chắc là hôn nhân với người ấy có kéo dài vài chục năm hay không. Bạn hành động dựa trên căn bản những gì đã biết, nhưng điều đã biết, theo bản chất tự nhiên của vấn đề, thì chưa đủ. Tuy nhiên, bạn phải quyết định. Bạn không thể tiếp tục nói rằng, "Tôi vẫn là một người theo chủ thuyết bất khả tri cho đến khi tôi biết chắc." Nếu bạn chờ đợi quá lâu, người yêu bạn sẽ kết hôn với ai đó, hoặc cả hai sẽ chết. Tương tự như vậy, Pascal lý luận rằng khi quyết định về Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ biết trước được mọi sự. Biết bao nhiêu cuộc điều tra cũng không thể đưa đến một câu trả lời chắc chắn, cũng như điều gì xảy ra sau khi chết thì vẫn là điều bí ẩn. Bởi đó chúng ta phải nghiên cứu những lựa chọn và phải đánh cuộc. Nhưng những lựa chọn khác là gì, và làm thế nào để chúng ta cân nhắc hơn thiệt? Pascal lý luận rằng chúng ta có hai sự lựa chọn căn bản, và dù lựa chọn nào đi nữa, chúng ta phải nghĩ đến nguy cơ khi chọn sai. Nếu chúng ta tin vào Thiên Chúa và hóa ra Thiên Chúa không có thật, chúng ta đối diện với nguy cơ thiệt thòi: sự sai lầm siêu hình. Nhưng nếu khi còn sống, chúng ta từ chối Thiên Chúa, và hóa ra là Thiên Chúa có thật, sự nguy cơ còn lớn lao hơn nữa: sự tách biệt đời đời với Thiên Chúa. Dựa trên hai kết quả khả dĩ này, Pascal tuyên bố rằng có đức tin nơi Thiên Chúa thì ít thiệt thòi hơn. Khi đối diện với một kết quả không biết rõ, người có lý trí thì sẵn sàng từ bỏ những gì là hữu hạn để đổi lấy phần thưởng vô hạn mà họ có thể giành được. Pascal viết, "Chúng ta hãy cân nhắc sự thiệt thòi và lợi lộc khi đánh cá về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nếu bạn thắng, bạn thắng mọi sự. Nếu bạn thua, bạn chẳng mất gì cả. Vậy đừng do dự: hãy đánh cá là Thiên Chúa hiện hữu." Sự khéo léo của lý luận Pascal là nó nhấn mạnh đến sự cần thiết thực tế phải lựa chọn. Sự cần thiết này bị bắt buộc vì cái chết. Sẽ đến một ngày không có ngày mai, và rồi tất cả chúng ta phải bỏ phiếu chống hay thuận. Quyết định không thể tránh né đó cho thấy sự ngu xuẩn vô cùng của "thái độ thờ ơ," làm ra vẻ không có gì quan trọng trong khi đó thực sự là vấn đề sinh tử. Người thờ ơ và bất khả tri giáo từ chối lựa chọn trong khi không thể tránh né. Bởi thế, sự từ chối lựa chọn trở nên một sự lựa chọn—lựa chọn chống đối Thiên Chúa. Pascal còn phơi bầy lập trường của người vô thần là những người tự cho mình là can đảm và cô độc đối diện với địa ngục. Chúng ta thán phục một người kiên trì khi đối diện với những nghịch cảnh không thể tránh né. Nếu chúng ta biết trong vũ trụ chỉ có chúng ta và chết là hết, thì không còn gì khác hơn là chúng ta phải đứng vững trong thân xác hay chết và nguyền rủa bóng tối. Nhưng chúng ta sẽ nghĩ gì về một người sẵn sàng đương đầu với định mệnh khốc liệt mà họ có cơ hội ngăn ngừa? Nếu bạn bị lọt bẫy sư tử và ở đó có cánh cửa để thoát, nhưng bạn từ chối không nhẩy qua cánh cửa ấy, liệu bạn có bình thường không? Theo kiểu cách đó, lập trường của người vô thần trở nên một loại không khoan nhượng, một quyết định của người liều lĩnh muốn chơi trò may rủi với linh hồn mình. Đôi khi người vô thần bày tỏ sự trở ngại là tại sao Thiên Chúa không làm cho sự hiện diện của Người rõ ràng hơn. Carl Sagan rất hữu ích khi đề nghị rằng để xua tan những hồ nghi về sự hiện diện của Người, "Thiên Chúa có thể ghi khắc Mười Điều Răn trên mặt trăng." Pascal đưa ra lý do hợp lý cho điều ông gọi là sự ẩn giấu của Thiên Chúa. Ông viết, có lẽ Thiên Chúa muốn ẩn giấu khỏi những ai không muốn gặp gỡ Người trong khi tiết lộ Người cho những tâm hồn sẵn sàng đón tiếp Người. Nếu Thiên Chúa tự biểu thị đến độ chúng ta không thể từ chối Người, thì Người đã ép buộc chúng ta. Pascal nhận xét rằng có lẽ Thiên Chúa không muốn được nhận biết bởi mọi người, nhưng chỉ bởi những tạo vật nào tìm kiếm Người. Người vô thần biết rõ về sức mạnh của canh bạc Pascal. Christopher Hitchens không còn cách nào khác hơn là phát động một cuộc tấn công ad hominem vào Pascal (tấn công cá tính hơn là lý luận), cho rằng Pascal là một người "đạo đức giả" và "lọc lừa". Richard Dawkins tuyên bố lý luận của Pascal thì "thật kỳ quặc". Và tại sao? Bởi vì "sự tin tưởng không phải là điều bạn có thể quyết định giống như một vấn đề chính sách. Tối thiểu, nó không phải là điều mà tôi có thể quyết định hành động như một hành vi của ý muốn." Dĩ nhiên, Dawkins thì đúng về điều này, nhưng thực sự vấn đề nằm ở điểm ông có muốn tin và có muốn mở lòng đón nhận lời mời đức tin hay không. Như chúng ta sẽ thấy ở một chương sau, có nhiều động lực tâm lý để cưỡng lại lời mời gọi này. Pascal viết có hai loại người hợp lý trong thế gian: "những người phục vụ Thiên Chúa với tất cả tâm hồn vì họ biết Người, và những người tìm kiếm Thiên Chúa với tất cả tâm hồn vì họ không biết Người." Pascal nhìn nhận rằng đức tin là một quà tặng. Chúng ta không thể đòi hỏi đức tin nhưng chỉ có thể xin Thiên Chúa ban cho chúng ta. Trong khi chờ đợi, cách tốt nhất là sống một cuộc đời tốt lành và có luân lý, và sống như thể Thiên Chúa thực sự hiện diện. Và đọc lời cầu nguyện của người hoài nghi, mà tôi lấy từ triết gia Peter Kreeft: Lậy Chúa, con không biết là Ngài có hiện diện hay không. Con là người hoài nghi. Con hồ nghi, con nghĩ có lẽ Ngài là một huyền thoại. Nhưng con không chắc (tối thiểu khi con thực sự thành thật với chính mình). Vậy, nếu Ngài hiện diện, và nếu Ngài hứa sẽ thưởng ban cho những ai tìm kiếm Ngài, ngay bây giờ Ngài phải đang nghe con. Do đó, con tự tuyên bố con là một người tìm kiếm, một người tìm kiếm chân lý, bất cứ gì và ở bất cứ đâu, con muốn biết chân lý và sống chân lý ấy. Nếu Ngài là chân lý, xin hãy giúp con. Kinh Thánh hứa rằng những ai tìm kiếm Thiên Chúa trong phương cách này với sự thành tâm thì sẽ tìm thấy Người. Dinesh D'Souza (trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch) |