Cau Xin Me

NGHĨ LẠI TÒA THẨM TRA:
TỘI ÁC TÔN GIÁO ĐƯỢC THỔI PHỒNG

"Người tốt làm điều tốt và người xấu làm điều xấu, nhưng để người tốt làm điều xấu—điều đó cần đến tôn giáo."
Steven Weinberg, Facing Up

C

hương trước đây đã tìm cách trả lời các lý luận của giới trí thức nhằm chống Kitô Giáo được trình bầy cách lưu loát bởi các người vô thần nổi tiếng hiện nay. Trong một vài chương kế tiếp, chúng ta sẽ xoay sang các lý luận về luân lý của họ và để ý đến điều họ kết án rằng Kitô Giáo còn tệ hơn sự vô lý—nó xấu xa. Trong nhiều thế kỷ, chính Thiên Chúa phán xét loài người và các giáo sĩ Kitô Giáo là người đưa ra các cáo buộc về tội lạc giáo và vô luân. Giờ đây, con người chễm chệ trên ghế quan tòa và chỉ tay kết tội Thiên Chúa, và Kitô Giáo phải trả lời cho sự cáo buộc về tội nuôi dưỡng sự dữ và đe dọa hòa bình. Trong chương này tôi sẽ điều tra xem tôn giáo có phải là nguồn tranh chấp và gây ra sự chết trên thế giới, và nếu vậy, liệu thế giới sẽ tốt hơn nếu không có tôn giáo.

Các nhà vô thần nổi tiếng rất thành công trong việc thuyết phục hàng triệu người—kể cả người đạo đức—rằng tôn giáo từng là tai ương của lịch sử. Trong cuốn The End of Faith, Sam Harris gọi tôn giáo là "nguồn uy lực lớn lao của sự tranh chấp nhân loại, quá khứ và hiện tại." Steven Pinker viết rằng "các tôn giáo đem cho chúng ta việc ném đá, thiêu sống phù thủy, thập tự chinh, tòa thẩm tra, thánh chiến, ôm bom tự sát, và bắn người trong chỗ phá thai." Trong một cuốn sách khác, Pinker thêm vào những vi phạm khác mà ông gán cho tôn giáo; ông nói con người tin rằng Thiên Chúa ra lệnh cho họ "thảm sát người Midianite, ném đá gái điếm, hành quyết người đồng tính luyến ái, giết người bội giáo và bất trung, ném người Tin Lành khỏi cửa sổ, không cấp thuốc cho trẻ em hấp hối, và đâm máy bay vào các tòa nhà chọc trời."

Kitô Giáo thường là mục tiêu cho sự chỉ trích về luân lý của người vô thần. Trong cuốn Why I Am Not a Christian, triết gia Bertrand Russell lý luận "toàn thể luận điệu rằng Kitô Giáo có ảnh hưởng nâng cao luân lý chỉ có thể được duy trì bởi sự ngu dốt của toàn thể hoặc sự xuyên tạc chứng cớ lịch sử." Bình luận gia Robert Kuttner kể cả trường hợp chống đối Kitô Giáo: "Thập Tự Chinh nhân danh Đức Giêsu giết hại hàng triệu người. Tòa Thẩm Tra đem đến sự tra tấn và giết hại hàng triệu người hay hơn. Sau Martin Luther, Kitô Hữu giao tranh đẫm máu với Kitô Hữu trong ba thế kỷ."

Cả những sự nguy hiểm mà tôn giáo đề ra cũng không phai nhạt với thời gian. Richard Dawkins thăm dò Trung Đông, vùng Balkan, Bắc Ái Nhĩ Lan, Ấn Độ, và Sri Lanka và đồng ý rằng "hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, những vụ bạo động vì thù hận trên thế giới ngày nay" là vì "các động lực chia rẽ của tôn giáo." Bởi thế ảnh hưởng hiện nay của tôn giáo thì rất nguy hiểm, nhất là Hồi Giáo cực đoan và Kitô Hữu giáo điều, mà Daniel Dennett sợ rằng "sự điên cuồng độc hại của tôn giáo sẽ chấm dứt văn minh nhân loại một cách bất ngờ."

Vấn đề là sự phê bình này đã thổi phồng quá đáng những vi phạm của người tôn giáo cuồng tín trong khi bỏ quên hay bào chữa cho nhiều tội ác lớn lao khác của người đời hay người vô thần cuồng tín. Đây là chủ đề cho hai chương sắp tới, trong đó chúng ta sẽ khảo sát tường tận hơn dữ kiện lịch sử mà sự chỉ trích viện dẫn. Tôi có ý định chứng minh rằng quan điểm cho tôn giáo là nguồn chính yếu của những sự sát hại và tranh chấp trong lịch sử thì hoàn toàn sai lầm—thật vậy điều đó chỉ được nêu lên bởi những người nhất định không muốn biết hoặc xuyên tạc dữ kiện.

Hãy bắt đầu với Thập Tự Chinh, được diễn tả một cách sống động bởi James Carroll như "một bộ tội ác trong lịch sử thế giới" mà "dấu vết của bạo lực còn hằn in trên mặt đất và trí nhớ con người mãi cho đến ngày nay." Là một người Công Giáo, Carroll là một thí dụ điển hình của nhiều tín hữu Kitô tự do đã hấp thụ luận điệu của trần tục rằng Thập Tự Chinh minh chứng cho sự tàn bạo của tôn giáo. Trong một kiểu cách khá huê dạng, Carroll dùng ngôn ngữ mạnh bạo của mình khi nói vai trò của Kitô Hữu trong các cuộc Thập Tự Chinh. Nhưng về sự khủng khiếp gây ra bởi phía Hồi Giáo, ông lại dè dặt thấy rõ. Ở đây chúng ta có một học thuyết quen thuộc: tôn giáo thì xấu nhưng Kitô Giáo thì tệ hơn nữa.

Nhưng điều đó có đúng không? Hãy nhớ rằng trước khi có sự nổi lên của Hồi Giáo, vùng chúng ta gọi là Trung Đông phần lớn là Kitô Hữu. Cũng có người Zoroastri ở Persia và Do Thái ở Palestine, nhưng hầu hết dân chúng trong vùng mà ngày nay chúng ta gọi là Iraq, Syria, Giođan, và Ai Cập là Kitô Hữu. Những nơi linh thiêng của Kitô Giáo—nơi Đức Kitô giáng trần, sinh sống, và từ trần—là trong vùng đó. Được khuyến khích bởi lời kêu gọi thánh chiến của Hồi Giáo, các đạo quân của Môhamét xâm lăng Giêrusalem và toàn thể Trung Đông. Sau đó họ tiến về phía nam vào Phi Châu, phía đông vào Á Châu, và phía bắc vào Âu Châu. Họ xâm chiếm nhiều phần nước Ý và hầu hết Tây Ban Nha, tràn lấp vùng Balkan, và chuẩn bị cho sự xâm nhập mà sẽ đem toàn thể Âu Châu, lúc bấy giờ được gọi là các quốc gia Kitô Giáo, dưới quyền cai trị của Hồi Giáo. Sự đe dọa của Hồi Giáo quá nặng nề đến nỗi Edward Gibbon tiên đoán rằng nếu Tây Phương không chiến đấu chống lại "có lẽ kinh Koran sẽ được dậy trong các trường ở Oxford, và các tăng lữ của nó sẽ dậy cho dân tộc cắt bì biết về tính cách bất khả xâm phạm và chân lý của Mặc Khải Môhamét."

Trên hai trăm năm sau khi các đạo quân Hồi Giáo xâm chiếm Trung Đông và tiến vào Âu Châu, sau cùng Kitô Hữu đã phản công. Được tập hợp bởi đức giáo hoàng và các triều đại đang cai trị Âu Châu, trong thế kỷ mười một, người tín hữu Kitô đã cố gắng giành lại phần đất trung tâm Kitô Giáo và bảo vệ chống với dân quân Hồi Giáo. Những nỗ lực này bây giờ được gọi là Thập Tự Chinh. (Chữ này là một sáng chế về sau; nó không được dùng bởi người Kitô Giáo và Hồi Giáo tham dự các cuộc chiến đó).

Ai là các Thập Tự Quân? Sử gia Jonathan Riley-Smith bác bỏ ý tưởng rằng họ là những người xâm lăng tham lam hay các tên sát nhân. Đúng hơn, ông nói họ là người di dân. Họ đáp lời kêu gọi của Chúa Kitô là "hãy từ bỏ chính mình và vác thập giá mà theo Ta." Nhiều người liều mất tài sản và sinh mạng. Cấp lãnh đạo không cung cấp gì cả--các thập tự quân được trông đợi mang theo ngựa, súc vật, và dụng cụ. Chứng cớ cho thấy họ tham dự không vì mục đích có thêm của cải là khi trở về họ nghèo hơn lúc ra đi. Phải, có cướp bóc, đánh phá trên đường đi, nhưng Riley-Smith nói điều này xảy ra vì Thập Tự Quân phải chuẩn bị lương thực để sinh tồn.

Thập Tự Quân I là một thành công. Kitô Hữu lấy lại Giêrusalem năm 1099 và giữ được trong vài thập niên. Sau đó Hồi Giáo tái nhóm và đánh Thập Tự Quân tan tác. Saladin tái chiếm Giêrusalem năm 1187. Các cuộc Thập Tự Chinh sau đó đều thất bại, và Giêrusalem vẫn dưới sự cai trị của Hồi Giáo. Bởi vậy Thập Tự Quân có thể coi như một nỗ lực chậm chạp, vụng về và không thành công để đánh bại đế quốc Hồi Giáo. Tuy nhiên, Thập Tự Chinh thì quan trọng vì đại diện cho một cuộc chiến đấu vì sự sinh tồn của Âu Châu. Nếu không có Thập Tự Chinh, văn hóa Tây Phương có thể hoàn toàn bị tàn phá bởi các lực lượng Hồi Giáo. Thập Tự Chinh cũng còn được coi như tiền thân của các chuyến thám hiểm của Âu Châu mà nó đã mở đầu cho kỷ nguyên hiện đại. Chắc chắn người ta có thể tranh luận về giá trị của các mục tiêu này, và cũng có những đoàn viễn chinh hãm hiếp và giết người trong các Thập Tự Chinh mà không ai có thể bào chữa. Ngay cả vậy, những sự hoành hành này không định rõ tính chất của toàn thể Thập Tự Chinh. Trong khung cảnh lịch sử chiến trận, không có lý do xác đáng để nghĩ rằng Thập Tự Chinh là một tội ác lịch sử thế giới dù bất cứ loại nào. Kitô Hữu chiến đấu để bảo vệ khỏi sự ngoại xâm, trong khi người Hồi Giáo chiến đấu để tiếp tục xâm lăng các phần đất của Kitô Hữu.

Và Tòa Thẩm Tra thì sao? Các sử gia hiện đại giờ đây xác định rằng các hình ảnh ghê sợ của Tòa Thẩm Tra thì phần lớn là chuyện tưởng tượng được pha chế bởi các đối thủ chính trị của Tây Ban Nha—chính yếu văn sĩ Anh là người khuôn đúc sự hiểu biết của người Hoa Kỳ về biến cố ấy—và sau này bởi các kẻ thù chính trị của tôn giáo. Cuốn The Spanish Inquisition của Henry Kamen được làm phụ đề cho "A Historical Revision," và đó là một cuốn sách dầy, bởi vì Kamen nhiều lần sửa chữa. Một trong những chương được gọi là "Inventing the Inquisition." Ông muốn nói rằng phần lớn bản rập khuôn hiện nay về Tòa Thẩm Tra thì thực chất là bịa đặt.

Kamen nói rõ, Tòa Thẩm Tra "chỉ có thẩm quyền trên Kitô Hữu." Ý tưởng cho rằng Tòa Thẩm Tra nhắm đến người Do Thái là sự tưởng tượng. Những người Do Thái chịu ảnh hưởng của Tòa Thẩm Tra là người Do Thái đã trở lại Kitô Giáo.  Có một số kha khá những người này khi Vua Ferdinand và Hoàng Hậu Isabella ra một sắc lệnh vào năm 1492 trục xuất người Do Thái khỏi Tây Ban Nha. Cách duy nhất để được ở lại là phải cải đạo. Dĩ nhiên, nhiều Kitô Hữu nghi ngờ rằng một số những "tân tòng" này không phải là Kitô Hữu thực sự. Họ là Do Thái giả dạng Kitô Hữu. Điều thú vị là sự cáo buộc những người "tân tòng" này lại xuất phát từ người Do Thái khi họ giận dữ thấy người đồng hương của họ từ bỏ Do Thái Giáo. Những người Do Thái này không sợ phải làm chứng trước Tòa Thẩm Tra bởi vì họ là người Do Thái nên được miễn trừ khỏi sự tài phán. Kamen nói rõ, chính đại pháp quan tòa thẩm tra, Tomás de Torquemada, có tổ tiên là người Do Thái.

Các phiên xử của Tòa Thẩm Tra, theo Kamen, thường công bằng và khoan dung hơn các tòa đời, không chỉ ở Tây Ban Nha nhưng còn trên toàn Âu Châu. Thường hình phạt ban ra là một số hình thức sám hối, tỉ như ăn chay hoặc điều mà chúng ta ngày nay gọi là "dịch vụ công cộng." Bao nhiêu người bị hành quyết vì tội lạc giáo bởi Tòa Thẩm Tra? Kamen ước lượng khoảng 2,000. Các sử gia đương thời ước lượng từ 1,500 đến 4,000. Những cái chết này đều bi thảm, nhưng chúng ta phải nhớ rằng nó kéo dài trong khoảng thời gian 350 năm.

Thí dụ hay nhất về việc tôn giáo gây ra bạo động ở Mỹ Châu là các phiên xử phù thủy ở Salem. Bao nhiêu người bị giết trong các phiên tòa đó? Hàng ngàn? Hàng trăm? Thực sự, ít hơn hai mươi lăm. Mười chín người bị tử hình, và một vài người chết vì tù đầy. Tuy vậy, các phiên xử phù thủy được ghi lại trong sách, phim ảnh, và kịch bản như The Crucible của Arthur Miller. Miller muốn dùng các phiên xử Salem như báo trước sự thiệt hại nặng nề của phong trào McCarthy, nhưng ông không biết rằng thí dụ của ông thực sự đã minh chứng ngược lại. Tuy các phiên xử này sai lầm, chúng chỉ gây thiệt hại cho một ít người. Người chết thì ít, tiếng ồn ào thì nhiều.

Thật thích thú khi thấy các văn gia vô thần tìm cách phóng đại sự khủng khiếp của các phiên tòa phù thủy. Trong cuốn The Demon-Haunted World, Carl Sagan viết về các phiên tòa phù thủy ở Âu Châu, "Không ai biết rõ tất cả bao nhiêu người chết—có lẽ hàng trăm ngàn, có lẽ hàng triệu." Đó là một "có lẽ" lớn lao. Sagan không dẫn chứng các tài liệu, và sự kết luận thích hợp nhất là ông không biết gì cả. Người vô thần thân thiết của ông là Sam Harris, người thực sự có đọc về vấn đề này, dẫn chứng các nguồn lịch sử hiện đại cho biết số phù thủy bị thiêu thì ít hơn; khoảng 100,000. Đó là một con số đáng kể, nhưng nó khác xa với sự ước lượng quỷ ám của Sagan, và Harris nhận xét, 200 phần trăm ít hơn một vài ước lượng lố bịch trước đây.

Tuy vậy, Harris lý luận, "Con số được tiết lộ như vậy không làm giảm bớt sự khủng khiếp và bất công của thời kỳ này." Tại sao không? Hãy áp dụng cách suy diễn của ông vào các biến cố lịch sử khác để thấy sự vô lý hiển nhiên. Hai trái bom nguyên tử ở HiroshimaNagasaki gây nên khoảng 100,000 người chết, và người ta vẫn còn tiếp tục tranh luận về quyết định của Tổng Thống Truman khi chấm dứt chiến tranh theo kiểu này. Nhưng hãy giảm bớt con số tử vong theo hệ số 200, theo kiểu cách của Harris, và chúng ta chỉ còn 500 người chết cho hai quả bom. Theo lời của Harris, nó "không làm giảm bớt sự khủng khiếp và bất công" của các trái bom này hay sao? Trái lại là đàng khác, nó sẽ đánh tan nhiều sự kinh khiếp và hiển nhiên giảm bớt bất cứ cuộc tranh luận nào về tính cách chính đáng về hành động của Truman.

Khi bạn không thích nói đến con số, đây là lúc hãy thử một số lý luận có tính cách giả thuyết. Với cái nón triết gia to tướng, Carl Sagan hỏi làm thế nào người văn minh Âu Châu lại có thể bỏ qua vụ thiêu sống phù thủy. Ông trả lời, "Nếu chúng ta tuyệt đối chắc chắn rằng đức tin của chúng ta thì đúng, và của người khác thì sai… thì vụ thiêu phù thủy sẽ tái diễn trong những thay đổi không cùng." Nói cách khác, nó có thể tái diễn, và ngay tại Hoa Kỳ. Nhưng điều này có đáng tin cậy không? Carl Sagan tin ở sự tiến hóa, Đại Thanh (Big Bang), và nhiều thứ khác. Tôi dám chắc là ông ta tin mình tuyệt đối đúng, và kẻ thù của ông là những người theo thuyết sáng tạo và duy văn tự thì tuyệt đối sai. Ngay cả vậy, Sagan cũng chưa đốt một ai. Tôi tin có một số điều tuyệt đối đúng, và ngay cả vậy hồ sơ cá nhân của tôi về vụ thiêu phù thủy là một thí dụ. Nếu bạn đến Salem ngày nay, bạn sẽ thấy các phù thủy đang phát triển mạnh. Họ không thèm thuê nhân viên an ninh khi họ phù phép—thật vậy, họ trở nên những gì thu hút các du khách. Hiển nhiên Sagan đang bị bệnh hoang tưởng.

Còn Cuộc Chiến Ba Mươi Năm thì thế nào? Sự tranh chấp này bao gồm Thánh Đế Rôma và các tiểu bang Tin Lành ở Đức kéo dài từ 1618 đến 1648. Trong khi hiển nhiên có động lực tôn giáo, các sử gia ngày nay nhấn mạnh rằng các cuộc chiến này phần lớn được châm thêm dầu bởi các cuộc tranh dành quyền lực chính trị. Việc phát sinh các quốc gia Âu Châu đưa đến sự đụng độ về lãnh thổ và ảnh hưởng. Chúng ta có thể thấy làm thế nào các động lực chính trị đã trùm lấp động lực tôn giáo trong vai trò của Công Giáo Pháp trong các giai đoạn sau cùng của cuộc chiến: vì lo ngại sức mạnh của thế lực Công Giáo lớn nhất thế giới, Thánh Đế Rôma, Đức Hồng Y Richelieu, một chính khách của Pháp, đã thành lập một lực lượng gồm những người Thụy Sĩ và Pháp để giúp phía Tin Lành.

Cũng như trong cuộc Chiến Ba Mươi Năm, nhiều sự xung đột hiện nay được coi là "chiến tranh tôn giáo" thì không thực sự đánh nhau vì tôn giáo. Đây là điểm dường như không bao giờ được chấp nhận bởi các người vô thần như Dawkins và Harris. Dawkins than phiền rằng truyền thông cứ nhấn mạnh đến những tranh chấp trong vùng Bắc Ái Nhĩ Lan, Balkan, và Iraq là "có tính cách sắc tộc" thay vì tôn giáo. Nhưng truyền thông thì đúng và Dawkins thì sai. Đây là những kình địch sắc tộc. Dawkins gọi cuộc đụng độ giữa người Shiite và Sunni ở Iraq là "tận tuyệt tôn giáo." Thật vô nghĩa. Ngoài những người cực đoan của nhóm al Qaeda, cuộc chiến ở Iraq là giữa một nhóm, có liên hiệp với bạo chúa Saddam Hussein, cai trị Iraq trong một phần tư thế kỷ, và một nhóm khác—phần đông là người Shiite—mà hiện thời đang nắm quyền. Tôn giáo không dính dáng nhiều đến cuộc chiến cốt nhục tương tàn này.

Dawkins đưa ra một vài thí dụ, và tất cả đều phản lại ông. Cuộc xung đột giữa Do Thái và Palestin, tại cốt lõi của nó, thì không phải xung đột tôn giáo. Đúng hơn, nó phát sinh từ những tranh chấp về chủ quyền và đất đai. Hamas và các phần tử chính thống cực đoan ở Israel có thể đề ra chủ trương có tính cách thần học—"Thiên Chúa ban phần đất này cho chúng tôi"—nhưng dù không có những động lực tôn giáo này, sự xung đột vẫn giữ nguyên bản chất. Nhưng không phải là người Do Thái chiến đấu cho phần đất này là vì đó là đất thánh sao? Không, họ chiến đấu vì đây là phần đất tổ tiên và, sau vụ Holocaust, nhiều người Do Thái tin rằng họ chỉ cảm thấy an toàn trong quê hương của mình. Những người sáng lập quốc gia Do Thái là người đời, không phải bởi tôn giáo, là Do Thái Giáo. Tổ chức Giải Phóng Palestin xuất phát từ một nhóm theo chủ nghĩa dân tộc thế tục.

Sự canh tranh sắc tộc, không phải tôn giáo, là nguồn căng thẳng trong vùng Balkan. Christopher Hitchens vô cớ đề nghị rằng "sự tận tuyệt sắc tộc" của vùng Balkan phải gọi là "tận tuyệt tôn giáo" dù ông thú nhận rằng "chủ nghĩa dân tộc bài ngoại" và mở rộng lãnh thổ thay vì tôn giáo là các động lực chính cho sự bạo động. Sang đến Bắc Ái Nhĩ Lan, Hitchens kể một chuyện khôi hài mà ông không thấy rằng nó làm suy yếu lý luận của ông. Một ông đang đi trên đường ở Belfast thì có một tên cầm súng nhẩy ra, chĩa vào ông và hỏi, "Tin Lành hay Công Giáo?" Ông trả lời, "Không bên nào cả. Tôi vô thần." Nghe vậy, tên kia hỏi, "Vô thần Công Giáo hay vô thần Tin Lành?" Điểm chính của câu chuyện là Tin Lành hay Công Giáo thì không thành vấn đề vì tôn giáo không thực sự là vấn đề. Trong cùng kiểu cách như vậy, người Tin Lành và Công Giáo trong vùng Bắc Ái Nhĩ Lan không đánh nhau vì học thuyết tôn giáo. Họ đánh nhau vì vấn đề chủ quyền và nhóm nào sẽ cai trị quốc gia.

Ngay cả khi tôn giáo hiển nhiên không phải là vấn đề,  các văn gia vô thần hiện đại cứ bẻ cong chứng cớ để kết tội tôn giáo. Hãy để ý đến sự phân tích của Sam Harris về sự xung đột ở Sri Lanka. Harris tìm cách buộc tội tín đồ về việc ôm bom tự sát. Tuy nhiên ông có một khó khăn. Những người sáng chế ra hình thức ôm bom tự sát là nhóm Tamil Tigers. Vì thế Harris phải tìm cách. "Trong khi các động lực của nhóm Tamil Tigers thì không hiển nhiên có tính cách tôn giáo, họ là người Ấn Giáo, là những người tin tưởng vô căn cứ vào bản chất của sự sống và sự chết. Việc tôn thờ sự tử đạo mà họ ấp ủ trong nhiều thập niên có nhiều nét tôn giáo mà người ta mong đợi ở những người hy sinh mạng sống thật dễ dàng cho chính nghĩa." Nói cách khác, trong khi nhóm Tigers tự coi mình là dân quân trong sự xung đột chính trị thế tục về đất đai và quyền tự quyết, Harris khám phá ra một động lực tôn giáo bởi vì tình cờ những người này là Ấn Giáo và tất nhiên phải có sự điên khùng tôn giáo ở đằng sau để giải thích cho sự cuồng tín của họ.

Tôi không từ chối rằng tôn giáo có thể là một lý do để tự cho mình là công chính, và xu hướng này có thể dẫn đến sự bách hại và vũ lực. Trong quá khứ, nó đã từng xảy ra. Trong thế giới Hồi Giáo, sự bạo lực nhân danh tôn giáo vẫn là một vấn đề nghiêm trọng. Nhưng với tín hữu Kitô, sự bạo động nhân danh tôn giáo, thật may mắn, nó đã đi vào quá khứ.

Tôi kết thúc chương này bằng cách đưa ra lý do tại sao nó lại như vậy. Trong tiểu thuyết của Dostoevsky The Brothers Karamazov, một trong những người anh em này kể câu chuyện của vị đại pháp quan tòa thẩm tra, trong đó chính Đức Kitô xuất hiện trước tòa. Người bị nhận diện và bị tống vào ngục. Tối hôm đó, viên đại pháp quan đến thăm Người. Ông yêu cầu Người hãy "ra đi và đừng bao giờ trở lại nữa." Lý do rất hiển nhiên. Những điều Đức Kitô dậy bảo là những điều của một người xây dựng hòa bình. Chúng rất trái với sự bách hại và bạo lực mà đôi khi xuất hiện dưới danh nghĩa Kitô Giáo. Chúa Giêsu nói trong Mátthêu 7:1-5, "Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán. Vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy; và anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em… Hỡi kẻ đạo đức giả, hãy lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi ngươi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em ngươi." Điều này có lẽ không luôn luôn là tinh thần của Kitô Hữu trước đây, và nó không luôn luôn là tinh thần của tất cả Kitô Hữu ngày nay. Nhưng đó là tinh thần của vị sáng lập và là ánh sáng dẫn đường của Kitô Giáo, và nó tiếp tục cung cấp một tiêu chuẩn cao quý cho một thế giới mệt mỏi vì chiến tranh và bạo lực.

Dinesh D'Souza

(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)