Cau Xin Me

QUYỀN GIẾT NGƯỜI: THUYẾT VÔ THẦN
VÀ SỰ TÀN SÁT TRONG LỊCH SỬ

"Không có Thiên Chúa và đời sống tương lai? Sau đó thì loài người sẽ như thế nào? Nó có nghĩa là bất cứ gì bây giờ cũng được phép."
Fyodor Dostoevsky, The Brothers Karamazov

T

rong khi họ thường đổi lỗi cho tôn giáo đóng vai trò cổ vũ xung đột và bạo lực, các văn gia thế tục ít khi duyệt xét vai trò của thuyết vô thần trong việc tạo ra chiến tranh và sự sát nhân. Điều thú vị là chúng ta thường nghe về sự đau khổ trong lịch sử do tôn giáo gây nên, nhưng ít khi nghe nói về sự đau khổ do thuyết vô thần gây ra. Năm trăm năm sau vụ Tòa Thẩm Tra, chúng ta vẫn còn nói về điều đó, nhưng sau khi "Cộng Sản vô thần" sụp đổ chưa đến hai thập niên, đã có sự im lặng kỳ lạ về các nấm mộ tập thể của quần đảo Gulag của Xô Viết. Tại sao thiếu vắng sự giải thích và trình bầy trách nhiệm? Có phải thuyết vô thần có nghĩa không bao giờ bạn phải hối tiếc?

Các văn gia vô thần thú nhận rằng người vô thần, cũng như người có tôn giáo, đôi khi làm những điều khủng khiếp. Theo Richard Dawkins, "Vấn đề là… liệu thuyết vô thần có ảnh hưởng đến dân chúng để làm điều xấu một cách có phương pháp hay không. Không có một chút chứng cớ nào như vậy." Nói cách khác, "Cá nhân người vô thần có thể làm điều xấu nhưng họ không làm sự dữ nhân danh thuyết vô thần." Vật lý gia Steven Weinberg thừa nhận rằng thuyết vô thần khoa học "có góp phần cho sự đau khổ của thế giới" nhưng "nơi nào thẩm quyền khoa học được viện dẫn để bào chữa cho sự kinh khiếp, thực sự nó là những xuyên tạc của khoa học."

Trong chương này, tôi muốn chú ý đến các tội ác lớn lao thực sự được gây ra bởi các nhóm và chính phủ vô thần. Trong một trăm năm qua hay hơn, các chế độ vô thần thế lực nhất—Cộng Sản Xô Viết, Cộng Sản Trung Hoa, và Đức Quốc Xã—đã quét sạch dân chúng với con số vô cùng to lớn. Stalin chịu trách nhiệm cho khoảng hai mươi triệu người chết, qua sự tàn sát tập thể, trại lao động cưỡng bách, tòa án công khai và đội hành quyết, tái định cư dân chúng để chết đói, và vân vân. Sự nghiên cứu đáng tin cậy mới đây của Jon Halliday và Jung Chang về Mao: The Unknown Story cho rằng chế độ Mao Trạch Đông đã đưa đến cái chết của bẩy mươi triệu người. Một số học giả Trung Hoa cho rằng con số của Chang và Halliday thì hơi cao, nhưng các tác giả này trưng dẫn bằng chứng rằng chế độ vô thần của Mao tàn sát nhiều người nhất trong lịch sử thế giới. Sự tàn sát của Mao và Stalin—không giống như của Thập Tự Chinh hay Cuộc Chiến Ba Mươi Năm—được thi hành trong thời bình và đối với người dân trong nước. Hitler đứng hạng thứ ba với khoảng mười triệu người chết, sáu triệu là người Do Thái.

Cho đến bây giờ, tôi chưa kể đến các vụ ám sát và lệnh giết người của các nhà độc tài Sô Viết như Lenin, Krushchev, Brezhnev, và vân vân. Tôi cũng không bao gồm một số bạo chúa vô thần "kém hơn" tỉ như: Pol Pot, Enver Hoxha, Nicolae Ceausescu, Fidel Castro, Kim Jong-il. Ngay cả những bạo chúa "cỡ nhỏ" này cũng giết rất nhiều người. Hãy để ý đến Pol Pot, lãnh tụ của nhóm Khờ-me Đỏ, là bè phái Cộng Sản cai trị Cambốt từ 1975 đến 1979. Trong vòng thời gian bốn năm, Pol Pot và ý thức hệ cách mạng của ông đã thi hành việc tái định cư và giết người tập thể được ước lượng là một phần năm dân số Cambốt, khoảng 1.5 đến 2 triệu người. Thật vậy, số phần trăm dân chúng mà Pol Pot giết thì nhiều hơn Stalin và Mao giết chính dân của họ. Ngay cả vậy, chỉ cần chú ý đến bộ ba vĩ đại—Stalin, Hitler và Mao—chúng ta phải biết rằng các chế độ vô thần này đã giết trên một trăm triệu người chỉ trong một thế kỷ.

Việc giết người gây nên bởi tôn giáo không thể nào sánh với việc thảm sát của các chế độ vô thần. Tôi thấy rằng mật độ dân số ngày xưa thấp hơn, và ngày nay thật dễ giết người với các vũ khí tối tân hơn là các thế kỷ trước với gươm giáo và cung tên. Ngay cả chỉ chú ý đến mức độ dân số, bạo lực vô thần vượt quá bạo lực tôn giáo đến độ ngạc nhiên. Đây là một bài toán sơ sài. Dân số thế giới từ khoảng 500 triệu vào năm 1450 tăng đến 2.5 tỉ vào năm 1950, gia tăng gấp năm. Tổng hợp tất cả, Thập Tự Chinh, Tòa Thẩm Tra, và thiêu đốt phù thủy, khoảng 200,000 người. Điều chỉnh theo sự gia tăng dân số, điều đó tương đương với một triệu người chết hôm nay. Ngay cả vậy, số tử vong đó gây nên bởi các chế độ Kitô Giáo trong một giai đoạn hơn năm trăm năm cũng chỉ bằng 1 phần trăm người chết gây nên bởi Stalin, Hitler và Mao trong khoảng thời gian vài thập niên.

Dawkins dường như lừa dối chính mình khi nghĩ rằng những sự ghê tởm này không được tạo nên bởi thuyết vô thần. Nhưng ai có thể cho rằng thuyết cộng sản không phải là một ý thức hệ vô thần? Chủ thuyết cộng sản kêu gọi diệt trừ tầng lớp bóc lột, nó đề cao vũ lực như một kiểu cách tiến bộ xã hội, và nó kêu gọi phải dùng bất cứ phương tiện nào cần thiết để đạt đến xã hội vô thần không tưởng. Không chỉ có Marx là người vô thần, nhưng thuyết vô thần còn là phần chính của học thuyết Mácxít. Thuyết vô thần trở nên yếu tố chính của hệ tư tưởng chủ yếu của Liên Bang Xô Viết, nó vẫn còn là chủ nghĩa chính của Trung Cộng, và Stalin và Mao áp đặt chính sách vô thần bằng cách đóng cửa các nhà thờ và giết hại các linh mục và tín đồ. Tất cả các chế độ cộng sản đều mạnh mẽ bài trừ tôn giáo, điều đó cho thấy thuyết vô thần là thực chất chứ không chỉ là phụ thuộc đối với ý thức hệ của họ.

Tương tự, Đức Quốc Xã là một triết thuyết thế tục, chống tôn giáo mà, thật lạ lùng, có nhiều điểm giống với thuyết cộng sản. Trong khi người cộng sản muốn ban thêm quyền lợi cho giới tư sản, Đức Quốc Xã muốn ban thêm quyền cho một giống dân đứng đầu. Với người cộng sản, kẻ thù là giai cấp tư bản; với Đức Quốc Xã, kẻ thù là người Do Thái và các giống dân khác được cho rằng yếu kém hơn. Người cộng sản và Đức Quốc Xã đối xử với các giáo hội Kitô Giáo như những chướng ngại vật và kẻ thù. Cả hai nhóm đều tuyên bố rằng họ tiến hành cuộc cách mạng để tạo thành một nhân loại mới và một xã hội mới không bị xiềng xích bởi tôn giáo truyền thống và luân lý truyền thống.

Khi so sánh tội ác của tôn giáo và tội ác của thuyết vô thần, thật quan trọng để chúng ta áp dụng một tiêu chuẩn kiên định. Triết gia Daniel Dennett cung cấp một tiêu chuẩn như vậy trong cuốn Breaking the Spell. Ông đề nghị tôn giáo được xét xử bởi các hậu quả của nó, hoặc, như Kinh Thánh diễn tả, "xem quả thì biết cây." Dennett không cần biết là các hậu quả này có phải là ý định của người sáng lập tôn giáo hoặc có tiêu biểu cho các giá trị cao quý của tôn giáo hay không. Ông không muốn tách biệt những giảng dậy đích thật của tôn giáo với những lệch lạc của nó. "Đúng là những người cuồng tín ít được linh hứng, hay được dẫn dắt bởi các giáo lý sâu xa và tốt nhất trong các truyền thống tôn giáo đó. Có gì khác? Sự khủng bố của Al Qaeda và Hamas vẫn là trách nhiệm của Hồi Giáo, và việc gài bom bệnh xá phá thai vẫn là trách nhiệm của Kitô Giáo." Đây là một điểm rất hay. Hãy chấp nhận tiêu chuẩn của Dennett. Nhưng vậy thì bởi chính tiêu chuẩn này, hàng triệu người bị thảm sát bởi Stalin, Hitler, và Mao—chưa kể những nạn nhân của các bạo chúa cấp nhỏ--tất cả đều thuộc trách nhiệm của thuyết vô thần.

Than ôi, Steven Weinberg muốn có cả hai cách. Weinberg hiển nhiên tin rằng các tội ác của tôn giáo phản ánh bộ mặt thật của tôn giáo, trong khi tội ác của các chế độ vô thần tượng trưng cho sự sái trệch của tinh thần vô thần trong việc tìm kiếm có tính cách khoa học và hữu lý. Qua các tiêu chuẩn của Dennett, đây là một sự thoái thác. Nếu Kitô Giáo phải trả lời cho Torquemada, thuyết vô thần phải trả lời cho Stalin. Vì thế cho nên, nếu một Kitô Hữu bình thường, là người chưa bao giờ thiêu đốt ai, nhưng phải chịu trách nhiệm cho những người tự xưng là Kitô Hữu khi hành động nhân danh Kitô Giáo,  thì người vô thần nào nghĩ mình tử tế hơn, nhân từ hơn cũng không được miễn tội vì những đau khổ khủng khiếp mà niềm tin của họ đã gây nên trong lịch sử cận đại. Weinberg mập mờ đánh lận con đen cho rằng Kitô Giáo phải chịu trách nhiệm về những sự dữ được thi hành, trong khi tìm cách bào chữa thuyết thế tục và vô thần về những tội ác lớn lao hơn được chúng gây ra.

Cùng một chiều hướng, Sam Harris tìm cách miễn tội cho thuyết vô thần bằng cách cho rằng chủ nghĩa của Stalin và Mao "khác chút đỉnh với một tôn giáo có tính cách chính trị." Christopher Hitchens đưa ra một loại lý luận tương tự, cho rằng khi những người theo Stalin và Mao tìm cách thay thế tôn giáo, các ý thức hệ đó phải được coi là các tôn giáo thay thế. Chẳng lẽ bây giờ tôn giáo lại phải chịu trách nhiệm cả tội ác của những người vô thần đã vi phạm hay sao?

Đối với Đức Quốc Xã, Harris viết rằng "sự hận thù người Do Thái ở Đức… thì xuất phát trực tiếp từ Kitô Giáo thời trung cổ." Thật vậy, "biến cố Holocaust đánh dấu tột đỉnh của… hai trăm năm người Kitô tức giận người Do Thái." Bởi đó, "có cố ý hay không, Đức Quốc Xã là tay chân của tôn giáo." Các trang web vô thần đều đều cho rằng Hitler là một tín hữu Kitô vì ông là người Công Giáo đạo gốc, chưa bao giờ công khai từ bỏ Công Giáo, và đã viết trong cuốn Mein Kampf, "Khi tôi tự vệ đối với người Do Thái, tôi chiến đấu cho công việc của Chúa."

Những lời cáo buộc này có sức thuyết phục như thế nào? Hitler sinh trong gia đình Công Giáo cũng như Stalin sinh trong Giáo Hội Chính Thống Nga và Mao được lớn lên trong gia đình Phật Giáo. Các sự kiện này chẳng nói lên điều gì cả, vì nhiều người khi lớn lên cũng từ chối tôn giáo gốc của họ cũng như ba ông kia. Từ khi còn nhỏ, sử gia Allen Bullock viết, Hitler "không dành chút thời giờ cho giáo lý Công Giáo, coi đó là một thứ đạo chỉ thích hợp cho người nô lệ, và ghê tởm các nguyên tắc xử thế của đạo." Vậy chúng ta giải thích thế nào về điều Hitler rêu rao rằng khi thực hiện chương trình bài Do Thái, ông là một khí cụ của Thiên Chúa? Trong thời kỳ lên nắm quyền, Hitler cần sự hỗ trợ của dân Đức—cả người Công Giáo Bavari và người Phổ theo Tin Lành Luther—và để đạt được điều này, thỉnh thoảng ông dùng lời hoa mỹ, tỉ như "Tôi đang làm công việc của Chúa." Cho rằng lời hoa mỹ này làm cho Hitler trở nên một Kitô Hữu là lầm lẫn giữa chủ nghĩa cơ hội chính trị với sự tin tưởng cá nhân. Chính Hitler nói trong Mein Kampf rằng những tuyên bố công khai của ông phải được hiểu là sự tuyên truyền không có liên hệ gì đến sự thật nhưng để lung lay đám đông.

Ý tưởng của Đức Quốc Xã cho rằng Đức Kitô là một người thuộc dòng giống Aryan, người đã dùng gươm để quét sạch người Do Thái khỏi mặt đất—điều mà có lần Hitler gọi là "Kitô Giáo Tích Cực"—hiển nhiên là một tách biệt triệt để với sự hiểu biết của truyền thống Kitô Giáo, và bị lên án bởi Đức Giáo Hoàng Piô XI vào lúc bấy giờ. Hơn thế nữa, thái độ bài Do Thái của Hitler không phải là tôn giáo, nó có tính cách chủng tộc—thật vậy nhiều người Đức gốc Do Thái hoàn toàn thế tục trong lối sống của họ--nhưng chỉ vì chủng tộc của họ. Đây là một chọn lựa dân tộc không phải là một tôn giáo.

Chúng ta có thể thấy sự khác biệt bằng cách nhìn vào thái độ đối với người Do Thái trong thời trung cổ Âu Châu.  Trong thế kỷ mười lăm ở Tây Ban Nha, một người Do Thái có thể thoát khỏi sự bách hại của Kitô Hữu bằng cách trở lại Kitô Giáo. Ferdinand và Isabella không chống đối dân Do Thái ở Tây Ban Nha; họ chống đối việc thực hành Do Thái Giáo trong một nơi mà họ muốn là hoàn toàn Công Giáo. Ngược lại, sự chống đối người Do Thái của Hitler không có tính cách tôn giáo. Một người Do Thái không thể thoát khỏi trại tử thần Auschwitz bằng cách tuyên bố rằng, "Tôi không còn sống đạo Do Thái," "Tôi là người vô thần," hoặc "Tôi đã trở lại Kitô Giáo." Điều này không đáng kể đối với Hitler vì ông tin rằng người Do Thái là dòng giống tồi tệ. Thái độ bài Do Thái của ông có tính cách thế tục.

Hitler's Table Talk, một tuyển tập được tiết lộ về quan điểm riêng tư của Hitler do một cận vệ gom góp trong thời chiến, cho thấy Hitler chống đối tôn giáo cách cuồng dại. Ông gọi Kitô Giáo là một "tai họa" lớn nhất lịch sử, và nói về người Đức, "Hãy là dân tộc duy nhất không bị lây bệnh dịch này." Ông hứa rằng "qua tầng lớp nông dân chúng ta sẽ có thể tiêu diệt Kitô Giáo." Thật vậy, ông đổ lỗi cho người Do Thái đã phát sinh ra Kitô Giáo. Ông còn kết án Kitô Giáo vì sự chống đối thuyết tiến hóa. Hitler đặc biệt khinh miệt các giá trị Kitô Giáo về sự bình đẳng và lòng thương người, mà ông coi là yếu hèn. Các cố vấn hàng đầu của Hitler—Goebbels, Himmler, Heydrich và Bormann—là những người vô thần rất ghét tôn giáo và tìm cách tẩy sạch ảnh hưởng của nó ở Đức.

Một số văn gia vô thần như Christopher Hitchens tìm cách đẩy Hitler vào khuôn khổ tôn giáo bằng cách nói rằng Đức Quốc Xã là một "hiện tượng hầu như là ngoại giáo." Các văn gia này viết, có thể Hitler là người đa thần, thờ các thần ngoại giáo, nhưng đa thần thì vẫn là hữu thần. Lý luận này quên đi sự khác biệt giữa ngoại giáo cổ xưa và ngoại giáo hiện đại. Thật đúng là Hitler và Đức Quốc Xã lấy nhiều từ nguyên mẫu cổ điển—phần lớn là huyền thoại người Nordic và Teutonic—để đem cho họ cái nhìn phảng phất huyền bí. Nhưng đây là thuyết thần bí thế tục, không phải thần bí tôn giáo. Người Đức cổ thực sự tin vào các thần ngoại giáo của họ. Tuy nhiên, Hitler và Đức Quốc Xã dựa trên thần thoại cổ dưới hình thức hiện đại được gán cho họ bởi Nietzsche và Wagner. Với Nietzsche và Wagner, thần thoại cổ có đúng hay không thì không thành vấn đề. Wagner không còn tin vào thần Norse cũng như Nietzsche không còn tin vào Apollo. Với Hitler và Đức Quốc Xã, các thần thoại cổ thì có giá trị vì chúng đem lại chiều sâu và sự quan trọng cho một quan niệm thế tục cơ bản về thế giới.

Sử gia Richard Evans viết rằng "Đức Quốc Xã coi các giáo hội là cơ quan dự trữ kiên cố nhất về ý thức hệ, trái với các quy tắc mà họ tin tưởng." Một khi Hitler và Đức Quốc Xã lên nắm quyền, họ phát động một chiến dịch tàn nhẫn nhằm đàn áp và làm suy yếu các Giáo Hội Kitô Giáo ở Đức. Evans vạch rõ rằng sau 1937 các chính sách của chính phủ Hitler ngày càng chống đối tôn giáo. Người Đức Quốc Xã không còn mừng lễ Giáng Sinh, và tổ chức Thanh Niên Hitler đọc kinh cảm tạ Hitler thay vì Thiên Chúa. Hàng giáo sĩ được coi là "người phá rối" và bị cấm không được rao giảng, hàng trăm người bị cầm tù, và nhiều người bị giết. Các nhà thờ thường xuyên dưới sự theo dõi của mật vụ Gestapo. Đức Quốc Xã đóng cửa các cơ sở giáo dục của tôn giáo, ép buộc các tổ chức Kitô Giáo phải giải tán, tịch thu tài sản giáo hội, và kiểm duyệt sách báo tôn giáo. Harris không thể giải thích làm thế nào một ý thức hệ mà Hitler và đồng bọn nhận biết như một sự bài trừ Kitô Giáo lại được trình bầy như một "cực điểm" của Kitô Giáo.

Nếu Đức Quốc Xã có tiêu biểu cho cực điểm của bất cứ gì, chính là ý thức hệ vào đầu thế kỷ hai mươi về thuyết Darwin xã hội. Như sử gia Richard Weikart ghi nhận, cả Hitler và Himmler là những người ái mộ Darwin và thường nói về vai trò của họ là ban hành một "luật tự nhiên" mà nó đảm bảo "loại trừ cái không thích hợp." Weikart lý luận rằng chính Hitler "gom góp dồi dào tư duy Darwin để đưa ra triết lý kỳ thị chủng tộc của chính ông" và kết luận rằng trong khi thuyết Darwin thì không phải là một giải thích "đầy đủ" về Đức Quốc Xã, nó là một sự "cần thiết". Nếu không có thuyết Darwin, có lẽ không có chủ nghĩa Đức Quốc Xã.

Đức Quốc Xã cũng lấy từ triết gia Friedrich Nietzsche, đưa triết thuyết vô thần vào các mục đích thô bạo của mình. Cái nhìn của Nietzsche về ubermensch và ông đề cao một đạo đức mới "vượt trên sự thiện và sự dữ" được say sưa ưa chuộng bởi những người tuyên truyền cho Đức Quốc Xã. "Từ ý muốn đến quyền lực" của Nietzsche hầu như trở nên khẩu hiệu để tuyển mộ của Đức Quốc Xã. Tôi không có ý định gì cho rằng Darwin hay Nietzsche sẽ tán thành với ý tưởng của Hitler. Nhưng Hitler và tay sai đã tán thành ý tưởng của Darwin và Nietzsche. Sam Harris đã quên đi chứng cớ về sự đồng tình của Đức Quốc Xã với Darwin, Nietzsche và thuyết vô thần. Vậy dựa trên ý nghĩa nào chúng ta có thể chấp nhận điều Harris thường rêu rao là các lãnh tụ Đức Quốc Xã là các tay sai của tôn giáo dù "biết hay không biết"? Hiển nhiên, điều đó vô nghĩa.

Một số người bày tỏ sự hoang mang rằng các chế độ vô thần đã gây nên các cuộc tắm máu mà không có một lực lượng nào khác trong lịch sử có thể sánh được. Chính Dawkins nên lên câu hỏi làm thế nào một sự thiếu vắng niềm tin có thể tạo nên sự thiệt hại cho xã hội.  Dawkins không biết rằng những niềm tin sâu sa nhất của ông đem lại manh mối cho "giải pháp sau cùng." Những tên sát nhân vô thần coi mục tiêu của họ quá lớn lao và quá ưu tú đến độ không gì có thể được phép chắn lối. Họ tự cho mình là đang hành động nhân danh các động lực không thể lay chuyển và không thể tranh luận như khoa học, lý lẽ và sự tiến bộ.

Khoa học? Phải, Đức Quốc Xã coi họ đang cổ vũ sự sống còn của những gì thích hợp nhất, đúng với đường lối tiến hóa đã xảy ra. Lý lẽ? Cộng sản thấy chương trình của họ như một thể chế hóa thời đại lý lẽ. Marx nằm trong truyền thống Khai Sáng của Jacobin Pháp, là người đã tấn phong nữ thần lý lẽ trong Vương Cung Thánh Đường Đức Bà và sau đó cho công bố Triều Đại Kinh Hoàng, trong đó những người "vô lý"—giới quý tộc, linh mục, và các đại diện khác của thời xưa—đều bị đưa đến máy chém. Và sự tiến bộ? Như người cộng sản và Đức Quốc Xã thường nhấn mạnh, lịch sử đứng về phía họ, và vì thế các đối thủ của họ là tôn giáo hoặc tư sản phản động là những người phải bị loại trừ vì họ làm trì trệ bước tiến của xã hội. Sự thần thánh hóa khoa học, lý lẽ, và tiến bộ của trần thế--một học thuyết đầy dẫy ngày nay—thì đúng là điều đã cho phép con người thi hành những gì đối với người khác trong một phương cách và một mức độ mà trước đây không ai dám nghĩ đến.

Một lý do thứ hai của những kinh hoàng của các chế độ vô thần là vì chúng hành động mà không có bất cứ hạn chế gì về luân lý, là sản phẩm của tôn giáo và, tuy không nhiều, nó đã giữ tay các bạo chúa khát máu trong quá khứ. Nietzsche đã nhìn thấy điều này xảy ra. Trong thế kỷ mười chín, ông đã tiên đoán rằng hai thế kỷ sắp tới sẽ có tai biến vì chiến tranh và bạo lực ngoài sức tưởng tượng. Nietzsch viết, cái chết của Thiên Chúa sẽ gây nên sự hoàn toàn lu mờ của mọi giá trị. Vì giá trị không còn xuất phát từ Thiên Chúa, giờ đây chúng sẽ được tạo thành bởi con người. Và vì con người là hậu duệ từ loài vật—một ý tưởng Nietzsche lấy từ Darwin—con người dường như sẽ ưa thích giá trị của libido dominandi (sức sống làm chủ) mà chúng ta thấy mọi nơi trong thiên nhiên. Những người mạnh sẽ tiêu diệt người yếu với cùng một lý do như con sư tử ăn con nai. "Luân lý ông chủ" đánh bại "luân lý nô lệ." Nó trở nên vô dụng để cầu việc đến sự trắc ẩn và lòng thương người và sự tao nhã không còn nữa. Điều đó giống như nói với các con sư tử rằng chúng phải chấm dứt là sư tử.

Nói cách khác, cuộc tắm máu của vô thần là sản phẩm của một ý thức hệ hiện đại xấc xược mà nó coi con người, chứ không phải Thiên Chúa, là người sáng tạo các giá trị. Khi chối bỏ Thiên Chúa, con người ngày càng khinh bỉ học thuyết về tội lỗi con người và tin vào sự tuyệt hảo của bản tính con người. Giờ đây loài người tìm cách thay thế Thiên Chúa và tạo thành một chủ nghĩa không tưởng trần tục trên mặt đất. Để đạt được điều này, các nhà cai trị vô thần đặt ra sự kiểm soát toàn thể xã hội. Chúng sáng chế ra một hình thức chuyên chế triệt để hơn bất cứ gì mà các nhà cầm quyền trước đây đã toan tính: mọi khía cạnh của đời sống đều bị kiểm soát của chính trị. Dĩ nhiên, nếu một số người—Do Thái, địa chủ, người không thích hợp, người tàn tật, người bất đồng, và vân vân—phải bị tái phân phối, giam cầm, hay thanh toán để đạt được điều không tưởng này, đây là giá mà các bạo chúa vô thần cho thấy họ rất sẵn sàng muốn trả. Các quy luật luân lý cũ không còn áp dụng, và các chức năng vô thần bình thường sẽ làm một pháp quan toà thẩm tra rúng động. Các chế độ vô thần, bởi hành động của chúng, xác nhận châm ngôn của Dostoevsky là sự thật: nếu không có Thiên Chúa, mọi sự đều được phép.

Bất cứ lý do gì để giải thích cho hành động của các chế độ vô thần, sự kiện không thể chối cãi là dù có gom lại tất cả mọi tôn giáo trên thế giới trong ba ngàn năm qua cũng không giết người nhiều đến độ như các chế độ vô thần thi hành trong một vài thập niên qua. Đã đến lúc phải từ bỏ câu thần chú vô nghĩa rằng niềm tin tôn giáo là động lực chính của sự tranh chấp và bạo động của con người. Thuyết vô thần, chứ không phải tôn giáo, phải chịu trách nhiệm cho những sự sát hại tập thể của lịch sử.

Dinesh D'Souza

(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)