|
"Dân ngoại là những người không có luật (Mô-sê); nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì luật dạy, họ cho thấy rằng những điều kiện của luật đã được viết trong tâm hồn của họ."
Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma, 2:14
ôn giáo và luân lý dường như là hai điều khác biệt, và tuy vậy, nhiều sự chống đối Kitô Giáo dường như xuất phát từ sự chống đối với luân lý Kitô Giáo. Với nhiều người, luân lý này dường như không bó buộc, độc đoán, và ngay cả ác độc. Richard Dawkins diễn tả nó như thế này: "Không hồ nghi gì Thiên Chúa của Cựu Ước là nhân vật khó chịu nhất trong các câu truyện: ghen tương và hãnh diện về sự ghen tương, một người kiểm soát bất công, không tha thứ; một người diệt chủng cách hận thù, khát máu; một người ghét đàn bà, sợ đồng tính luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết trẻ em, diệt chủng, độc hại, hoang tưởng, có tính ác thống thông dâm, ác ý thất thường." Không còn giọng điệu khoa học nữa, và Dawkins cho thấy rằng ông không chỉ không tin vào Thiên Chúa của Kitô Giáo, ông còn ghê tởm Người. Vậy, có phải luân lý là một bộ luật phổ quát được ban hành bởi một bù nhìn thần thánh có râu dài và ngón tay ve vẩy? Hoặc có phải tốt hơn nên hiểu luân lý theo các danh từ tự nhiên và thế tục, như các quy tắc thích ứng mà chúng ta đưa ra trong đời sống để phục vụ các mục đích của con người, tỉ như hòa bình và cùng hiện diện?
Trong chương này tôi sẽ cho thấy rằng đây là một sự lựa chọn sai lầm. Luân lý thì vừa tự nhiên và vừa có tính cách phổ quát. Nó có thể khám phá mà không cần tôn giáo, tuy nhiên nguồn gốc của nó thì hoàn toàn bởi Thiên Chúa. Thuyết Darwin thử giải thích luân lý theo cách thuần túy thế tục nhưng đó là một thất bại, và mỗi người chúng ta đều biết—dù chúng ta từ chối điều đó một cách gian xảo đến đâu đi nữa—có những tiêu chuẩn tuyệt đối đúng và sai, và đây chính là các tiêu chuẩn mà chúng ta dùng để phán đoán cách đối xử của người khác. Không phải luân lý Kitô Giáo cản trở sự tự do luân lý của chúng ta; chính là lương tâm, sự phán đoán bên trong.
Các người vô thần nổi tiếng đổ lỗi cho tôn giáo—và đặc biệt là Kitô Giáo—vì áp đặt luân lý khắc nghiệt lên con người và vì vậy ngăn cản sự tự do của họ. Tiêu biểu là Christopher Hitchens, ông kết án Kitô Giáo là một "phong trào ghê sợ áp đặt sự chính thống lên một giới tự do và đa nguyên và thế tục." Đồng thời Hitchens và các người vô thần khác nhấn mạnh rằng họ không chống đối luân lý. Họ đảm bảo với chúng ta rằng họ cũng có luân lý như các tín hữu, nếu không muốn nói là nhiều hơn thế, và luân lý đó là điều có thể xảy ra mà không phải nhìn nhận Thiên Chúa hay tôn giáo. Daniel Dennett nhận xét rằng "có nhiều người vô thần và bất khả tri khôn ngoan, tận tụy, có luân lý" và những người không có đức tin ấy dường như không hành động tệ hơn hay tốt hơn Kitô Hữu. Richard Dawkins viết " nếu niềm tin nơi Thiên Chúa bỗng dưng biến mất khỏi thế giới, nó đòi hỏi một tự trọng thật thấp để nghĩ rằng tất cả chúng ta sẽ trở nên nhẫn tâm và khoái lạc cách ích kỷ, không còn tử tế, không còn bác ái, không còn độ lượng, không còn bất cứ gì xứng đáng với danh từ thiện hảo." Sự phản đối của người vô thần không phải đối với luân lý nhưng đối với luân lý tuyệt đối. Thay vì luân lý xuất phát từ các điều răn Thiên Chúa ở bên ngoài, người vô thần nghĩ về luân lý như do con người tạo ra, là điều gì đó được khuôn đúc qua cảm nghiệm cá nhân và tập thể.
Tôi nghĩ có nhiều điều mà người vô thần nói ở đây, nhưng sau cùng tôi sợ họ quên điểm chính. Trước hết, tôi không rõ làm thế nào để thẩm định lý luận của Darwin về tính cách luân lý của thuyết vô thần, bởi vì một xã hội tôn giáo bỗng dưng bị mất đi Thiên Chúa có lẽ sẽ vẫn giữ được nhiều kiểu cách suy tư và hành động của Kitô Hữu. Ngay cả vậy, tôi quen biết nhiều người vô thần, và tôi vui để làm chứng rằng họ có thể là người tốt và đáng khâm phục. Cả Hume và Darwin đều nổi tiếng về thái độ đứng đắn và có luân lý, và tôi tin E. O. Wilson khi ông viết rằng tuy không phải là một Kitô Hữu, ông chia sẻ hầu hết các đức tính Kitô Giáo. Tôi cũng được biết nhiều tín đồ phá vỡ các giới răn không thua gì người vô thần. Tiểu thuyết gia Evelyn Waugh có lần trả lời câu hỏi, "Làm thế nào một người Công Giáo như ông lại quá trụy lạc và thù hận?" với lời đối đáp cổ hủ, "Hãy nghĩ xem tôi còn tệ hơn nữa nếu không phải là một người Công Giáo!"
Có ba vấn đề chính ở đây: Có luân lý phổ quát hoặc khách quan không? Nó có nền tảng tôn giáo không? Làm thế nào để biết? Chúng ta quen nói về các quy tắc khoa học của thiên nhiên. Thật có giá trị để hỏi có các quy tắc luân lý về bản tính con người hay không. Nhiều người trong chúng ta là các thừa kế bất đắc dĩ của một triết lý mà nó từ chối luân lý khách quan. Chúng ta cho rằng khoa học thì khách quan, nhưng các giá trị thì chủ quan. Chúng ta tin là có thể biết được các điều khoa học nhưng luân lý là một vấn đề quan điểm. Trên căn bản này, chúng ta nói những điều như "đừng áp đặt niềm tin của bạn lên tôi" trong khi không bao giờ chúng ta nói "đừng áp đặt cách làm toán của bạn lên tôi." Tuy vậy có bao giờ chúng ta nghĩ rằng có thể có những quy tắc luân lý trong thiên nhiên mà chúng không kém đáng tin cậy và có thể lĩnh hội được như các quy tắc khoa học hay không?
Con người thì độc đáo về nhiều phương diện, nhưng đặc biệt nhất: chúng ta là các sinh vật có luân lý. Hơn cả ngôn ngữ, hơn cả tính cách hợp lý, chính bản tính luân lý của chúng ta đã phân biệt con người khác với ngay cả các thú vật có liên quan với chúng ta nhất. Nhà động vật linh trưởng học (primatologist) Frans de Waal, người nghiên cứu các con tinh tinh (chimpanzee) và đã thi hành nhiều điều để nhấn mạnh đến tính chất gần gũi của chúng với con người, ông thú nhận rằng luân lý là một điều mà các con tinh tinh không có. "Thật khó để tin rằng các thú vật biết cân nhắc giữa tư lợi đối với ích lợi của các con thú khác, hoặc chúng có một quan điểm để có lợi ích hơn cho xã hội, hoặc chúng cảm thấy có tội về điều gì đó mà chúng không nên làm." Chúng ta có thể nói với con Bonzo, "Mày không được làm như thế" và "Mày là con tinh tinh xấu xa!" nhưng đó là cách nói của chính chúng ta. Chúng ta không có cách chi biết rằng các con tinh tinh đó cũng cảm thấy như vậy.
Sự phân biệt giữa con tinh tinh và con người đưa đến một ngăn cách sâu xa hơn khiến con người tách biệt với toàn thể vũ trụ. Tất cả các vật thể khác, sống động hay không, hoạt động theo các quy luật về vật lý hay khoa học. Treo lủng lẳng một khúc xương trước miệng con chó, dù rằng nó mới ăn no, nó sẽ đi theo khúc xương. Phản ứng của nó là một sản phẩm của một bản năng dường như không thể kiểm soát được. Đặt một tảng đá lớn trên một dốc nghiêng, tự động nó sẽ lăn xuống. Trong vật thể không có sự lựa chọn. Nó chỉ tuân theo các quy tắc vật lý.
Nhưng con người không giống như vậy. Con người sống trong hai thế giới, lãnh vực vật lý và lãnh vực luân lý. Nếu ai đó nhục mạ mẹ của bạn, bạn sẽ phản ứng, "Ông không nên làm như vậy." Khi một người cho bạn biết họ mới lừa dối gia đình, bạn sẽ nói với họ là đừng nên nói dối. Những câu nói thông thường này thì hiển nhiên khác biệt với các quy tắc vật lý. Nó không có nghĩa gì cả khi nói rằng trái đất phải xoay chung quanh mặt trời hoặc sẽ là điều không đúng nếu nó không làm như vậy. Một quy luật tự nhiên thì có thể đúng hoặc sai, nhưng nó không thể bị phá vỡ. Như Carl Sagan có viết, "Thiên nhiên… sắp đặt sự vật để sự cấm cản của nó không thể bị vi phạm."
Có những bộ phận của bản tính con người hoạt động theo các quy luật sống động tự nhiên. Nếu bạn cù chân tôi, tôi sẽ cười. Nếu bất cứ ai trong chúng ta ăn thực phẩm bị hư, nó sẽ làm bao tử cồn cào. Nếu chúng ta rơi từ một tháp cao, chúng ta sẽ đâm xuống đất. Đây là các quy tắc vật lý và hóa học đang hoạt động trên chúng ta, và chúng ta không có sự lựa chọn. Ngược lại, có một phần của bản tính con người không có tính cách sống động nhưng theo phong tục. Chứng minh đơn giản của điều này là các quy tắc luân lý và giới răn, không giống như luật tự nhiên, chúng có thể bị vi phạm.
Hãy thảo kính cha mẹ. Chớ giết người. Chớ lấy của người. Không có điều răn nào vừa kể có ý nghĩa nếu chúng ta không có sự lựa chọn. Nhưng không chỉ có vậy. Khi loài người chúng ta dùng đến ngôn ngữ luân lý—ca ngợi và trách mắng, chấp thuận và không chấp thuận, tán thưởng và khinh thường—chúng ta cầu viện đến tiêu chuẩn phán đoán chung ở bên ngoài chúng ta. Hãy gọi tiêu chuẩn này là luật tự nhiên hay luật luân lý. Nó khác với các quy tắc khoa học tự nhiên vì nó không nói chúng ta làm gì nhưng những gì phải làm. Hậu quả là chúng ta có tự do để phá vỡ các quy luật này theo một phương cách mà chúng ta không được tự do vi phạm các quy tắc về trọng lực.
Bởi chính bản chất của nó, các quy tắc luân lý thì vừa phổ quát và vừa khách quan. Điều này dường như không rõ ràng khi thoạt nhìn qua. Không phải là các thực hành luân lý của các văn hóa khác nhau trên thế giới thay đổi rất nhiều sao? Trong xã hội của chính chúng ta, không có sự đa dạng luân lý sao? Dường như không có luân lý phổ quát, khách quan. Tuy nhiên, một kết luận như thế phát sinh từ sự sai lầm về sự kiện và sai lầm về sự hợp lý. Chắc chắn rằng lối đối xử luân lý của các văn hóa thế giới cho thấy rất nhiều thay đổi. Carl Sagan viết rằng có các văn hóa như người Ik ở Uganda, "là nơi tất cả Mười Điều Răn dường như bị bỏ quên một cách có hệ thống, có tổ chức." Tôi chưa hoàn tất việc nghiên cứu về nhân chủng học của người Ik, nên tôi không thể nói là ông ấy đúng hay sai. Nhưng hãy giả sử là ông ấy đúng. Nó chứng tỏ điều gì? Có phải người Ik rất khác biệt với chúng ta? Nhưng chúng ta cũng sống trong một nền văn hóa mà Mười Điều Răn cũng bị bỏ qua một cách có hệ thống, có tổ chức. Thí dụ của Sagan dường như xác nhận một thói quen không phải đa dạng nhưng đồng nhất.
Nhưng ngay cả các thí dụ tốt hơn cũng không minh chứng điểm của Sagan. Hãy nói rằng cuộc điều tra về nhân chủng học cho thấy người Ik thường xuyên đánh vợ. Nhưng có phải điều này chứng minh rằng đánh vợ là điều đúng để thi hành? Dĩ nhiên không. Sự kiện có bất đồng luân lý không có nghĩa là thiếu sót luân lý phổ quát. Làm thế nào một sự kiện về lối đối xử, dù quái gở và thay đổi, làm mất hiệu lực của những gì đúng?
Sẽ là điều thú vị khi thực hiện một cuộc thăm dò toàn cầu để biết xem mọi nền văn hóa trên thế giới có chấp nhận thuyết tâm mặt trời hay không. Giả sử rằng cuộc thăm dò ấy cho thấy có những người ở Nam Mỹ và Đông Nam Á, dù được biết về lý lẽ của Copernicus, được hỗ trợ bằng các hình ảnh từ các phi thuyền không gian, nhưng họ vẫn dứt khoát từ chối không cho rằng trái đất xoay chung quanh mặt trời. Những người này vui thích khi thấy có một người tên là Ptolemy chủ trương quan điểm trái ngược, và họ quyết định đi theo Ptolemy. Từ câu chuyện này, liệu có ai kết luận rằng thuyết tâm mặt trời đã bị bác bẻ? Đề nghị này thật vô lý. Tôi thực sự tin rằng có nhiều nền văn hóa trên thế giới, ngay cả hôm nay, sẽ hăng hái tẩy chay thuyết tiến hóa của Darwin và thuyết tương đối của Einsteins. Điều này không có nghĩa là các quy tắc khoa học thì tương đối, nó chỉ cho thấy rằng thì ra những người tẩy chay các thuyết trên thì sai. Như vậy, chứng cớ của hàng trăm bộ lạc và những quan điểm khác biệt rộng rãi về luân lý thì không thể làm suy yếu nhận thức về luân lý phổ quát.
Trong vài thập niên qua, các nhà nhân chủng học đã so sánh giữa các quy tắc và thói quen của vài nền văn hóa trên thế giới. Trong những kết quả tìm thấy, có hai điều quan trọng cho mục đích của chúng ta. Thứ nhất, luân lý có tính cách phổ quát. Các học giả biết rằng không có nền văn hóa nào, quá khứ hay hiện tại, mà không có một hệ thống luân lý. Tuy các tiêu chuẩn luân lý có thể thay đổi từ văn hóa này sang văn hóa kia, hoặc ngay cả trong một nền văn hóa đặc biệt, mọi nền văn hóa đều phân biệt "điều gì đó" khác với "điều phải là." Thật không thể nào một nền văn hóa có thể vượt lên trên luân lý hoặc tránh khỏi luân lý.
Thứ hai, tính cách đa dạng của luân lý mà chúng ta thường nghe thì thật sự được thổi phồng quá đáng. Đặc biệt là các tôn giáo chính trên thế giới, đại diện cho phần lớn nhân loại trên địa cầu, bất đồng nhiều về Thiên Chúa nhưng lại đồng ý nhiều về luân lý. Mọi tôn giáo lớn đều có hình thức nào đó về Quy Luật Vàng: hãy làm cho người khác những gì bạn muốn họ làm cho bạn. Năm 1993, thần học gia Hans Kung thành lập một "quốc hội" gồm đại diện của các tôn giáo lớn trên thế giới, kể cả người Do Thái, Kitô Hữu, Hồi Giáo, Ấn Giáo, và Phật Giáo. Nhóm này cho công bố bản tuyên ngôn về tín điều chung, bao gồm cả một chuỗi các giá trị luân lý nằm trong phạm vi tôn giáo.
Luân lý thống nhất này thì không bị giới hạn trong độc thần giáo hoặc ngay cả các văn hóa tôn giáo. Người Hy Lạp và Rôma có nhiều giảng dậy về luân lý giống như Do Thái Giáo và Kitô Giáo, tuy Athens và Rôma đã từng là các đế quốc đa thần. Trong cuốn Analect, Khổng Tử nói lưu loát về các giáo huấn cùng một loại, tuy giáo huấn của ông là một loại luân lý không có nền tảng thần học. Các nhà nhân chủng học cũng khám phá nhiều quy tắc luân lý tương tự trong các nền văn hóa có tính cách duy linh hoặc không có các tín điều chính thức. Vào đầu thế kỷ hai mươi, các học giả như Margaret Mead đi vào những vùng xa xôi và vội vàng cho biết, "Thật tình, ở đây họ không làm những điều giống như vậy." Nhưng thực chất của sự nghiên cứu này đã được duyệt lại dưới ánh sáng của những cuộc nghiên cứu cẩn thận hơn sau này.
Phải, có sự đa dạng về thói quen luân lý, nhưng rất ít thay đổi về tiêu chuẩn luân lý. Nhóm này có thể cho phép một vợ và nhóm kia ba bốn vợ, nhưng mọi nhóm đều đồng ý về tính cách cần thiết của gia đình và bổn phận luân lý phải cấp dưỡng cho con cái. Trong cuốn The Moral Sense, James Q. Wilson cho rằng có một văn phạm luân lý ăn sâu trong bản năng loài người. Sách nghiên cứu Human Universals của Donald Brown tiết lộ trên ba trăm kiểu cách đối xử không thay đổi, kể cả một loạt những tin tưởng luân lý mà tất cả nền văn hóa lớn đều có chung. Hãy lấy hai thí dụ của ông, nhiều nền văn hóa có thể đặt ra các hoàn cảnh mà trong đó được phép nói dối hay hành động hèn nhát, nhưng không một nền văn hóa nào coi sự thiếu thành thật và hèn nhát là những đức tính.
Vậy, chúng ta nói gì về tính cách tương đối—một học thuyết có ảnh hưởng nói rằng luân lý thì tương đối? Tôi đồng ý rằng thuyết tương đối có một vài giá trị, trong đó ngay cả những người trong cùng một xã hội cũng bất đồng ý về nội dung của luân lý. Có những cuộc tranh luận về tính cách ưu tiên của quy tắc luân lý này đối với quy tắc kia. Các cá nhân và ngay cả các xã hội cũng bất đồng ý về cách áp dụng một nguyên tắc luân lý vào một trường hợp rõ rệt. Nhưng về sự hiện hữu của các quy tắc luân lý thì không có sự bất đồng. Hậu quả là tính cách tương đối của thói quen và niềm tin luân lý thì không cách chi phá vỡ tính cách tuyệt đối của luân lý. Thật vậy tôi lập luận rằng luân lý không chỉ tuyệt đối, nhưng mọi người, kể cả những người tự nhận là theo chủ thuyết tương đối, biết rằng luân lý thì tuyệt đối. Thuyết tương đối trong ý nghĩa thuần túy của nó thì đơn giản không hiện diện.
Nếu bạn bị chất vất bởi một người theo thuyết tương đối, là người cả quyết rằng mọi luân lý thì tương đối, bạn hãy tự nhiên đấm vào mặt họ. Nếu họ không phản ứng, đấm nữa. Vào lúc nào đó họ sẽ phản đối, "Điều đó không đúng. Bạn không được làm như vậy." Và rồi bạn có thể giải thích cho họ là hành động của bạn thì thuần túy có giáo dục. Bạn chỉ chứng minh cho họ rằng ngay cả họ cũng không tin thuyết tương đối. Sự chống đối của họ không phải là "Tôi không thích bị đánh" nhưng là "bạn không được thi hành điều đó." Họ đã cầu viện đến một tiêu chuẩn không thay đổi mà họ mong muốn được bạn chia sẻ, đó là điều mà bạn đang thi hành thì sai lầm.
Một cách khác để bày tỏ quan điểm, khi bạn nghe ai đó long trọng hóa các giá trị tương đối, thì hãy tìm một giá trị mà họ trân quý và chỉ trích giá trị ấy. Đây là một phương cách hữu dụng bởi vì hầu hết khi người ta từ chối tính cách tuyệt đối của luân lý, họ dùng chiến thuật hùng biện để tấn công một luân lý nào đó mà bạn chủ trương. Thí dụ, một số người phóng khoáng thường thảo luận về các đề tài như cần sa ma túy, hình ảnh khiêu dâm, và đĩ điếm bằng cách nói rằng "Làm thế nào bạn lại áp đặt lên tôi những điều bạn tin tưởng? Ai có thể nói điều đó đúng?" Dường như họ từ chối tính cách tuyệt đối của luân lý. Nếu họ không ý thức, có thể họ tin tưởng như vậy.
Do đó phương cách để cho thấy họ chỉ lừa gạt và thuyết tương đối mà họ đưa ra chỉ là chiến thuật là hãy sỉ nhục các giá trị luân lý mà họ ưa chuộng. Thí dụ, bạn có thể nói, "Tôi không biết tại sao chúng ta lại có các luật cấm kỳ thị chủng tộc và tấn công người đồng tính luyến ái. Làm sao người ta dám hợp pháp hóa luân lý?" Hoặc "Tôi ngạc nhiên khi thấy người ta chống đối mạnh mẽ với lá cờ Liên Hiệp. Tôi không nghiêng về phe này hay phe kia, nhưng vì luân lý thì tương đối, có ai đó thực sự dám nói rằng chính nghĩa của miền Nam thì sai lầm không?" Hoặc "Vấn đề môi sinh đâu có gì quan trọng? Tại sao tôi lại phải gìn giữ địa cầu cho thế hệ tương lai? Thế hệ tương lai có làm gì cho tôi đâu?" Hãy nói những điều này như thể bạn rất tin tưởng, dù bạn không tin như thế.
Trước khi bạn chấm dứt, tôi nghĩ bạn sẽ thấy người ấy xăn tay áo lên, cả quyết rằng sự thành kiến và kỳ thị chủng tộc thì vô luân lý và bất công, và rồi chúng ta phải đặt ra lề luật để giới hạn chúng và bảo vệ môi sinh. Khi xác nhận các học thuyết này người ấy không có ý nói rằng quan điểm của họ về sự cố chấp và môi sinh thì đơn giản là vấn đề sở thích cá nhân. Họ ám chỉ rằng mọi người sẽ phải cảm thấy như vậy, và không một người đứng đắn nào lại đối xử theo kiểu cách trái với các quy tắc của họ. Có thể họ bỏ quên luật luân lý theo kiểu cách mà họ phản ứng với bạn, nhưng họ mau mắn nêu lên điều đó như một tiêu chuẩn mà họ mong đợi bạn hành động đối với họ. Nói tóm, hành động của họ xác nhận rằng tuy họ lớn tiếng từ chối, họ cũng coi luân lý là một điều tuyệt đối.
Ý niệm luân lý tuyệt đối rất phù hợp với tôn giáo bởi vì sự sống đời sau trở nên nơi gặp gỡ mà trong đó có phần thưởng và hình phạt. Nếu không có thiên đàng và hỏa ngục, đời sống trên mặt đất sẽ trở nên rất bất công. Nhiều người vi phạm luật luân lý và họ giầu có, và nhiều người tuân giữ luân lý phải đau khổ. Câu chuyện có thực sự chấm dứt như vậy không? Theo Ấn Giáo, bạn bị trừng phạt qua sự đầu thai. Nếu bạn sống tệ hại ở đời này, bạn có thể là con dán ở kiếp sau. Trong Do Thái Giáo, Kitô Giáo, và Hồi Giáo thì không có đầu thai nhưng có sự Phán Xét Sau Cùng, trong đó mọi công việc khi ở trần thế được giải quyết và sự công chính được thể hiện. Trong khung cảnh tôn giáo, những vi phạm luật luân lý chung cũng được coi như các vi phạm luật Chúa, và được đặt cho một tên mới: tội.
Các quy tắc luân lý không chỉ dễ dàng hòa nhập vào khung cảnh tôn giáo, nhưng sự hiện diện của một luân lý phổ quát, tuyệt đối còn là một lý do mạnh mẽ bào chữa cho sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nếu có các quy tắc luân lý mà nó hoạt động bên ngoài lãnh vực luật tự nhiên, những quy tắc này xuất phát từ đâu? Có quy tắc luân lý có nghĩa có người ban hành các quy tắc này. Nói cách khác, Thiên Chúa là tiêu chuẩn sau cùng của sự tốt lành. Thiên Chúa chịu trách nhiệm cho sự phân biệt giữa tốt và xấu mà nói chung chúng ta coi đó như sự bó buộc hành động của con người. Các tiêu chuẩn này thì đặc biệt đối với loài người, điều này ám chỉ rằng có điều gì đó đặc biệt về chúng ta, và Thiên Chúa để ý đến lối sống của chúng ta.
Như thế sự hiện diện của luân lý tuyệt đối đề ra một thách đố lớn cho người vô thần. Các người ủng hộ thuyết Darwin như Daniel Dennett, Steven Pinker, và Richard Dawkins tìm cách đối phó với thách đố này. Họ cố gắng giải thích luân lý như một sản phẩm của sự tiến hóa và sự lựa chọn tự nhiên. Con người làm điều tốt và hành động vị tha, và xét bề ngoài, sự vị tha này dường như trái với quy tắc tiến hóa là mọi tạo vật hành động có lợi cho chính mình để tồn tại và sinh sôi nẩy nở. Dennett và Dawkins dựa trên công trình của các người tiên phong về tiến hóa như R. A. Fisher, W. D. Hamilton, và Robert Trivers để cho thấy rằng điều tưởng là vị tha thì thực sự là một chiến thuật lâu dài để tồn tại và sinh sôi mà đã được lập trình vào gien (gene).
Có hai danh từ quan trọng ở đây: "sự lựa chọn bà con" và "vị tha hỗ tương". Lựa chọn bà con có nghĩa tự giúp mình qua cách tuyển chọn tự nhiên. Nhưng trong mô hình này sự lựa chọn tự nhiên hoạt động không ở mức cá nhân nhưng ở mức gien. Chính các gien được lập trình để tự tồn tại mãi, ngay cả khi chúng ta—các bộ máy sinh tồn của chúng—bị tiêu hủy trong tiến trình. Richard Dawkins trình bầy lý luận này rất đầy đủ trong cuốn The Selfish Gene.
Qua lý lẽ này, một người mẹ lao vào chiếc xe đang bốc cháy để cứu đứa con bị kẹt trong đó thì không phải là một hành động thuần túy vị tha. Con của bà chia sẻ gien của bà, và hành động của bà được giải thích tốt nhất là một nỗ lực để đảm bảo rằng gien của bà sẽ được tiếp nối vào thế hệ kế tiếp. Ngay cả khi bà chết, gien của bà còn tiếp tục qua đứa con. Ưu điểm của "sự lựa chọn bà con" là nó giúp giải thích tại sao chúng ta liều lĩnh và hy sinh cho gia đình: đó là những người gần với chúng ta nhất về phương diện gien. Chúng ta ít liều lĩnh và ít hy sinh hơn cho họ hàng: họ cũng liên hệ với chúng ta về gien, nhưng xa hơn. Nhà sinh vật học J. B. N. Haldane có lần châm biếm rằng ông sẽ sẵn sàng hy sinh cho "hai người em và tám người bà con."
Còn người lạ thì sao? Thuyết của Darwin nói rằng chúng ta phải lạnh nhạt với họ vì họ xa lạ với chúng ta về phương diện gien. Tuy vậy, chúng ta trao đổi với người lạ và cùng sống với họ và đối xử với họ tử tế và công bằng. Người của Darwin giải thích điều này là một hậu quả của "vị tha hỗ tương," mà về luân lý nó tương đương với "tôi tốt với bạn, để bạn sẽ tốt với tôi." Kiểu cách này có thể dưới nhiều hình thức—"trước hết hãy tốt với tôi, và rồi tôi sẽ tốt với bạn" hoặc "tôi tiếp tục tốt với bạn một khi bạn còn tốt với tôi"—nhưng tổng quát họ cho rằng luân lý là một chiến thuật được chúng ta sử dụng vì mục đích lâu dài của chính chúng ta. Người theo Darwin đi xa hơn nữa để đặt ra các chiến thuật này, họ sử dụng đến lý thuyết về trò chơi và những sự loại suy tối nghĩa lấy từ con kiến và con dơi, nhưng tôi không cần nói lại các lý luận ấy; tính cách hợp lý bên dưới thì hiển nhiên và đủ sức thuyết phục.
Vấn đề là toàn thể khuôn khổ phân tích của người theo Darwin thì không giống với sự giải thích về luân lý. Nó tự hạn hẹp trong việc giải thích sự vị tha, nhưng nó chỉ thành công trong việc giải thích điều có thể gọi là "vị tha thấp". Nhưng con người còn có "vị tha cao" mà có thể được định nghĩa như lối đối xử không có lợi về gien hay tính cách hỗ tương. Một ông nhường ghế cho một bà lão trên xe buýt. Bà ta không là gì đối với ông, và chắc chắn ông không nghĩ rằng một ngày kia bà ta hoặc ai đó sẽ nhường ghế cho ông. Ông nhường ghế chỉ vì ông là người tốt. Không có sự hữu lý kiểu Darwin để có thể giải thích cho lối đối xử của ông.
Richard Dawkins thú nhận rằng thuyết Darwin không thể giải thích tại sao người ta lại hiến máu, một sự kiện mà ông viết là "sự vị tha thuần túy không có lợi" mà nó không đem ích lợi cho gien. Mô hình Darwin cũng không thể giải thích câu châm ngôn của Đức Kitô "hãy yêu kẻ thù." Hoặc của Mẹ Têrêsa, cả cuộc đời tận tụy chăm sóc người bệnh và hấp hối ở đường phố Calcutta. Hoặc của câu chuyện người Samari Tốt Lành đã giúp đỡ người lạ bị cướp của.
Trước đây ít lâu, tôi đọc một câu chuyện có thật của một linh mục Công Giáo, Maximilian Kolbe, là tù nhân trong trại tập trung của Đức Quốc Xã vì những hoạt động chống Đức Quốc Xã. Hàng ngày, Đức Quốc Xã chọn một người trong nhóm để hành quyết. Một trong những người được chọn đã van xin được tha vì ông còn vợ con, là những người tùy thuộc vào ông để sống. Khi lính Đức Quốc Xã chuẩn bị kéo ông đi, vị linh mục đứng lên và nói, "Để tôi thế chỗ cho ông ta." Bọn Đức Quốc Xã không thể hiểu được và từ chối, nhưng vị linh mục nài nỉ. Ông được thế chỗ này cũng không thể hiểu, bởi thế vị linh mục nói với ông, "Tôi không có gia đình. Tôi già rồi, và không được nhớ đến như ông." Sau cùng bọn lính đồng ý, và vị linh mục bị chết. Người được thế chỗ đã sống sót sau cuộc chiến và trở về với gia đình.
Darwin phải giải thích thế nào cho sự hy sinh của Linh Mục Kolbe? Đơn giản chẳng có gì cả. Ernst May, một nhà sinh vật học tiến hóa nổi tiếng, thú nhận rằng "sự vị tha đối với người lạ là một thái độ không được hỗ trợ bởi sự lựa chọn tự nhiên." Tôi rất tôn trọng công trình của Fisher, Trivers, và các người khác trong lãnh vực này, và tôi nghĩ rằng có lúc những người theo thuyết tiến hóa sẽ đưa ra nhiều giải thích tốt hơn về văn hóa và luân lý con người. Nhưng tôi tiên đoán là sự giải thích của họ về luân lý sẽ thất bại theo sự hạn hẹp của Darwin. Chương trình của Darwin cần giới hạn trong lãnh vực lợi ích riêng, và bản chất của luân lý thì hoạt động trái với tư lợi. Toàn thể ý nghĩa của luân lý là bạn thi hành những gì phải làm, không phải những gì bạn có khuynh hướng hay những gì bạn thích. Luân lý được diễn tả trong ngôn ngữ của bổn phận, và bổn phận là điều mà chúng ta buộc phải làm dù muốn hay không, dù có lợi cho chúng ta hay không.
C. S. Lewis minh chứng điểm này với một thí dụ thật hay mà tôi thay đổi cho phù hợp với mục đích. Bạn đang rảo bước bên bờ sông, và bạn nghe có tiếng kêu cứu của ai đó bị chìm. Bạn là người bơi không giỏi và người kia không là gì của bạn. Nếu đó là anh em của bạn, có lẽ bạn sẽ nhẩy xuống, vì họ có cùng gien với bạn. Nếu một nhóm họ hàng của bạn trên chiếc tầu đang chìm, có lẽ bạn sẽ nhẩy xuống cứu, bởi vì điều này có thể là một chiến thuật hợp lý để gien của bạn được tiếp tục qua bà con, họ hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người bị chìm không có liên hệ gì với bạn. Sự tuyển chọn bà con thì không có dính dáng, và sự vị tha hỗ tương cũng vậy, vì không hợp lý để nghĩ rằng sẽ có dịp người ấy liều mạng sống để cứu bạn. Và tuy vậy, Lewis nói rõ, có tiếng nói nhỏ bé trong đầu bạn nói rằng bạn phải nhẩy xuống nước để cứu người ấy. Các nhà tư tưởng kiểu Darwin biết rằng điều này không thể giải thích là "hành động cho sự tốt lành của xã hội" bởi vì tại sao những người thích tư lợi lại phải lo lắng cho sự tốt lành của xã hội trừ khi nó có lợi cho họ? Vì nếu bạn lo lắng cho sự tốt lành của xã hội thì ngay tự đầu bạn phải là một người vị tha, và đây là điều chúng tôi đang cố gắng giải thích.
Một câu trả lời tốt hơn là con người có một "bản năng kết đàn" hoặc một tình cảm tự nhiên theo bản năng đối với những người cùng dòng giống, và có lẽ điều này có thể giải thích cho các khuynh hướng trái ngược: một đàng nói rằng "hãy giúp đỡ," đàng khác lại nói "kệ nó, đừng giúp." Lewis nhận xét rằng ngay cả khi có sự giằng co như vậy, một tiếng nói thứ ba, khác với hai tiếng nói trước, xuất hiện. Đây là tiếng nói rằng bạn phải giúp đỡ. Nhẹ nhàng lên tiếng nhưng kiên quyết, tiếng nói này thúc giục bạn hãy lắng nghe khuynh hướng tốt nói rằng "hãy giúp đỡ" và quên đi khuynh hướng ích kỷ nói rằng "đừng giúp." Đó là tiếng nói sâu kín của lương tâm.
Nhiều người nghĩ rằng lương tâm chỉ là một tâm tình hay một khuynh hướng. Nhưng lương tâm, tự nó không phải là một khuynh hướng nhưng đúng ra là người phân xử các khuynh hướng, điều mà Adam Smith có lần gọi là "quan sát viên vô tư" để đem lại cảm nhận cao nhất về chính chúng ta. Khi có một khuynh hướng mạnh mẽ như bản năng sinh tồn và một khuynh hướng yếu ớt như bản năng giúp đỡ người xa lạ, lương tâm thường can thiệp về phía bản năng yếu hơn. Ngoại trừ trong những người bệnh hoạn, tiếng nói của lương tâm thì hiển nhiên và không thể chối cãi. Nó không dùng đến sự cưỡng bách khi thúc giục chúng ta tuân theo mệnh lệnh của nó, nhưng nó sử dụng đến vừa quyền lực của sự phê bình và vừa cả một loại phán đoán: bạn buộc phải thi hành điều này, bất kể bạn cảm thấy thế nào.
Không còn tiếng nói nào khác để nói với chúng ta theo kiểu cách này. Lương tâm là người dẫn dắt quanh năm và thầy dậy luân lý. Dường như nó không đòi hỏi gì khác hơn là chính nó, và nó cung cấp sự hướng dẫn cá biệt được thay đổi cho từng hoàn cảnh đặc biệt. Lương tâm thì không lưu tâm đến sự thuận tiện hay danh tiếng, và dường như nó hoạt động mạnh khi không có ai dòm ngó. Dĩ nhiên, chúng ta có thể từ chối lời cầu khẩn của lương tâm, nhưng nếu làm như vậy, chúng ta phải trải qua sự phán xét chính chúng ta bằng những tiêu chuẩn mà lương tâm đem lại. Lương tâm có khả năng áp đặt sự tự trách mình, sự hối hận, và sự xấu hổ, và đồng thời khiến chúng ta cảm thấy rằng các hậu quả đó thì xứng đáng. Quả thật đó là một trong những khía cạnh bí ẩn và mạnh mẽ của bản tính con người.
Với Kant, lương tâm là một loại tiếng nói trực tiếp lên tiếng với chúng ta trong chính chúng ta, đem lại cho chúng ta một sự chắc chắn mà nó không thể có ở bên ngoài hay kinh nghiệm. Đây là một cách diễn tả luân lý theo triết học, nhưng Lewis nói đơn giản hơn: lương tâm thì không gì khác hơn tiếng nói của Thiên Chúa trong linh hồn chúng ta. Nó là cây cầu nối liền giữa tạo vật và Tạo Hóa. Ngay cả người vô thần cũng nghe tiếng mời gọi bên trong này bởi vì ngay cả người vô thần cũng có luân lý trong con người họ, và dù người vô thần có thể chối bỏ Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không chối bỏ họ.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|