|
"Thật tuyệt vời khi không phải co dúm sợ hãi trước một vị thần đầy căm thù, là người đe dọa chúng ta với án phạt đời đời nếu chúng ta không tuân giữ các quy luật của thần ấy." Karen Armstrong, A History of God
rong chương trước đây chúng ta đã thấy làm thế nào nền luân lý trần tục, trong khi diễn hành dưới lá cờ của sự tự trị và tự thành đạt, lại có thể trở nên một tấm màn che đậy cho lối đối xử ích kỷ và vô trách nhiệm. Bây giờ là lúc đặt câu hỏi sâu xa hơn: có phải chính sự hoài nghi cũng được lôi cuốn bởi các động lực tương tự? Khi lắng nghe những người vô thần nổi tiếng, bạn sẽ nghĩ rằng lý do duy nhất mà họ từ chối Thiên Chúa là vì Người không đáp ứng những đòi hỏi của lý lẽ. Triết gia Bertrand Russell có lần được hỏi là ông sẽ nói gì nếu ông khám phá thấy rằng có sự sống sau khi chết. Russell vênh váo nói là ông sẽ bảo với Chúa, "Thưa ngài, ngài đã không cho tôi đủ chứng cớ." Trong suốt cuốn sách này tôi đã nghiêm trọng đưa ra những lý lẽ chống đối Russell và những người khác, nhưng bây giờ rõ ràng là thuyết vô thần không chỉ là một lựa chọn hợp lý. Sự hoài nghi, nhất là dưới giọng điệu gây hấn của Russell, Dawkins, hay Hitchens, thì không chỉ là một nhiệm vụ đi theo các chứng cớ bất cứ đâu nó đưa dẫn. Đúng ra, sự hoài nghi loại này đòi hỏi một sự giải thích đầy đủ hơn về tâm lý.
Hãy nhớ rằng người vô thần thường tìm cách đưa ra lý do tâm lý để giải thích cho sự đạo đức của tín hữu. Trong lời phê bình về tác phẩm của Hegel, Karl Marx đã nổi tiếng nói rằng tôn giáo là "thuốc phiện của dân chúng," có nghĩa rằng tôn giáo là một loại thoát ly thực tế hoặc một kiểu hoàn thành mong ước. Theo cái nhìn của Marx, dân chúng hấp thụ tôn giáo như một loại ma túy để làm họ tê liệt trước sự đau đớn và khổ sở ở chung quanh, và tự đem cho họ một loại ảo tưởng rằng những bất công ở đời này sẽ được chấn chỉnh ở đời sau. Sigmund Freud coi tôn giáo như một nơi ẩn náu hèn nhát để tránh khỏi những thực tại khắc nghiệt của đời sống và của cái chết không thể tránh. Chúng ta cảm thấy khuây khỏa khi nghĩ rằng có một thế giới khác được tách biệt khỏi sự khổ cực, bất công, và hoang mang của thế giới này. Như Michel Onfray, một người vô thần Pháp, mới viết, "Thiên Chúa là một ảo tưởng do con người sáng tạo để không phải đối diện với điều kiện thực tế." Một giải thích khác cho tính cách phổ thông của tôn giáo, vừa được diễn tả bởi James Haught trong cuốn Free Inquiry, là bằng những lời lẽ của sự hoàn thành mong ước của các nhà lãnh đạo muốn phục vụ mình. Theo quan điểm này, dường như rất phổ thông ngày nay, tôn giáo tồn tại là vì "các giáo hội và những người thánh thiện vui hưởng các kết quả và địa vị cao từ những điều siêu nhiên mà họ ban phát cho các tín hữu."
Tôi không tin bất cứ giải thích nào. Tôi đồng ý rằng có những tư tế và thầy tu là những con buôn tự thêu dệt mình, nhưng tại sao người ta lại đi theo các hệ thống ấy? Phải, trong tôn giáo có yếu tố của sự hoàn thành mong ước, nhưng không phải là loại mà người vô thần phỏng đoán. Thần học gia R. C. Sproul đưa ra điểm đáng chú ý: tại sao các môn đệ lại sáng chế ra một Thiên Chúa "mà sự thánh thiện của Người thì đáng kinh sợ hơn các sức lực trong thiên nhiên đến độ khích động họ phải trước hết sáng chế ra một Thiên Chúa?" Thiên Chúa của ba tôn giáo có tổ phụ là Abraham—Do Thái Giáo, Kitô Giáo, và Hồi Giáo—là một người đòi hỏi quá quắt, đòi hỏi chúng ta thanh sạch hơn là nuông chiều, có nhân đức hơn là sự tiện lợi, sống bác ái hơn là tự ban thưởng. Có những hình phạt nghiêm trọng đi liền với sự thất bại trầm trọng: với các tín đồ, sự chết là một điều lo sợ, nhưng án phạt đời đời còn đáng lo sợ hơn. Như vậy sự hoàn thành mong ước dường như sẽ làm nẩy sinh một Thiên Chúa rất khác biệt với Đấng đã được diễn tả trong Kinh Thánh. Sự hoàn thành mong ước có thể giải thích thiên đàng, nhưng nó không thể giải thích hỏa ngục. Ngay cả vậy, mục đích của tôi ở đây thì không phải là bác bỏ sự giải thích của người vô thần về sự lôi cuốn của tôn giáo. Tôi có ý định ngược lại và thay vào đó đặt ra vấn đề hấp dẫn của thuyết vô thần. Ai được lợi từ thuyết này? Tại sao quá nhiều người có thế lực ở Tây Phương lại thấy nó hấp dẫn? Nếu Kitô Giáo thật vĩ đại, sao không có nhiều người đổ xô đến mà đón nhận?
Ngay cả một số người vô thần thú nhận rằng họ muốn có một vũ trụ mà trong đó không có Thiên Chúa, không có linh hồn bất diệt, và không có sự sống đời sau. Nietzsche viết rằng "nếu có ai chứng minh Thiên Chúa của Kitô Hữu cho chúng ta, chúng ta lại còn ít tin vào Người hơn nữa." Về sự khả dĩ của đời sống sau khi chết, H. L. Mencken viết, "Xu hướng của riêng tôi là hy vọng rằng điều đó không có." Trong cuốn God: The Failed Hypothesis, vật lý gia Victor Stenger thú nhận rằng không những ông không tin Thiên Chúa, ông còn không thích Thiên Chúa của Kitô Giáo: "Nếu Người thực sự hiện diện, cá nhân tôi không muốn liên hệ gì với Người." Và triết gia Thomas Nagel vừa mới thú nhận "sợ chính tôn giáo." Như ông viết, "Tôi muốn thuyết vô thần là sự thật… Nó không chỉ là tôi không tin Thiên Chúa… Tôi không muốn có một Thiên Chúa; tôi không muốn một vũ trụ sẽ như vậy."
Ác cảm đối với tôn giáo và bám lấy thuyết vô thần trở nên một trở ngại đặc biệt khi bạn nghĩ rằng thuyết vô thần, xét theo bề ngoài, là một ý thức hệ ảm đạm. Nhiều người vô thần muốn miêu tả họ như các nhân vật quý phái mạo hiểm vào đêm giá lạnh, nổi cơn thịnh nộ với cái chết của ánh sáng, và đương đầu với sự vô nghĩa của nó. Điều này khiến tôi thấy có chút mầu mè, và không đáng tin cũng như chút hài hước ở đó. Như Michael Novak nhận xét, nếu không có Thiên Chúa, thì nổi cơn thịnh nộ ở cái gì? Có can đảm gì khi nhổ vào mặt của núi lửa hay cơn thủy triều? Các sức lực thiên nhiên thì không tốt cũng chẳng xấu; chúng là như vậy. Do đó, thái độ anh hùng đến tự đâu nếu người vô thần chấp nhận thế giới chỉ có vậy?
Các văn gia vô thần khác—và tôi sẽ xếp Sam Harris và Richard Dawkins thuộc loại này—dường như bình thản và hầu như vui thích về đời sống trong một thế giới mà các nét đặc thù của nó dường như đỏ tự nhiên trong nanh vuốt. Đây là một phản ứng kỳ quặc, bởi vì nhiều nhà sinh vật học tiến hóa, như George Williams, thú nhận rằng, thuyết Darwin dường như là một học thuyết ghê tởm. Williams công khai chán ghét những quan hệ mật thiết đúng quy cách của một hệ thống mà nó không có mục đích gì cao hơn là những thương lượng và âm mưu ích kỷ để truyền giống cho các thế hệ tương lai. Theo Williams, phản ứng của một người có luân lý thì chỉ có cách lên án học thuyết này, tuy nhiên Dawkins và các người khác lại âu yếm thuyết Darwin mà không lưỡng lự và thực sự hăng hái. Sao họ lại bị lôi cuốn đến một triết thuyết như vậy và trong hành lang ác nghiệt của nó, có còn chỗ nào để họ hoan hô?
Nhà sinh vật học Stephen Jay Gould cung cấp một mấu chốt. Suy nghĩ về ý nghĩa đời sống, Gould kết luận rằng "có lẽ chúng ta mong mỏi một câu trả lời cao hơn—nhưng không có câu nào." Sau đó ông nói một vài điều có tính cách tiết lộ, "Sự giải thích này, tuy khó khăn bề ngoài nếu không phải là khiếp sợ, thì thực sự giải thoát và hồ hởi." Nói cách khác, tin xấu là tin tốt. Các học thuyết mà bình thường dường như đáng khiếp sợ--chết là hết, không có mục đích to lớn hoặc sự công bằng của thượng đế, sự tự do ý muốn là một ảo tưởng—từ một điểm thuận lợi khác, có thể được coi như sự giải phóng.
Giải phóng khỏi cái gì? Lắng nghe một số người vô thần, họ muốn giải thoát họ khỏi gông cùm của tôn giáo để luyện tập đức tính. Santiago Zabala viết trong cuốn The Future of Religion, "Trong một thế giới mà Thiên Chúa không còn hiện diện," con người giờ đây thì tự do "để tích cực thi hành tình đoàn kết, sự bác ái, và sự mỉa mai." Thật là những động lực đáng khâm phục! Chỉ có vấn đề là bạn không phải loại trừ tôn giáo để sống bác ái nhân danh tình huynh đệ con người. Như Phanxicô Assissi và Mẹ Têrêsa có thể nói với Zabala, bác ái và tình nghĩa con người là hai chủ đề chính của Kitô Giáo.
Đã đến lúc phải thành thật và trầm trọng hơn nhìn đến các động lực thực sự đằng sau thuyết vô thần hiện đại. Chúng thường khác và thú vị hơn là các động lực bên ngoài thường được quy cho hoặc được đưa ra bởi các nhân vật vô thần. Thí dụ, người ta rộng rãi tin rằng Darwin mất đức tin của ông khi khám phá ra sự chọn lựa tự nhiên, chứ không phải Thiên Chúa, chịu trách nhiệm cho sự tiến hóa của các hình thức sự sống. Nhưng chính Darwin thì lại nói rằng ông mất đức tin vì ông không thể chịu nổi ý niệm luận phạt đời đời của Kitô Giáo. Từ các bài viết của ông, chúng ta cũng biết rằng Darwin đau khổ khủng khiếp vì cái chết của cô con gái mười tuổi, Annie. Người ta cảm thấy rằng ông không thể tha thứ cho Thiên Chúa. Trong một số trường hợp, thuyết vô thần là một hình thức báo thù.
Đây là những động lực mạnh mẽ cho sự hoài nghi, nhưng chúng không phải là động lực chính. Chúng ta phải thăm dò sâu hơn, và một cách để thi hành là ngược dòng lịch sử, mãi cho đến các triết gia thời cổ là Epicurus, Democritus, và Lucretius. Tôi biết được điều này là nhờ ở cuốn sách tuyệt vời Moral Darwinism của Ben Wiker. Ngày nay, chính yếu Epicurus được biết đến như một người theo chủ nghĩa khoái lạc, và đúng như vậy. Nhưng cũng như Lucretius và Democritus, ông còn là một người duy vật. Cả ba nhà tư tưởng tiền-Socrat này tin rằng tất cả chỉ có vật chất. Lucretius và Democritus còn chủ trương rằng toàn thể con người được tạo bởi các nguyên tử, một báo hiệu lạ thường của khoa vật lý hiện đại. Tuy nhiên, vào lúc những người tiền-Socrat viết xuống, không có chứng cớ khoa học để hỗ trợ cho những luận điệu máy móc của họ về thế giới tự nhiên. Vậy, làm thế nào họ lại bị thu hút đến những giảng dậy mà hoàn toàn không dựa trên kinh nghiệm?
Epicurus thú nhận rằng mục đích của ông là để chối bỏ các thần. Ông cũng muốn tiêu diệt ý niệm linh hồn bất tử và để "làm mất đi ao ước bất tử." Lucretius cũng viết về ách nặng nề của tôn giáo, áp đặt trên con người như những trách nhiệm và bổn phận. Epicurus nói, vấn đề với các thần là họ tìm cách củng cố luật lệ của họ và bởi đó tạo nên "lo âu" cho con người. Họ đe dọa trừng phạt chúng ta vì những lỗi lầm, cả đời này và đời sau. Theo Epicurus, vấn đề của sự bất tử là có thể có đau khổ ở đời sau. Khi đưa ra một thực tại hoàn toàn vật chất, ông hy vọng sẽ giải thoát con người khỏi những lo âu và cho phép họ nhắm đến những vui thú ở trần gian.
Theo ý nghĩa hiện đại, Epicurus không phải là người theo chủ nghĩa khoái lạc. Ông khuyên người ta kiểm soát các xung lực tình dục và sống bằng bánh lúa mạch và nước. Ông không lưu tâm lắm đến những khoái lạc man rợ cho bằng giảm thiểu sự đau khổ, điều mà ông gọi là "tự do khỏi bị nhiễu loạn." Ông nói, ngay cả cái chết là một loại khuây khỏa, bởi vì các nguyên tử của chúng ta phân tán và không còn linh hồn để cảm nghiệm được sự thiếu sót đời sống hoặc để chịu đựng những hậu quả của cuộc đời sắp tới. Nói tóm lại, Epicurus cổ vũ một triết lý và một vũ trụ thuần túy tự nhiên để giải thoát con người khỏi sự bạo ngược của các thần. Lucretius cũng vậy, qua triết học ông tìm cách "tháo gỡ linh hồn khỏi nút thắt của tôn giáo." Với những người này, khoa vật lý của họ là nền tảng cho đạo đức học. Như Wiker có viết, "một vũ trụ vật chất cần phải sinh ra một luân lý vật chất."
Đây là mấu chốt cho sự hấp dẫn luân lý của thuyết Darwin. Chính Darwin viết rằng "ai hiểu về con khỉ sẽ có thể thi hành nhiều điều cho siêu hình học hơn Locke." Ông ám chỉ rằng một sự hiểu biết rõ hơn về bản tính thú vật có thể cực kỳ thay đổi phương cách chúng ta nhìn về luân lý. Vì vậy, đối với nhiều người sự hấp dẫn của thuyết Darwin là nó giảm thiểu ý niệm một bản tính con người "cao hơn" và đưa con người vào sự tiếp nối với con vật. Dĩ nhiên, nét độc đáo của thú vật là chúng không phát triển ý thức luân lý. Không thể mong đợi một con đười ươi phân biệt được giữa điều đang là và điều phải là. Hậu quả là thuyết Darwin trở nên một phương cách để phá vỡ những giam hãm của luân lý truyền thống. Chúng ta có thể gạt sang một bên những trói buộc xưa và chỉ hành động theo một phương cách mà nó đến tự nhiên.
Ngay từ thời Darwin, nhiều người bị thu hút đến các ý tưởng của ông không vì người ta hỗ trợ mạnh mẽ các ý tưởng ấy nhưng chúng còn được giải thích để làm suy yếu sự hiểu biết truyền thống về Thiên Chúa. Như nhà sinh vật học Julian Huxley, cháu của Thomas Henry Huxley—là bạn và đồng minh của Darwin—có viết, "Khi tẩy chay ý tưởng Thiên Chúa là một thực thể siêu nhiên, từ đó có sự khuây khỏa tinh thần thật lớn lao." Và từ Aldous Huxley, em của Julian—cũng là một người vô thần nổi tiếng—chúng ta được tiết lộ sự thú nhận này: "Tôi có những động cơ để không muốn thế giới này phải có một ý nghĩa; hậu quả là tôi cho rằng nó không có gì cả, và tôi không thấy khó khăn để có thể tìm thấy các lý do đầy thuyết phục cho thừa nhận này… Với chính tôi, không hồ nghi gì với các người đương thời, triết lý của sự vô ý nghĩa này là dụng cụ không thể thiếu cho sự giải thoát. Sự giải thoát mà chúng ta khao khát là … sự giải thoát từ một hệ luân lý nào đó. Chúng ta chống đối nền luân lý này bởi vì nó trở ngại cho sự tự do tình dục của chúng ta."
Như các tuyên bố của hai người họ Huxleys cho thấy, nhiều người vô thần được lôi kéo đến việc chối bỏ Thiên Chúa, và nhất là Thiên Chúa của Kitô Giáo, là để khi ở đời sau, họ không phải trả lời về sự thiếu sót gìn giữ luân lý khi còn ở đời này. Họ biết rằng Kitô Giáo đặt hành động con người dưới sự khảo sát tỉ mỉ của Thiên Chúa và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Thánh Phaolô viết trong thư gửi tín hữu Rôma 2:6-8, "Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ." Chúng ta đọc trong sách Khải Huyền 21:8: "Còn những kẻ hèn nhát, bất trung, đáng ghê tởm, sát nhân, gian dâm, làm phù phép, thờ ngẫu tượng, và mọi kẻ nói dối, thì phần dành cho chúng là hồ lửa và diêm sinh cháy ngùn ngụt: đó là cái chết thứ hai." Điều ám chỉ của những đoạn này—và còn nhiều đoạn khác tương tự--là cái chết không đem đến sự hủy diệt nhưng sự giải thích trình bầy trách nhiệm.
Tôi phải dừng ở đây để nhận xét một đặc điểm của Kitô Giáo mà nó không thoát được sự chú ý của hầu hết những người vô thần. Kitô Giáo là một tôn giáo của tình yêu và sự tha thứ, nhưng tình yêu và sự tha thứ này thì tạm thời và, trong một ý nghĩa, có điều kiện. Sự tha thứ Kitô Giáo thì dừng lại ở cửa hỏa ngục, và hỏa ngục là một phần thiết yếu của tổ chức Kitô Giáo. Trong khi chữ phúc âm có nghĩa "tin mừng", các sách này còn có những cảnh cáo để chuẩn bị chúng ta cho sự phán xét sau cùng. Đây là một sự đền tội mà sách thánh nói nhiều người hăm hở muốn tránh. Như Gioan 3:20 có viết, "Ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng để các việc họ làm khỏi bị phơi bầy". Điểm ở đây thì không phải là người vô thần làm xấu nhiều hơn người khác, nhưng đúng hơn thuyết vô thần cung cấp một nơi ẩn nấp cho những ai không muốn nhìn nhận và sám hối tội lỗi của mình.
Trong một tiểu luận có tác động mạnh, "The Discreet Charm of Nihilism," người đoạt giải Nobel là Czeslaw Milosz lý luận rằng, để thoát khỏi một định mệnh đời đời mà trong đó tội lỗi bị trừng phạt, người ta tìm cách tự giải thoát mình khỏi tôn giáo. "Thuốc phiện đích thật của con người là một niềm tin vào hư không sau khi chết—sự an ủi lớn lao khi nghĩ rằng sự phản bội, tham lam, hèn nhát, giết người của chúng ta thì không bị xét xử." Như vậy, thuyết Mácxít phải được viết lại. Không phải tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng, nhưng thuyết vô thần là thuốc phiện của sự suy đồi luân lý.
Nếu bạn muốn sống một cuộc đời đồi trụy, Thiên Chúa là kẻ thù không đội trời chung của bạn. Thiên Chúa đại diện cho một nguy hiểm chết người cho sự ích kỷ, tham lam, dâm ô và căm thù của bạn. Chính bạn muốn khinh miệt Người và thi hành bất cứ gì có thể để loại trừ sự hiện diện của Người khỏi vũ trụ. Do đó có những quyến rũ mạnh mẽ đối với đời sống trong một thế giới không có Thiên Chúa. Trong một thế giới như thế, chúng ta có thể uốn nắn cuộc đời theo một trong những tên quỷ nhỏ trong Paradise Lost của Milton, là Belial, "với thói xấu thì nó rất cần cù, nhưng với hành động tao nhã hơn thì nó sợ sệt và lười biếng." Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, bẩy tội trọng không phải là những nỗi khiếp sợ phải vượt qua nhưng là các cám dỗ được lấy làm thú vị. Sự chết, trước đây bào chữa cho luân lý, giờ đây trở nên một biện minh cho sự vô luân.
Triết gia hiểu sự "giải thoát" này hơn ai hết là Nietzsche. Trái với các người vô thần hiện đại, họ thường trấn an chúng ta rằng cái chết của Thiên Chúa không nhất thiết phải chấm dứt luân lý, Nietzsche quả quyết thật như vậy. Vì Thiên Chúa là nguồn mạch của luân lý, cái chết của Người có nghĩa chúng ta không còn nền tảng gì cả. Trong một ý nghĩa, chúng ta trở nên không còn nền tảng đạo đức, và không còn nơi ẩn náu để cầu viện đến phẩm giá và sự bình đẳng và trắc ẩn và tất cả những gì còn lại. Điều đối diện với chúng ta, nếu chúng ta thành thật, là địa ngục.
Tuy vậy, không như Matthew Arnold, là người nhìn thấy đức tin của thế hệ đang thoái lui như dòng nước đại dương và ông kinh hoàng, Nietzsche chào đón địa ngục trong một ý nghĩa nào đó. Theo lời của ông, ông là "người vô luân lý". Theo quan điểm của ông, lần đầu tiên địa ngục giúp chúng ta thoát khỏi mặc cảm tội lỗi. Nó chế ngự con rồng của bổn phận. Nó giúp chúng ta sống "bên ngoài sự thiện và sự dữ." Luân lý không còn ban cho chúng ta từ trên trời; giờ đây nó trở nên một điều gì đó mà chúng ta nghĩ ra cho chúng ta. Luân lý đòi hỏi một sự làm lại toàn diện, điều mà Nietzsche gọi là "siêu giá trị" (transvaluation). Quy luật xưa cũ "ngươi không được" giờ đây trở thành "tôi sẽ."
Do đó, trong lược đồ của Nietzsche, thật không chính xác để nói rằng Thiên Chúa đã chết. Đúng hơn, con người đã giết Thiên Chúa để giành cho mình sự tự do để đặt ra luân lý cho mình. Và luân lý mà Nietzsche hân hoan cử hành là luân lý đấu tranh và tự khẳng định, "sự sùng bái đam mê," "thú tính tuyệt vời", hoặc trong câu nói lừng danh của Nietzsche, "ý muốn dành quyền lực". Bất cứ mục tiêu nào cũng đều hợp pháp, ngay cả phải áp đặt sự khổ cực lên giống người, nếu chúng ta theo đuổi nó với năng lực, kiên quyết và tận tụy.
Trong lời hùng biện của Nietzsche có sự liều lĩnh và tàn bạo làm rung động nhiều con tim của các người vô thần hiện đại. Chúng ta thấy điều đó trong các nhà hiện sinh của Pháp như Jean-Paul Sartre, họ đã dùng Nietzsche làm nền tảng cho một triết lý dựa trên sự tự do luân lý. Tôi còn nghe một giọng điệu của Nietzsche trong Christopher Hitchens khi ông phản đối sự giám sát luân lý của Thiên Chúa, là người mà ông trình bầy như một bạo chúa đầy ghen tương. Nhưng hầu hết các người vô thần hiện đại—kể cả Hitchens—không muốn đi xa như Nietzsche trong việc chửi rủa các quy tắc truyền thống của sự thương xót và bác ái Kitô Giáo. Sự nổi loạn của họ thì được hạn chế hơn. Người ta có thể nói, đó là cuộc nổi loạn vùng xương chậu chống với Thiên Chúa.
Chính vì vấn đề tình dục mà hầu hết người vô thần hiện đại đã chọn để tách biệt với Kitô Giáo. Bertrand Russell viết trong cuốn Why I Am Not a Christian, "Đặc điểm tệ hại nhất của Kitô Giáo là thái độ đối với tình dục." Hitchens viết "sự tách biệt giữa đời sống tình dục và sự sợ hãi… giờ đây có thể vượt qua với điều kiện duy nhất là chúng ta trục xuất mọi tôn giáo ra khỏi cuộc đàm luận." Khi một người vô thần tỉ mỉ bào chữa cho lý do tại sao Thiên Chúa không hiện hữu và tại sao luân lý truyền thống lại là một ảo tưởng, họ rất thường nghĩ đến cơ quan sinh dục của họ. Rất có thể rằng nếu không có điều răn duy nhất cấm tội dâm dục, có lẽ người Tây Phương vẫn là một Kitô Hữu!
Malcolm Muggeridge, nhà bình luận nổi tiếng và đã trở lại Công Giáo, nói rõ rằng tính dâm dục là bí ẩn của thuyết duy vật. Thật kỳ quặc, thuyết này lại được đề cao rõ ràng nhất trong tác phẩm của người đề xướng sự lệch lạc tình dục, Hầu Tước de Sade. Cuốn Dialogue Between a Priest and a Dying Man của ông ta có đề cập đến sự thú tội của người đang hấp hối rằng việc chối bỏ không tin vào Thiên Chúa là bước đầu để giải thoát tình dục và vui hưởng cuộc đời. Trong cuốn Philosophy in the Bedroom, de Sade đề cao một nữ tu mười lăm tuổi là người từ bỏ đức tin nơi Thiên Chúa và khám phá ra sự khoái lạc của loạn luân, thú dâm (sodomy), và dùng roi để kích thích tình dục.
Hầu hết người vô thần hiện đại thấy rằng de Sade cũng quá đáng như Nietzsche, và họ tự giới hạn mình ở sự bừa bãi tình dục, ngoại tình, và các hình thức khác của tình dục trái phép. Tôi không chống đối những say mê của họ. Những điều này được hiểu rõ bởi các tín đồ. Hãy nhớ Augutine khi mới trở lại đạo, cầu xin Thiên Chúa giúp ngài sống khiết tịnh, "nhưng khoan đã." Augustine sẽ không ngạc nhiên khi thấy toàn thể thế hệ trẻ ngày nay chống đối với Kitô Giáo bởi vì những giảng dậy của Giáo Hội về vấn đề tình dục trước khi kết hôn, ngừa thai, phá thai, đồng tính luyến ái, và ly dị.
Sự cực khoái nhục dục đã trở nên dấu chỉ của trần tục ngày nay. Điều này không vì chúng ta đang sống trong một thời đại vui thú nhục dục nhưng bởi vì, trong một thế giới vật chất tàn lụi, nó cho con người được nếm thử giây phút vĩnh cửu. Trong phạm vi này tôi không thể không đề cập đến một cá nhân. Có lần tôi được gặp một đan sĩ, ông thú nhận với tôi rằng ông ăn chay thường xuyên và đôi khi ông dùng roi quất vào chân để "chết đi thân xác của tôi vì tình yêu Chúa Kitô." Khi nghe vậy tôi thật bàng hoàng, câu trả lời của ông thật thú vị. Chính những ai cười nhạo các đan sĩ khi hành xác cho những mục đích tinh thần thì họ lại không nghĩ gì đến khi phải trải qua những cuộc giải phẫu đau đớn để sửa sắc đẹp. Họ cũng không do dự hành hạ thân xác với việc ăn kiêng để bớt mập và làm cho thân thể gọn gàng chỉ vì tình dục.
Nếu tình dục không còn bị ràng buộc bởi luân lý cổ xưa, sẽ có những việc mang thai ngoài ý muốn. Ở đây chúng ta có dấu chỉ thứ hai của thuyết vô thần, đó là sự phá thai. Điều khủng khiếp thực sự của phá thai thì không phải là người phụ nữ giết một đứa bé chưa sinh, nhưng là người phụ nữ giết chính con của mình. Mặc cảm tội lỗi khi thi hành điều này, với những người có luân lý lành mạnh, thật vô cùng lớn lao. Do đó thuyết vô thần cần phải chuẩn bị cho sự phá thai với một lương tâm trong trắng. Bước đầu tiên là chối bỏ Thiên Chúa, bởi vì sau đó không còn linh hồn của đứa bé bị chết để quấy rối lương tâm, không còn hỏa ngục để trả cho tội vi phạm đến điều răn cấm giết người. Bước thứ hai là xác định bào thai ấy không phải là con người. Như Sam Harris viết trong cuốn The End of Faith, "Nhiều người trong chúng ta coi bào thai trong ba tháng đầu chỉ như con thỏ không hơn không kém" nó không đáng được "thân phận đầy đủ trong cộng đồng luân lý của chúng ta."
Nhà sinh đạo đức học Peter Singer nêu lên thuyết Darwin để đưa ra rằng có sự liên tục, không rõ sự tách biệt, giữa con người và con vật. Bởi thế thú vật phải được ban cho một số quyền lợi mà bây giờ chỉ ban cho con người. Singer cũng lý luận rằng con người phải bị từ chối một số bảo vệ hiện có dựa trên nền tảng rằng họ không khác lắm với thú vật. Nếu con người là sản phẩm của sự tiến hóa thay vì một tạo vật đặc biệt, Singer cho rằng, sau đó toàn thể cơ cấu luân lý của Do Thái Giáo-Kitô Giáo sẽ bị thiếu tin tưởng. Thật vậy, chúng ta không thể tiếp tục nói về sự thiêng liêng của sự sống. Do đó sự phá thai, an tử, và giết trẻ sơ sinh tất cả đều được phép và trong một số trường hợp ngay cả đó là điều mong muốn. Trong tác phẩm của Singer chúng ta thấy có âm hưởng của Darwin và Nietzsche; thật vậy, Darwin trở nên vũ khí để đánh đổ niềm tin Kitô Giáo và dọn chỗ cho thuyết phi đạo đức của Nietzsche.
Trong một bài báo nổi tiếng đăng trong New York Times, Steven Pinker nêu lên tính cách hợp lý của thuyết tiến hóa để giải thích tại sao đó không phải là vấn đề lớn khi người mẹ giết con sơ sinh của mình, ngay cả khi chúng lọt lòng. Bài của Pinker được viết sau khi tin tức xôn xao về vụ một thiếu nữ sinh con ngay tại một trường khiêu vũ và sau đó vất con vào thùng rác. Pinker tìm cách trấn an công chúng Hoa Kỳ, khi nhận xét rằng "quyền giết bào thai được gắn vào thiết kế sinh vật học của những xúc cảm của nguồn gốc chúng ta," vì vậy khích lệ các cha mẹ hãy "cắt đứt những thiệt hại và chọn đứa khỏe nhất trong đám hoặc sau này thử lần nữa", nếu một "trẻ sơ sinh bệnh hoạn hoặc nếu nó có vẻ không sống nổi." Pinker viết thêm là nhiều thói quen văn hóa được "đề ra để tách biệt cảm xúc của con người với một trẻ sơ sinh" chính là để đứa trẻ ấy có thể bị giết mà không quá nhiều day dứt. Trong cuốn The Blank State, Pinker viết, "Sự khó khăn với Homo sapiens thì có lẽ không phải là chúng ta có quá ít luân lý. Vấn đề có lẽ là chúng ta có quá nhiều."
Pinker rất đúng khi nói rằng sự phá thai và giết trẻ sơ sinh thì phổ thông trong lịch sử thế giới. Lý do mà chúng bị cấm đoán trong nhiều thế kỷ ở Tây Phương là vì các giá trị Tây Phương được khuôn đúc bởi Kitô Giáo. Ben Wiker nêu rõ vấn đề rằng "các luật cấm phá thai và giết trẻ sơ sinh ở Tây Phương thì chỉ có thể hiểu được như một kết quả của sự Kitô hóa, và sự hủy bỏ chính các luật này thì chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng của việc hủy bỏ Kitô Giáo." Nếu Hoa Kỳ là một xã hội thuần túy trần tục, sẽ không có tranh luận về tính cách luân lý của việc giết trẻ em. Do đó một lý do mà Pinker và rất nhiều người khác cay đắng tấn công Kitô Giáo chính là vì để lấy đi ảnh hưởng luân lý của nó và làm cho xã hội hiếu khách với sự phá thai, giết trẻ sơ sinh, và an tử.
Dường như thật kỳ lạ khi tất cả những nhẫn tâm đối với sự sống con người lại ở trong một xã hội mà giá trị chính yếu của nó là sự trắc ẩn. Nhưng sự mâu thuẫn này được giải đáp khi bạn thấy rằng chính vì chúng ta quá khủng khiếp trong đời sống riêng tư đến độ chúng ta cần phải làm ra vẻ nhân đức trong đời sống công cộng. Những người làm điều ghê tởm về luân lý, như lừa dối vợ/chồng và giết con, không thể thoát khỏi sự giằn vặt của lương tâm. Do đó quan trọng nhất là uốn nắn lương tâm, không chỉ để người khác có cảm tưởng là chúng ta nhân từ và tuyệt vời, nhưng còn để thuyết phục chính chúng ta sống như vậy. Với một người vừa ăn nằm với cộng sự viên, lương tâm bắt buộc họ phải đóng góp nhiều cho tổ chức United Way.
Tôi kết luận rằng trái với sự tin tưởng chung, thuyết vô thần thì chính yếu không phải là một sự nổi loạn trí thức, nó là một nổi loạn luân lý. Người vô thần không tìm kiếm Thiên Chúa vô hình cho bằng họ thấy Người chướng tai gai mắt. Họ không thay đổi những dục vọng theo chân lý, nhưng thay vào đó họ thay đổi chân lý cho phù hợp với dục vọng. Đây là điều mà tất cả chúng ta đều có. Đó là sự cám dỗ ngay cả với tín đồ. Chúng ta muốn được cứu độ miễn là chúng ta không phải tránh tội lỗi. Chúng ta rất muốn được cứu thoát khỏi một xã hội xấu xa, khỏi nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh. Nhưng chúng ta không muốn đụng đến những xấu xa cá nhân, tỉ như ích kỷ và dâm đãng và kiêu ngạo. Chúng ta cần được chữa trị về tinh thần, nhưng chúng ta không muốn. Giống như một cha mẹ giám sát, Thiên Chúa can thiệp vào đường lối của chúng ta. Đây là sự hấp dẫn thường xuyên của thuyết vô thần: nó tống khứ lão già nua nghiêm nghị, râu dài và giải thoát chúng ta để hưởng lạc thú của tội lỗi và trụy lạc. Người vô thần tìm cách hủy bỏ sự phán xét luân lý bằng cách tống khứ vị thẩm phán.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|