Mọi trích dịch
xin ghi rõ xuất xứ và không được dùng trong việc thương mại.

CON NGƯỜI CỦA HÒA BÌNH

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

C

ách đây đúng 35 năm, ngày 7 tháng 12 năm 1965, Công Ðồng Vatican II đã công bố Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng (Gaudium et Spes) về Sứ Mệnh của Giáo Hội trong Thế Giới Hôm Nay, các Nghị phụ trong Công Ðồng đã viết: "Công Ðồng không chỉ ngỏ lời riêng với những người con của Giáo Hội nhưng với tất cả mọi người thiện chí trên thế giới. Thế giới hiện nay là sân khấu của lịch sư û nhân loại. Và thế giới này được ghi dấu qua những cố gắng, những thất bại cũng như những thắng lợi của nhân loại. Trong thế giới ấy, tất cả mọi người, đặïc biệt người công giáo, được mời gọi tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích dưới Ánh Sáng của Tin Mừng, như vậy mới có thể giải đáp một cách thích ứng với từng thế hệ những thắc mắc muôn thuở của con người về ý nghĩa cuộc sống hiện tại và cho mai hậu."

Từ những tư tưởng chỉ đạo trong Hiến Chế trên đây, chúng ta nhận thức rằng trách nhiệm của con người là phải Xây Dựng Xã Hội và Cộng Ðồng Nhân Loại ngày càng tốt đẹp và đáng sống hơn. Mỗi người chúng ta được mời gọi phải ý thức về sứ mệnh đặc biệt của chính mình trong các sinh hoạt xã hội, nhất là trong các sinh hoạt chính trị. Họ phải nêu gương sáng bằng cách ý thức trách nhiệm của mình và tận tâm phục vụ công ích. Từ đó họ sẽ đem lòng chân thành và chính trực, hơn nữa đem tình thương và lòng dũng cảm vào các sinh hoạt chính trị xã hội để tận tâm phục vụ lợi ích mọi người.

Trong thế giới mà chúng ta đang sống, có một nhân vật quốc tế đã ý thức sâu sắc sứ mệnh xây dựng xã hội trong lãnh vực chính trị, để cộng đồng nhân loại ngày càng tốt đẹp đáng sống hơn: Nhân vật ấy chính là đương kim Tổng Thống Nam Hàn Kim Ðại Trọng, người vừa hân hạnh được Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển lựa chọn trong 150 nhân vật quốc tế, để trao Giải Thưởng Nobel Hòa Bình vào ngày thứ sáu 13 tháng 10, 2000 vừa qua. Trước vinh dự cao quý này của người dân Triều Tiên và của các nước thuộc lục địa Á Châu, chúng tôi thu thập các tài liệu báo chí, các hãng thông tấn quốc tế, để trình bày với quý độc giả về biến cố ý nghĩa đặc biệt này.

NGUỒN GỐC GIẢI THƯỞNG NOBEL HÒA BÌNH.

Alfred NobelAlfred Nobel (1833 - 1896), một kỹ sư và một nhà hóa học nổi tiếng quê ở Stockhom nước Thụy Ðiển, là người đã phát minh ra chất nổ. Nhờ đó ông đã hái ra tiền như nước. Cách đây đúng 112 năm, vào một buổi sáng năm 1888, ông đã thức giấc trong bàng hoàng sửng sốt: Tất cả các báo chí trong ngày đều mỉa mai nói đến cái chết của Alfred Nobel, vua thuốc nổ.

Sự thực đây chỉ là một lầm lẫn của một ký giả nào đó! Người anh của Alfred đã qua đời và ký giả này tưởng lầm là chính ông!! Nhưng dù sao, đây cũng chính là một dịp hiếm có để Alfred Nobel đọc được những cảm nghĩ xác thực mà nhiều người khác đang suy nghĩ về ông...

Trong tâm trí và nơi cửa miệng của mọi người, Alfred Nobel chỉ là ông vua của chất nổ, nghĩa là một người làm giàu và đã trở nên giàu sụ trên những cái chết của không biết bao nhiêu sinh mạng con người do thuốc nổ gây ra!! Và mặc nhiên người ta không hề nhắc đến những nỗ lực của ông nhằm phá vỡ những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc và các ý thức hệ! Không một ai nhắc đến những kiến tạo hòa bình của ông! Không một người nào nói đến những đóng góp của ông cho hòa bình! Vì thế Alfred Nobel sầu buồn vô cùng về hình ảnh đen tối của một nhà kinh doanh trên sự chết chóc mà thiên hạ đang nói về ông!!??

Vì thế ông quyết định làm cho thế giới hiểu được Lý Tưởng và Lẽ Sống đích thực của ông. Với quyết tâm ấy, ông ngồi xuống bên bàn làm việc và viết ngay tức khắc một chúc thư. Trong đó ông quyết định để lại tất cả tài sản của mình (thời đó là trên chín triệu mỹ kim), để thiết lập một trong những giải thưởng giá trị và cao quý nhất trên thế giới. Ðó là Giải Thưởng Nobel Hòa Bình (Nobel Prize of Peace), nhằøm tưởng thưởng cho những ai hoặc bất cứ tổ chức nào đã góp phần vào việc Xây Dựng Hòa Bình trên thế giới. Từ đó đến nay, trong tâm tư và suy nghĩ của mọi người trên thế giới, biệt hiệu của Alfred Nobel không còn là vua của chất nổ nữa mà là Biểu Tượng Cao Quý của Hòa Bình.

GIẢI THƯỞNG NOBEL HÒA BÌNH NĂM 2000.

Theo những tài liệu quốc tế mà chúng tôi hiện có trong tay, ngoài Giải Thưởng Nobel Hòa Bình do nhà hóa học Alfred Nobel đã có sáng kiến thiết lập năm 1888, đến năm 1901, Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển đã thành lập thêm 4 Giải Thưởng Nobel khác: Nobel Văn Chương (Literature), Nobel Vật Lý (Physics), Nobel Hóa Học (Chemistry), Nobel Sinh Lý Học hoặc Y Học (Physiology or Medicine). Và mãi đến năm 1969, Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển mới thiết lập thêm Giải Thưởng Nobel Kinh Tế Khoa Học (Economic Science). Và trên một thế kỷ qua, hàng năm Hội Ðồng Chấm Giải thuộc Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển vẫn cẩn thận cứu xét và công bố các loại Giải Thưởng Nobel này, dựa trên danh sách khắùp thế giới gửi về xin lãnh giải.

Nhưng trên tất cả, Giải Thưởng Nobel Hòa Bình xưa nay vẫn được coi là cao quý nhất, để tưởng thưởng cho nhân vật hoặc tổ chức nào đã thiết thực đóng góp vào sự kiến tạo hòa bình thế giới. Những nhân vật hoặc tổ chức quốc tế từng được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình trong những năm qua, người ta thấy có: Mục sư Martin Luther King, Jr (1964), Mẹ Têrêsa thành Calcutta (1979), Chủ tịch Công Ðoàn Ðoàn Kết Lech Walesa (1983), Giám mục Desmond Tutu Nam Phi (1984), Ðức Ðạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng (1989), Chủ tịch Mikhail S.Gorbachev (1990), Bà Daw Aung San Suu Kyl của Miến Ðiện (1991) và Tổ Chức Bác Sĩ Không Biên Giới (Doctors Without Borders) năm ngoái.

Các cơ quan truyền thông quốc tế đã loan tin ngày 13 tháng 10, 2000 vừa qua, Hội Ðồng Chấm Giải Nobel Hòa Bình năm 2000 đã công bố người trúng giải năm nay là đương kim Tổng Thống Nam Hàn Kim Ðại Trọng, vì sự nghiệp hòa hợp hòa giải giữa hai miền Nam Bắc Hàn từng thù nghịch nhau suốt nửa thế kỷ trong thời chiến tranh lạnh. - Người ta còn nhớ, trước đó một ngày, các hãng thông tấn quốc tế còn cho rằng rất khó để có thể đoán biết trước ai hoặc tổ chức nào sẽ đoạt giải thưởng cao quý này, vì năm nay số người và tổ chức được đề cử đều xứng đáng để nhận giải.

Danh sách khắp nơi đề nghị trao Giải Thưởng Nobel Hòa Bình năm nay lên tới 150 người. Và chung kết của giải này có những tên tuổi quốc tế rất lớn như: Marti Ahtisaari, cựu Tổng Thống Phần Lan với vai trò hòa giải tại Kosovo; Heydar Aliyev, Tổng Thống Azerbaijan, người có công chấm dứt chiến tranh với Armenia; Jimmy Carter, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ; Viktor Chernomyrdin, cựu Thủ Tướng Nga với thành tích đóng góp cho hòa bình vùng Balkans; Bill Richardson, cựu Ðại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc từng làm đặc sứ tới Bắc Hàn và Iraq thương thuyết hòa bình. Ngoài ra còn nhiều tổ chức quốc tế khác cũng được đề nghị như Salvation Army và Liên Hiệp Quốc. Riêng Á Châu, cũng có hai nhân vật được đề nghị là Tổng Thống Kim Ðại Trọng của Nam Hàn, người đã đưa ra chính sách thân thiện với quốc gia anh em thù nghịch miền Bắc và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Viện trưởng Viện Hóa Ðạo, được các dân biểu Hoa Kỳ và nhiều chính khách quốc tế đề cử, vì những đóng góp của ngài trong tiến trình xây dựng tự do dân chủ nhân quyền cho Việt Nam hàng chục năm qua.

Khi hay tin được trao Giải Thưởng Nobel Hòa Bình năm 2000, Tổng Thống Kim Ðại Trọng đã tuyên bố rằng: Ông xin chia phần thưởng này cho tất cả những chiến sĩ đang đấu tranh cho hòa bình và dân chủ trên thế giới và đặïc biệt trên đất nước ông. Tổng Thống ngỏ lời cám ơn tất cả đồng bào ông, những người yêu dân chủ và nhân quyền đã hỗ trợ và thúc đẩy mục tiêu này đến tất cả mọi người. Ông cũng tuyên bố sẽ nỗ lực hơn nữa tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ và hòa bình tại bán đảo Triều Tiên, tại Á Châu và trên thế giới. Người ta cũng được biết: Với Giải Thưởng Bobel Hòa Bình cao quý này, Tổng Thống Kim Ðại Trọng sẽ được lãnh một số tiền khoảng 915,000 mỹ kim trong một buổi lễ long trọng cử hành ngày 10 tháng 12, 2000 ngay tại Thủ Ðô Oslo nước Thụy Ðiển, trong khi các giải Nobel khác được trao tại thành phố Stockholm.

TỔNG THỐNG KIM ÐẠI TRỌNG:
CON NGƯỜI CỦA HÒA BÌNH.

TT Kim Dai TrongTheo tài liệu hai nhật báo The Washington Post và The Washington Times, Tổng Thống Kim Ðại Trọng (Kim Dae Jung) là một chính khách công giáo đầu tiên đã nhận chức vụ quan trọng này trong một đất nước mà người công giáo chỉ chiếm 10 % dân số. Ông sinh ngày 3 tháng 12 năm 1925, năm nay 75 tuổi, tại một hòn đảo nhỏ mang tên Cholla, gần Thành phố Kwang Du, phía Tây Nam Hàn Quốc. Ðây là một khu vực nghèo nhất nước và nổi tiếng là nơi xuất phát các thành phần có đầu óc thiên tả và công đoàn. Người dân Hàn Quốc lo sợ và khinh bỉ khu vực này đến nỗi có huyền thoại kể rằng, một cư dân tại Thủ đô Hán Thành đứng tim mà chết khi nghe tin con gái muốn lấy chồng về sống tại Cholla. Theo tuần báo Time số tháng Giêng 1998, khuynh hướng xấu này ảnh hưởng nặng nề đến việc đầu phiếu của người dân Hàn Quốc.

Tuy nhiên là một người ham học, có tinh thần ái quốc cao và cầu tiến, ông đã cố gắng vươn lên, và năm 1970 đã tốt nghiệp với bằng Tiến Sĩ Kinh Tế Học tại Ðại Học Kyunghee tại Thủ đô Hán Thành. Khi bước vào đời, ông là một thương gia đứng đầu một công ty chuyển vận hàng hải nhỏ trước khi đi vào hoạt độâng chính trị năm 1954. Ông say mê chính trị chống lại sự cấu kết giữa tư bản và chế độ quân phiệt trong nước để đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cho người dân Nam Hàn. Kết quả của những sinh hoạt chính trị này, ông phải hy sinh cả tài sản và người vợ đầu tiên và cũng gặp nhiều thất bại qua các cuộc bầu cử khác. Năm 1961, ông được bầu vào Quốc Hội, nhưng một vụ đảo chánh quân sự ba ngày sau đã hủy bỏ sự thắng cử của ông. Ông tái hôn năm 1962 với người vợ hiện nay là bà Lee Hee Ho.

Năm 1971, làn sóng đấu tranh đòi dân chủ lên cao, nhiều nhà tranh đấu trong đó nhiều linh mục và cả giám mục cũng bị bỏ tù vì dám đương đầu với chính quyền. Ông ra tranh cử Tổng Thống, lúc đó 45 tuổi, công khai đối đầu với nhà độc tài là tướng Phác Chánh Hy. Tuy thất bại, nhưng tướng Phác thấy ông là một nguy cơ lâu dài nên một tháng sau đó, một tai nạn giao thông được dàn dựng. Trên đường đi họp, một chiếc xe vận tải 14 tấn cố ý lao thẳng vào xe ông. Tài xế nhanh trí lao thẳng vào lề. Chiếc xe tải tông vào một xe khác giết chết ngay hai người. Trong khi đó, ông bị gẫy tay và chân. Dấu vết của tai nạn này đến nay còn thể hiện rõ nơi dáng đi khập khễnh của ông.

Thấy tình hình trong nước quá nguy hiểm, theo lời khuyên của nhiều người, ông sang lánh nạn bên Nhật để tiếp tục cuộc chiến đấu chống độc tài. Tuy nhiên chính quyền độc tài không để ông yên. Mật vụ Nam Hàn sang tận thủ đô Ðông Kinh lôi ông ra khỏi khách sạn, bịt mắt, trói gông ông và bỏ lên thuyền mang ra giữa biển quăng ông xuống cho đi mò tôm!! Trong lúc thập tử nhất sinh, lúc ông đang chờ chết thì không thể hiểu nổi có một chiếc trực thăng xuất hiện cứu sống ông. Do áp lực mạnh mẽ của Hoa Kỳ, ông thoát chết nhưng bị đưa về Nam Hàn giam tù. Ông bị đánh đập tàn nhẫn, tống giam và khi chính quyền thấy ông gần chết thì quản thúc ông tại gia ở thủ đô Hán Thành. Tuy nhiên nhờ trời cứu, ông không chết.

Năm 1979, Tổng Thống Phác Chánh Hy bị ám sát chết. Tướng Toàn Ðầu Hoán (Chun Doo Hwan) lên thay. Phong trào chống chính quyền độc tài lại nổ ra tại Kwang Du quê hương ông. Quân đội đàn áp và giết chết ít nhất 200 người. Tháng 6 năm 1979, Tổng Thống Toàn Ðầu Hoán ra tối hậu thư cho ông: hoặc là cộng tác với chính quyền hoặc chịu chết. Ông từ chối. Lập tức ông bị bắt và đưa ra tòa. Và phiên tòa chỉ diễn ra trong 6 phút đã kết án tử hình ông về tội phản quốc! Nhưng lần này ông cũng không chết, vì các phong trào đấu tranh cho nhân quyền áp lực chính quyền phải trả tự do cho ông. Hai ngày trước đại lễ Giáng Sinh năm 1982, ông bị tống xuất sang Hoa Kỳ.

Cuộc sống phốn hoa nơi đất nước Hoa Kỳ không làm ông nhụt chí đấu tranh cho tự do dân chủ. Ba năm sau, năm 1985, ông lại quay về Thủ đô Hán Thành. Cùng đi với ông còn có các viên chức Hoa Kỳ là bạn bè với ông trong những năm sống lưu vong. Nhưng vừa xuống phi trường Kimpo, quân cảnh Nam Hàn xúm lại đánh ông té quỵ tại chỗ và lôi ông đi vài tháng trước khi quản thúc tại gia. Năm 1987, Tướng Toàn Ðầu Hoán nhường chức cho ông Roh Tae Woo, ông Kim lại ra tranh cử và lại thất bại! Ông đã tuyên bố rút khỏi vũ đài chính trị. Tuy nhiên năm 1997, khi kinh tế Nam Hàn tan nát vì khủng hoảng kinh tế, ông lại ra tranh cử và đã thắng cử vào tháng 12 năm 1997.

Việc đầu tiên khi nhận chức vụ Tổng Thống Nam Hàn, trong cương vị người đứng đầu nước, ông tuyên bố tha chết cho tướng Toàn Ðầu Hoán và ân xá cho ông Roh Tae Woo, những người đã bị chính quyền dưới thời ông Kim Young Sam kết án tử hình và tù chung thân, mặc dù chính bản thân ông trước đây từng bị chính ông Toàn Ðầu Hoán và Roh Tae Woo là những người trực tiếp ra lệnh giết ông. Trước thái độ anh hùng đó, khi được hỏi, ông nói: "Những người chết thì cũng đã chết rồi. Có tử hình ông Toàn Ðầu Hoán hay đầy ải ông Roh Tae Woo thì cũng không sao làm cho họ sống lại được! Thêm một cái chết của ông Toàn Ðầu Hoán, chỉ mất thêm một mạng người và chỉ tạo thêm sự chia rẽ căm hờn trong xã hội. Nếu tôi tha thứ cho họ được thì tôi cũng xin đồng bào tha thứ cho họ." Ðúng là khẩu khí của một người Công Giáo thấm nhuần đức bác ái sâu xa. Hành động của ông tức khắc tạo được sự đoàn kết của nhiều người, nhiều nhóm trong vấn đề khôi phục đất nước Nam Hàn và người ta lại thấy một phép lạ kinh tế thứ hai xảy ra tại Nam Hàn.

Tuy không bao giờ tự nhận mình là người có tài về kinh tế, nhưng chính cách cư xử dân chủ, chân thành, tôn trọng phẩm giá con người, đề cao công lý và hòa bình đã khiến nhiều người chân thành hợp tác với ông. Cả kẻ thù cũng phải kính trọng ông. Năm 1999, trong khi các nước khác câm như thóc trước cuộc tàn sát dã man đang diễn ra với người công giáo tại Ðông Timor, người ta vẫn nhớ hoài Nam Hàn là nước đầu tiên gay gắt lên án chính sách diệt chủng đó và sẵn sàng cắt đứt quan hệ mậu dịch với Nam Dương. Chính thái độ quyết liệt này đã góp phần làm cho Nam Dương phải nhượng bộ và không dám phản ứng khi quân đội Úc đổ bộ vào Ðông Timor.

Tháng sáu năm 2000, ông còn thực hiện một cuộc hòa giải táo bạo hơn, khi đích thân ông ra Bắc Hàn để găïp Chủ Tịch Kim Chính Nhật bàn chuyện thống nhất quốc gia. Bắc Hàn, sau bao nhiêu năm theo đuổi Chủ nghĩa Xã Hội, đã nghèo rớt mùng tơi đang lâm vào nạn đói phải ngửa tay xin cứu đói. Nhiều người cho rằng cứ để vài năm nữa thì họ sẽ đầu hàng và xin thống nhất với miền Nam. Ông Kim Ðại Trọng gạt đi, quyết tâm ra Bắc, trước là mau chóng chấm dứt nỗi đau khổ của người dân miền Bắc, cũng là người đồng bào Triều Tiên như ông. Trước ngày ra Bắc, người ta tiết lộ Chủ Tịch Kim Chính Nhật nói bóng gió là không thể tiếp ông, chỉ cho một viên chức cấp dưới đón ông tại nhà khách chính phủ. Nhiều người khuyên ông đừng đi, nhưng ông vẫn cương quyết lên đường..

Trước khi lên máy bay, ông nói với người dân miền Nam: "Chuyến này tôi lên đường ra Bắc không phải trong cương vị một vị Tổng Thống đi thăm một nước khác, nhưng là một người miền Nam đi ra Bắc thăm bà con anh em mình." Niềm tin vào lý tưởng Hòa Bình và Hòa Giải của ông đã chiến thắng tất cả! Khi máy bay đáp xuống phi trường Bình Nhưỡng, thảm đỏ đã kéo ra sát cầu thang máy bay và bản thân Chủ Tịch Kim Chính Nhật đứng ngay chân cầu thang đón ông. Hai ông Kim Chính Nhật và Kim Ðại Trọng đã ôm hôn nhau, đưa hai tay về phía trước để đón chào nhau trong một cử chỉ hòa giải chân thành nhất. Nhờ đó đến nay, hàng trăm gia đình Nam Bắc Hàn đã được gặp gỡ đoàn tụ với nhau. Nói làm sao cho xiết sự vui mừng hân hoan của nhân dân hai miền Nam Bắc Hàn hôm nay.

Ngày 13 tháng 10, 2000, khi Tổng Thống Kim Ðại Trọng được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình, một giải thưởng cao quý nhất hiện nay, ngay sau đó rất nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đều tán đồng với Hội Ðồng Chấm Giải của Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển. Tổng Thống Pháp Jacques Chirac, Thủ Tướng Ðức Schroeder, Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton, Thủ Tướng Anh Tony Blair, Thủ Tướng Nhật Yoshiro Mori đã tức khắc gửi lời chào mừng đến nhà lãnh đạo Nam Triều Tiên.

Thống Thống Kim Ðại Trọng với chính sách Mặt Trời Chiếu Sáng (Sunshine Policy) của ông, đã làm tan băng giá chế độ Stalinit cuối cùng trên thế giới đem lại hòa hoãn cho bán đảo Triều Tiên. Do đó khi công bố giải thưởng, Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển đã công bố: "Hội Ðồng Chấm Giải Nobel Hòa Bình đã quyết định trao giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2000 cho ông Kim Ðại Trọng, để vinh danh những đóng góp của ông cho Dân Chủ và Nhân Quyền tại Nam Triều Tiên, cho Ðông Á cũng như cho Á Châu nói chung. Chúng tôi đánh giá cao những đóng góp to lớn của ông cho Hòa Bình giữa Bắc Hàn và Nam Hàn. Thông qua chính sách Mặt Trời Chiếu Sáng, Tổng Thống Kim Ðại Trọng đã cố gắng đẩy lui về phía sau 50 năm chiến tranh và cuộc xung đột giữa Bắc và Nam Triều Tiên".

Nếu như hiện nay dư luận thế giới long trọng thừa nhận công cuộc hòa giải với Bắc Triều Tiên do ông Kim Ðại Trọng đề xướng, chính là vì chặng đường này đã được ông dự phóng từ rất lâu. Cách đây trên 30 năm, ông đã nung nấu nguyện ước hòa bình với miền Bắc ngay từ trong thời kỳ thế giới lưỡng cực, khi Ðông và Tây quyết chiến dưới chiêu bài ý thức hệ!! Khi chính bản thân ông từng bị cả chính quyền hai miền Nam Bắc xem là kẻ địch, là người ly khai. Năm 1950, ông đã từng bị quân đội cộng sản miền Bắc bắt giam và dự định thủ tiêu. Sau đó chế độ miền Nam dưới sự lãnh đạo của nhà độc tài Phác Chung Hy đã hai lần ám sát hụt, lên án ông là cộng sản!!

Nhiều nhà bình luận phân tích thời cuộc cho rằng người đứng đầu guồng máy cộng sản miền Bắc khó mà phủ nhận cả quá trình đấu tranh chống các chế độ độc tài tại miền Nam của ông. Ðiều này đã tạo điều kiện cho Nam và Bắc thông cảm nhau trong bước đầu thiết lập niềm tin. Một điều được dư luận Nam Triều Tiên chú ý là Tổng Thống Kim Ðại Trọng của họ không khép mình trong tháp ngà của những giá trị trừu tượng cho dù đó là Dân Chủ hay Nhân Quyền. Ông trấn an phe Bảo thủ và mở rộng hàng ngũ cảm tình viên. Hôm nay toàn dân Nam Triều Tiên mở hội tưng bừng đón mừng tin vui vị lãnh đạo của họ được thế giới công nhận. Ðàng sau niềm vui này có thể kể thêm rằng 3 năm trước đây, khi ông Kim Ðại Trọng lên cầm quyền, Nam Hàn đang suy sụp trong cơn bão tiền tệ quốc tế. Ba năm sau, ngày nay Nam Hàn đã được chấn hưng, mức tăng trưởng Nam Hàn cao đến chóng mặt, hơn 10 % bắt đầu từ năm ngoái. Chính ông đã biến lời hứa thành hiện thực khi ông quả quyết với người dân Nam Hàn rằng Dân Chủ là con đường duy nhất dẫn đến Tự Do và Phát Triển Kinh Tế.

SỨ ÐIỆP NÀO QUA CON NGƯỜI KIM TỔNG THỐNG?

Theo một quan sát viên, Tổng Thống Nam Hàn, ông Kim Ðại Trọng, người vừa vinh dự đoạt Giải Thưởng Nobel Hòa Bình, là một tín hữu Công giáo rất sốt sắng đạo đức, mà chính Niềm Tin Công Giáo này đã thúc đẩy ông đưa ra đề nghị hòa giải với Bắc Hàn.

Ông Gunnar Berge, Chủ Tịch Ủy Ban trao Giải Thưởng Nobel Hòa Bình gồm 5 người cho biết: "Thông qua chính sách Mặt Trời Chiếu Sáng, Kim Tổng Thống đã dẫn dắt người dân Triều Tiên vượt thắng cuộc chiến tranh kéo dài 50 năm qua cùng với sự thù hận giữa hai miền Nam Bắc Hàn. Giờ đây đã có những dấu hiệu rõ rệt cho niềm Hy Vọng rằng đã đến hồi chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh tại bán đảo Triều Tiên".

Trong tháng 6 năm 2000 vừa qua, Chính sách Mặt Trời Chiếu Sáng của ông đã giải tỏa ánh sáng huy hoàng nhất, khi ông tiếp xúc với người anh em miền Bắc, qua cuộc tham dự một cuộc họp thượng đỉnh tại Thủ đô Bình Nhưỡng với lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật. Trong dịp này, ông đã bàn với chủ tịch Kim Chính Nhật nên mời Ðức Thánh Cha sáng thăm viếng Bắc Hàn như một cử chỉ Hòa giải và Hòa bình. Lãnh tụ Bắc Hàn đã sốt sắng đồng ý và nay đề nghị này đã được chuyển cho Tòa Thánh nghiên cứu. Người ta còn nhớ, sau khi chiến thắng trong cuộc tranh cử tổng thống tháng 12 năm 1997, chính ông đã thú nhận: "Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã gìn giữ tôi trong rất nhiều cơn quẫn bách, để đưa tôi lãnh đạo quốc gia này bước vào thiên niên kỷ mới."

Giáo sư Thomas Han Hong Soon, Giáo sư môn kinh tế chính trị Ðại Học Hankuk tại Thủ đô Hán Thành cho biết: "Là một người Ðại Hàn và cũng là một người Công Giáo, tôi rất tự hào khi được tin Kim Tổng Thống được trao Giải Thưởng Nobel Hòa Bình."- Trong một cuộc phỏng vấn ngày 14.10.2000 dành cho phóng viên Nhật báo Avenire của nước Ý, Giáo sư Thomas nói: "Kim Tổng Thống là một giáo dân rất nhiệt thành, thuộc Giáo xứ Sejong Ro tại Hán Thành. Mỗi Chúa Nhật hàng tuần ông cùng gia đình đi dự thánh lễ như một người tín hữu bình dân trong vùng. Kim Tổng Thống đã làm chứng cho Niềm Tin Công Giáo của ông trong các hoạt động chính trị, mà tiêu biểu nhất là hành vi ân xá cho hai ông Toàn Ðầu Hoán và Roh Tae Woo, những người đã nhiều lần âm mưu muốn giết ông. Qua những chứng tá trên, Kim Tổng Thống đã làm gương cho người dân Nam Hàn nhìn thấy một người Công Giáo đích thực phải hành xử thế nào theo đúng Tin Mừng."

Giáo sư Thomas nói tiếp: "Kế hoạch hòa giải với Bắc Hàn của ông đã bắt đầu từ học thuyết Xã Hội Công Giáo mà Công Ðồng Vatican II đã công bố. Ông là người đầu tiên nói chuyện hòa giải và đã thực hiện chuyện đó qua những hành vi cụ thể. Ngày nay, đúng là một nguồn an ủi và khích lệ biết bao khi thế giới long trọng nhìn nhận những giáo huấn và những gương sáng này qua việc trao giải Nobel Hòa Bình."

Cũng theo Giáo sư Thomas: "Chứng tá của Kim Tổng Thống có một ý nghĩa truyền giáo đặc biệt quan trọng. Tuy chỉ có 10 % dân số là Công giáo, Nam Hàn là một trong những quốc gia có tỷ lệ người lớn trở lại với đạo Công Giáo cao nhất thế giới. Trong những năm qua, Giáo Hội Công Giáo Nam Hàn được kể là Giáo Hội Anh Hùng trong việc Bảo Vệ Nhân Quyền và Ðấu Tranh cho Công Lý và Hòa Bình, chẳng những trên miền đất quê hương và trên thế giới. Qua giải thưởng này, chúng tôi thấy có trách nhiệm nặng nề hơn và cũng đòi hỏi chúng tôi phải dấn thân hơn để cải thiện xã hội và thế giới hôm nay mà chúng tôi đang sống".

Phải chăng qua những lời tuyên bố trên đây của Giáo sư Thomas Han Hong Soon, chính cuộc sống của một con người luôn luôn biết quên mình vì người khác như Tổng Thống Nam Hàn Kim Ðại Trọng đã gửi đến cho mỗi người chúng ta một Sứ Ðiệp, mà quý độc giả và bảûøn thân tác giả bài viết này phải suy nghĩ về trách nhiệm của chúng ta với xã hội và thế giới hôm nay.

© Copyright by Tran Quy Thien