Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN
hận định về Thương Ước Song Phương Việt Mỹ vừa ký kết, ông Carl Thayer, chuyên viên nghiên cứu về Việt Nam thuộc Trung Tâm Á Châu Thái Bình Dương, trụ sở tại tiểu bang Hawaii Hoa Kỳ, đã viết: "Sau ngày 30 tháng 4, 1975, có thể nói Hoa Kỳ coi như đã thua trận trong chiến tranh nhưng với Hiệp Ước Mậu Dịch lịch sử song phương Việt Mỹ mới ký kết, có thể nói Hoa Kỳ coi như đã thắng trận hoàn toàn trong hòa bình, sau khi đã chấp nhận bãi bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam."
Nhận định trên đây của Carl Thayer có đúng với thực tế Việt Nam hiện nay không? Ðể trả lời, chúng tôi đã cố gắng tổng hợp tin tức tài liệu của các cơ quan truyền thông như các hãng tin CNN, Reuters, AP, AFP, VietCatholic News, cả báo Việt trong nước, để trình bày với quý độc giả toàn bộ vấn đề liên quan tới thương ước Việt Mỹ, sau đó xin đóng góp một vài nhận định cá nhân, để quý độc giả có một cái nhìn tổng quát nhưng đầy đủ về biến cố lịch sử này đối với đất nước Việt Nam chúng ta.
Bất cứ người Việt Nam nào, dù chỉ là người dân bình thường đang sống trong nước cũng hiểu rằng: Việc ký kết thương ước Việt Mỹ vừa qua là một biến cố rất quan trọng cần thiết để cứu nguy tình trạng suy sụp toàn diện nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Ngay cả giới lãnh đạo Hà Nội và toàn đảng cộng sản không phải không biết rõ điều này!! Nhưng họ cũng nhận thức rằng muốn cứu vãn tình trạng kinh tế quá bết bát có thể kéo theo sự sụp đổ độc quyền lãnh đạo của họ,ï không còn giải pháp nào tốt hơn là cầu mong sớm được ký kết hiệp ước mậu dịch này.
TIẾN TRÌNH DẪN TỚI THƯƠNG ƯỚC LỊCH SỬ VIỆT MỸ
Ðể hiểu rõ thương ước vừa ký kết, thiết tưởng người ta cần nhìn lại quá trình những thời điểm chính trong bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong suốt thời gian một phần tư thế kỷ vừa qua, từ đó người ta sẽ vô tư nhận định những khía cạnh, những nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ, sau khi huênh hoang tuyên bố chiến thắng tên đế quốc đầu sỏ Hoa Kỳ và "ngụy quân ngụy quyền" thì nay lại van xin kẻ chiến bại thi ân cho mình.
Có thể nói Hiệp ước Thương mại Việt Mỹ là một dấu mốc kinh tế quan trọng nhất cho Việt Nam, khi quốc gia này quyết định mở cửa thị trường với ngoại quốc từ ngày đổi mới năm 1986 đến nay. Dưới đây là những thời điểm chính trong tiến trình dẫn tới Hiệp Ước Mậu Dịch Lịch Sử (The Historic Trade Pact) như các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ thường nhắc tới:
-Ngày 30 tháng 4, 1975: Quân đội cộng sản BắcViệt chiếm Sài Gòn. Hoa Kỳ nới rộng biện pháp cấm vận trên toàn lãnh thổ Việt Nam, kể cả miền Bắc Việt Nam.
-Năm 1979: Bộ đội cộng sản Việt Nam chiếm Nam Vang lật đổ chính quyền Khmer Ðỏ. Ðể phản đối hành động này, các nước Tây Âu và Ðông Nam Á, cùng với Hoa Kỳ đồng tham gia biện pháp cấm vận Việt Nam.
-Năm 1988: Ðể tỏ thiện chí,Việt Nam hợp tác với Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm người Mỹ mất tích.
-Năm 1991: Hoa Thịnh Ðốn đưa "lộ trình" (roadmap) cho Hà Nội, vạch ra tiến trình đi đến giải tỏa cấm vận và bình thường hóa ngoại giao.
-Ngày 3 tháng 2, 1994: Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton ký sắc lệnh bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam.
-Ngày 11 tháng 7, 1995: Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton ký sắc lệnh bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
-Ngày 6 tháng 8, 1995: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Warren Christopher đến Việt Nam dự lễ thượng kỳ tại tòa Ðại Sứ Mỹ tại Hà Nội.
-Tháng 9, 1996: Hoa Kỳ và Việt Nam khởi đầu vòng đàm phán thứ I về mậu dịch.
-Ngày 7 tháng 4, 1997: Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ chấp thuận việc đề cử ông Douglas "Pete" Peterson, cựu phi công tù binh chiến tranh Việt Nam, làm Ðại Sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam.
-Ngày 25 tháng 4, 1997: Ðại Sứ cộng sản Việt Nam Lê Văn Bằng nhận nhiệm sở tại Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.
-Năm 1999: Sau 8 lần đàm phán, Hoa Kỳ và Việt Nam đồng loan báo "thỏa thuận nguyên tắc" về Hiệp Ước Mậu Dịch, nhưng sau đó Hà Nội rút lui không ký kết với lý do có một số chi tiết không công bằng.
-Ngày Thứ Năm 13 tháng 7, 2000: Lúc 4 giờ chiều, Hiệp Ước Mậu Dịch giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã được ký kết giữa Ðại Sứ Charlene Batshefsky, Ðại Biểu Ngoại Thương Hoa Kỳ và Bộ Trưởng Thương Mại Việt Nam Vũ Khoan, sau bốn năm thương thảo.
TÌM HIỂU THƯƠNG ƯỚC SONG PHƯƠNG VIỆT MỸ
Tại Thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, hầu hết các cơ quan truyền thanh truyền hình, đặc biệt hai hãng tin CNN và Reuters đồng loạt loan tin như sau: Lúc 4 giờ chiều hôm nay, thứ Năm 13 tháng 7 năm 2000, trong một buổi lễ đơn sơ tại Vườn Hồng trong khuôn viên Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã công bố rằng: Thỏa Hiệp Mậu Dịch Lịch Sử giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã được ký kết do Ðại sứ Charlene Batshefsky, Ðại Biểu Bộ Ngoại Thương Hoa Kỳ và Bộ Trưởng Thương Mại Việt Nam, ông Vũ Khoan, sau 4 năm đàm phán.
Các hãng tin nhấn mạnh: Lần đầu tiên kể từ ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, thỏa hiệp quan trọng ký kết thứ Năm hôm nay sẽ khai thông quan hệ kinh tế công khai giữa hai nước. Nó sẽ làm giảm thuế quan hàng hóa và dịch vụ, bảo vệ tài sản trí tuệ và cải thiện quan hệ đầu tư. - Do đó, Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã phải bỏ thời giờ tạm dời cuộc Họp Thượng Ðỉnh đàm phán Hòa Bình giữa Do Thái và Palestine tại trại Camp Davis, tiểu bang Maryland, để bay về tòa Bạch Ốc loan báo tin hiệp định này. Ông nói hiệp ước sẽ mở rộng nền kinh tế Việt Nam, tạo công ăn việc làm và gia tăng mậu dịch giữa hai nước.
Tổng Thống Clinton tuyên bố: "Từ quá khứ cay đắng, chúng ta gieo mầm cho một tương lai tươi sáng...Việt Nam đã hướng về với một thế giới đang biến đổi... Chúng ta hy vọng rằng vấn đề mở rộng mậu dịch sẽ đi liền tay với Nhân quyền.." Ông cũng ca ngợi các nhà lập pháp Hoa Kỳ có tầm nhìn và sự lãnh đạo quả cảm. Ông cũng nhắc rằng sự hợp tác của Việt Nam trong việc truy tầm hài cốt chiến binh Mỹ mất tích trong cuộc chiến đã là chìa khóa mang lại sự ủng hộ cho hiệp thương, cũng như sự hỗ trợ của hầu hết những vị dân cử trong Quốc Hội từng là cựu chiến binh tại Việt Nam.
Hiệp thương chỉ có hiệu lực sau khi Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn và Quốc Hội Việt Nam đóng con dấu cao su vào! Cho đến nay Việt Nam vẫn còn nằm trong danh sách sáu quốc gia không có hiệp thương với Hoa kỳ là Bắc Hàn, Cuba, Lào, Á Phú Hãn và Nam Tư. Chỉ sau khi Quốc Hội hai nước phê chuẩn, Hiệp Thương sẽ giảm thuế quan các hàng hóa nhập cảng của Việt Nam vào Hoa Kỳ, từ mức 40% xuống chỉ còn 3% như giá biểu dành cho các quốc gia khác ngoài danh sách trên. Ngược lại, Việt Nam sẽ hạ suất thuế quan của mình đánh trên hàng hóa Mỹ, bảo vệ tác quyền của các công ty Hoa Kỳ, đồng thời bỏ bớt những hạn chế đầu tư của những công ty Mỹ tại Việt Nam.
Chính phủ Hoa Kỳ rất lạc quan là họ sẽ có đủ phiếu thuận của Quốc Hội để thương ước được phê chuẩn. Tuy nhiên sẽ có vài sự chống đối, vì lý do lý lịch không mấy tốt của Việt Nam về Nhân quyền và đàn áp tôn giáo. - Trong số những nhà lập pháp Hoa Kỳ hứa sẽ vận động sự chấp thuận của Quốc Hội có Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain, Cộng Hòa, tiểu bang Arizona, người đã từng chiến đấu và bị tù trên 5 năm tại Hỏa Lò Việt Nam. Ông nói với phóng viên CNN rằng: "Thương Ước là bước tiến tới và để lại đàng sau bóng đen của chiến tranh... Tôi không nghĩ rằng cuốn sách đã hoàn toàn đóng lại! Nhưng đây là một tiến bộ! Tôi nghĩ thương ước là tốt cho dân chúng Hoa Kỳ và Việt Nam, vì nó giúp mở rộng kinh tế và gia tăng mậu dịch giữa hai nước. Thương ước này quan trọng cho Việt Nam hơn là cho chúng ta."
Thượng Nghị Sĩ John Kerry, Dân Chủ, bang Massachusetts, hiện diện trong lễ ký kết cũng bày tỏ sự ủng hộ cho hiệp thương. Ông nói: "Lợi ích lớn lao của Hiệp Thương là gia tăng sự ổn định trong vùng Ðông Nam Á, là có một nước tham dự và nhận trách nhiệm quốc tế. Tôi nghĩ rằng đây là giai đoạn tích cực cho sự tiến hóa của bang giao mới với Việt Nam." - Tuy nhiên một Hiệp ước mậu dịch giữa hai cựu thù có thể có ảnh hưởng lớn về tâm lý. Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Peterson, một cựu tù binh chiến tranh của nhà tù nổi tiếng mang tên Hà Nội Hilton, tuyên bố: "Hiệp định này sẽ đặt căn bản cho quan hệ giữa hai nước chúng ta trong 50 năm sắp tới ".
Sau khi được phê chuẩn, Thương Ước song phương Việt Mỹ vẫn phải được Quốc Hội Hoa Kỳ tái xét hàng năm, lý do vì Việt Nam là một nước cộng sản và chưa thực dự tôn trọng Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền. - Tuy nhiên, theo hãng thông tấn Reuters, một tường trình mới đây của Ngân Hàng Thế Giới ước tính rằng: Sau khi ký hiệp thương với Hoa Kỳ, Việt Nam có thể gia tăng mức xuất cảng sản phẩm lên đến mức gần 800 triệu mỹ kim hàng năm, tức tăng gấp đôi mức 338 triệu mỹ kim của năm 1996. Và thương ước có thể bộc phát đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, hiện đang suy sụp tới mức nay chỉ còn 500 triệu mỹ kim từ mức 2,8 tỷ mỹ kim trong năm 1996.
Cũng theo hãng tin Reuters, theo lời yêu cầu của Việt Nam, Hoa Kỳ đã đồng ý sửa đổi điều khoản quan trọng nhất của bản văn Hiệp Thương sơ bộ đã ký tắt hồi tháng 7 năm 1999. Ðiều khoản này trước đây nói: "Việt Nam là một quốc gia đang phát triển". Bây giờ được ghi thêm vào câu: "có mức phát triển thấp" sẽ tạo nhiều điều kiện dễ dãi cho Chính phủ Clinton, khi muốn điều chỉnh lại những điểm quan trọng nhất của hiệp định sơ bộ. Trong số các điểm được điều chỉnh, tỷ lệ hùn vốn mà các thương gia Hoa Kỳ được quyền đóng góp khi lập những công ty hợp doanh với nhà nước Việt Nam trong các lãnh vực đầu tư nòng cốt như viễn thông, ngân hàng và giao thông là 49% thay vì 50 - 50% như đã từng đồng ý trước đây.
Bản tin Reuters nói trên cũng cho biết: Việt Nam viện dẫn lý do phải "bảo vệ an ninh quốc phòng", Thứ trưởng Thương Mại Vũ Khoan nói là nhà cầm quyền Hà Nội không thể trình bày toàn bộ ngân sách hàng năm như Hoa Kỳ đòi hỏi. Có tin nói rằng khi ông Vũ Khoan năn nỉ xin Hoa Kỳ đừng ép buộc phải công bố ngân sách hàng năm, bà Charlene Barshefsky, đại diện mậu dịch của Mỹ, không thể tự ý quyết định được và phải tham khảo ý kiến với Tổng Thống Clinton. Cũng vì thế mà tin bên lề cuộc thảo luận mậu dịch Việt Mỹ cho biết, chính ông Clinton là người đồng ý hủy bỏ điều khoản nói trên. Ngoài ra các viên chức hành pháp nhấn mạnh Hoa Kỳ không sửa đổi điểm nào khác mà hai bên đã từng ký kết, mà chỉ điều chỉnh cho phù hợp với tình trạng kinh tế Việt Nam, ngõ hầu có thể thông qua mà cả hai bên cùng mong đợi từ lâu.
Cũng giống như các thương ước khác trên thế giới, nội dung bản văn Hiệp Ước Mậu Dịch Song Phương Việt Mỹ gồm 7 Chương, 71 điều khoản, với 5 phần chính quan trọng mà chúng tôi xin lược tóm dưới đây:
1) Vấn đề Xuất Nhập Cảng Sản phẩm Kỹ Nghệ và Nông Nghiệp: Việt Nam đồng ý cho tất cả các công ty và xí nghiệp Việt Nam, và qua thời gian, cho các xí nghiệp tư Hoa Kỳ được quyền tự do hoạt động xuất nhập cảng tại Việt Nam. Việt Nam sẽ giảm quan thuế đến mức đáng kể trên toàn bộ hàng hóa và nông phẩm sản xuất tại Hoa Kỳ, bãi bỏ dần những biện pháp ngăn cản không bằng quan thuế (thí dụ như ấn định quota mỗi loại hàng nhập cảng) và tuân hành các tiêu chuẩn mà Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO) đưa ra liên quan đến vấn đề quan thuế, giấy phép nhập cảng, mua bán với cơ quan nhà nước và những quy định về kỹ thuật và vệ sinh.
2) Về Tác Quyền: Trong thời gian 18 tháng, Việt Nam phải áp dụng các quy định của WTO về việc bảo vệ bản quyền các sản phẩm trí tuệ, đồng thời tiến hành các biện pháp trên nhiều lãnh vực khác nhau như bảo vệ làn sóng vô tuyến truyền thanh truyền hình phát qua vệ tinh v.v..
3) Về Hoạt Ðộng Dịch Vụ: Việt Nam phải cho phép các cá nhân và công ty Hoa Kỳ được gia nhập thị trường dịch vụ trên tất cả mọi lãnh vực hoạt động, bao gồm các dịch vụ tài chánh (bảo hiểm, ngân hàng), viễn thông, phân phối, thính thị, kế toán, pháp lý, thiết kế, điện toán và những dịch vụ liên hệ, nghiên cứu thị trường, xây dựng, giáo dục.. Những cam kết này phải được thực hiện trong thời gian từ 3 đến 5 năm.
4) Về Ðầu Tư: Việt Nam đồng ý bảo vệ đầu tư của Hoa Kỳ chống lại việc quốc hữu hóa, chiếm đoạt, loại bỏ những đòi hỏi sử dụng nguyên liệu địa phương và tỷ lệ xuất cảng, giảm dần chế độ giấy phép đầu tư trên nhiều lãnh vực.
5) Vấn đề Công Khai Hóa Luật Lệ: Việt Nam phải ban hành một quy chế hoàn toàn minh bạch, công khai, tôn trọng bốn khu vực nói trên bằng cách phổ biến các dự thảo luật, nghị định và quy định để mọi người góp ý kiến, bảo đảm các luật lệ sẽ được thông báo trước và các ấn bản đó phải được phát hành phổ biến, cho phép công dân Hoa Kỳ được phép xin giải thích chính thức các luật lệ liên hệ.
TRIỂN VỌNG VIỆT NAM XUẤT CẢNG HÀNG SANG HOA KỲ.
Sau khi Thương Ước Việt Mỹ được ký kết, dư luận quần chúng trong nước rất phấn khởi. Theo VietCatholic News, Nhật báo Thanh Niên phát hành ngày 18 tháng 7, 2000 tại Sài Gòn đã đưa ra triển vọng rất hồ hởi về hàng Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ. Chúng tôi ghi lại những nhận định đáng lưu ý của tờ Thanh Niên dưới đây:
Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới. Trong năm 1999, hàng xuất cảng của Mỹ đạt mức 960 tỷ mỹ kim nhưng mức nhập cảng lên tới 1,230 tỷ mỹ kim. Mặc dầu sức mua rất cao nhưng đòi hỏi của người tiêu thụ về tiêu chuẩn hàng hóa lại không quá khắt khe như Âu Châu và Nhật Bản. Hiệp Ðịnh vừa ký kết đang mở nhiều triển vọng lớn lao cho hàng Việt Nam thâm nhập thị trường này. Nhưng nó cũng đặt các nhà doanh nghiệp Việt Nam phải đứng trước những thách thức gay gắt: vừa cạnh tranh với hàng các nước trên thị trường Mỹ vừa cạnh tranh với hàng của Mỹ sản xuất tại Việt Nam. Triển vọng hàng Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ tựu trung có 6 loại sau đây:
-Hàng Dệt May: Hoa Kỳ là một trong những thị trường nhập cảng hàng dệt may lớn nhất thế giới với mức 40 tỷ mỹ kim hàng năm. Hàng dệt may Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường Mỹ nhưng mức độ rất nhỏ 70 triệu mỹ kim năm 1999, vì mức chênh lệch thuế quan quá cao từ 30 đến 40%. - Sau khi hiệp định có hiệu lực, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng mở rộng thị trường bằng cách chuẩn bị tốt và có thể đưa mức xuất cảng hàng dệt may Việt Nam vào Mỹ lên tới gần một tỷ mỷ kim mỗi năm.
-Giày Dép và các Sản Phẩm Bằng Da. Mỗi năm Hoa Kỳ nhập cảng khoảng 14 tỷ mỹ kim giày dép các loại. Nhờ xuất cảng những sản phẩm có mức chênh lệch thuế quan thấp, mức nhập cảng hàng này của Việt Nam vào Mỹ đã tăng rất nhanh, từ con số khiêm tốn 69,000 mỹ kim năm 1994 đã vươn lên 115 triệu mỹ kim năm 1998. Hiện nay Việt Nam đứng thứ 12 trong danh sách các nước nhập cảng giày dép vào Mỹ, trên cả Canada là nước được hưởng thuế nhập cảng rất thấp theo NAFTA. Sau khi có hiệp định, với thuế quan thấp và không bị quota giới hạn, mặt hàng xuất cảng này vào Mỹ sẽ tăng mạnh với tốc độ tương đối bền vững.
-Hàng Gốm Sứ: Hoa Kỳ là nước có nhu cầu rất lớn về đồ gốm, đồ sứ nhưng gần như không sản xuất (?). Trung bình mỗi năm Mỹ nhập cảng mặt hàng này 3 tỷ mỹ kim và sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Sau hiệp định, nếu các doanh nghiệp Việt Nam biết khai thác có thể đạt hàng trăm triệu mỹ kim mỗi năm.
-Cà Phê: Mỗi năm Hoa Kỳ nhập cảng 3,5 tỷ mỹ kim và dự tính 10 năm tới nhu cầu nhập cảng tăng khoảng 10% mỗi năm. Từ năm 1994, Việt Nam đã bắt đầu nhập cảng cà phê "robusta" vào Mỹ và ngay năm đầu tiên đã đạt 32 triệu mỹ kim. Hiện nay Việt Nam đứng thứ 7 trong số những nước nhập cà phê vào Hoa Kỳ với khoảng 150 triệu mỹ kim mỗi năm. Mặt hàng cà phê không phụ thuộc hiệp định mậu dịch và thuế xuất coi như 0%. Triển vọng tăng nhập cảng cà phê Việt Nam vào Mỹ phụ thuộc vào sức cạnh tranh cà phê của Việt Nam và sự thành công trong chương trình trồng cà phê "arbica" của Việt Nam, vì thị trường Mỹ chủ yếu tiêu thụ loại cà phê này.
-Hải Sản: Sau Nhật Bản, Hoa Kỳ là nước nhập hải sản lớn thứ hai trên thế giới với gần 7 tỷ mỹ kim hàng năm. Chủ yếu mặt hàng này là tôm, cua, cá đông lạnh v. v.. Mức nhập hải sản của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng rất nhanh, từ 6 triệu mỹ kim năm 1996 đã đạt tới mức 130 triệu mỹ kim năm 1999. Triển vọng gia tăng xuất cảng hải sản, nhất là tôm, vào thị trường Mỹ rất lớn, nếu vấn đề vệ sinh thực phẩm được quan tâm đúng mức chu đáo.
-Thực Phẩm Chế Biến: Hoa Kỳ là nước nhập cảng 2 tỷ mỹ kim mặt hàng chế biến mỗi năm. Thực phẩm chế biến của Việt Nam xuất cảng sang Mỹ hiện nay là tôm chế biến, chiếm 3% mức nhập tôm chế biến của Mỹ. Sau hiệp định, các chuyên gia dự đoán triển vọng thực phẩm chế biến của Việt Nam tăng 30% mỗi năm và tới năm 2005, Việt Nam có thể đứng thứ nhì sau Thái Lan trong số các nước nhập cảng thực phẩm chế biến vào Mỹ. Ngoài ra với các mặt hàng khác như gạo, trái cây, rau tươi, hạt điều, hạt tiêu, trà, quế, gia vị, sản phẩm ngũ cốc khác cũng có khả năng tăng mạnh sang Mỹ khi hiệp định có hiệu lực.
DUYỆT LẠI THÀNH QUẢ VIỆT MỸ SAU KHI KÝ THƯƠNG ƯỚC.
Theo các nhà bình luận quốc tế: Rõ ràng Việt Nam, sau 10 tháng lúng túng và chia rẽ, đã đạt được những thành quả qua việc ký kết thương ước với Hoa Kỳ như mong ước một cách gấp rút và thương thuyết trong tình trạngkhẩn trương vì những ký do sau đây:
-Việt Nam nhận thức rằng cần sớm ký thương ước với Chính quyền Hoa Kỳ trong buổi chợ chiều của năm cuối cùng nhiệm kỳ Clinton. Nếu chờ sang năm có thể phải đương đầu với nội các Cộng Hòa thì những hạch sách về nhân quyền, đàn áp đối lập và tôn giáo chắc chắn sẽ gay go bội phần! Mặc dầu thương ước có phải chờ sang năm được Quốc Hội phê chuẩn nhưng ít ra cũng đã được Chính quyền Hoa Kỳ ký rồi. Ðàng khác những nhà lập pháp Hoa kỳ từng là cựu chiến binh Việt Nam tỏ ý ủng hộ thương ước, ngay cả Thượng Nghị Sĩ Mc Cain không mấy có thiện cảm với nhà nước cộng sản Việt Nam.
-Việt Nam cảm thấy tình trạng cấp bách cần phải ký thương ước, vì Trung Quốc đã qua mặt, đã thành công trong việc ký thương ước với Mỹ tháng 11 năm 1999 vừa qua và đang chuẩn bị gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO). Gần đây Hạ Viện Mỹ đã chấp thuận luật chấm dứt việc tái xét tình trạng mậu dịch hàng năm của Trung Quốc. Việt Nam cũng muốn được Hoa Kỳ bảo trợ việc gia nhập WTO (World Trade Organization) và Thương Ước là một điều kiện tiên quyết để được gia nhập tổ chức WTO.
-Việt Nam rất lo ngại sẽ là cái bóng mờ sau Trung Quốc! Các mặt hàng Việt Nam xuất cảng sang Mỹ đại loại cũng như hàng Trung Quốc cũng tơ sợi, may mặc, giày dép, gạo, cà phê, hải sản, dầu thô. Cần cấp thời ký kết thương ước với Mỹ để hưởng quy chế thuế quan nhập cảng vào Hoa Kỳ là 3% thay vì 40% nếu không ký thương ước! Ðàng khác hàng hóa Việt Nam sẽ không thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc một khi Trung Quốc đã tràn ngập vào thị trường Hoa Kỳ trước.
-Trong 4 năm vừa qua, kinh tế Việt Nam rất bết bát, tổng sản lượng quốc gia chỉ bằng 1/2 năm năm trước. Các nhà đầu tư nướcngoài theo nhau ra đi trong trật tự! Tài liệu hãng tin AP cho biết đầu tư ngoại quốc đã giảm thê thảm 85%: từ 2,8 tỷ mỹ kim năm 1996 năm nay chỉ còn 500 triệu mỹ kim. Ðàng khác nhà nước không có khả năng tạo công việc làm cho một triệu người gia nhập thị trường nhân dụng hàng năm. Với thương ước, các nhà đầu tư ngoại quốc và Mỹ sẽ trở lại, phục hồi sinh khí đầu tư làm phát triển kinh tế,thoát khỏi tình trạng suy thoái từ mấy năm qua.
-Theo các nhà bình luận kinh tế: Thực ra Hoa Kỳ không cần ký thương ước này với Việt Nam, vì giá trị chênh lệch mậu dịch hai bên chỉ bằng một tỷ mỹ kim! Con số này xét trên bình diện kinh tế toàn cầu của Mỹ chỉ là món tiền lẻ trong túi áo thôi!! Tuy nhiên báo chí có thể đề cập đến những lợi ích cho một số doanh nghiệp Hoa Kỳ hiện đang hoạt động tại Việt Nam như Công ty Nike, Caterpillar, đại công ty nông phẩm Cargill. Nhiều công ty Hoa Kỳ đã có nhiều kinh nghiệm ê chề tại Việt Nam như công ty Daimler-Chysler đã hủy kế hoạch xây dựng xưởng ráp xe hơi trị giá 190 triệu mỹ kim, công ty Procter & Gamble, một trong những doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu thụ tiền phong của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã gánh chịu mức lỗ hàng triệu mỹ kim vì liên doanh với xí nghiệp quốc doanh Việt Nam.
ÐÓNG GÓP MỘT VÀI NHẬN ÐỊNH VỀ THƯƠNG ƯỚC VIỆT MỸ.
Ðể có những nhận định chính xác và cụ thể về việc ký kết thương ước giữa Việt Nam và Hoa kỳ, chúng tôi xin đóng góp vài nhận định thô thiển và nghĩ rằng người ta cần nhìn vấn đề này qua hai bình diện Kinh tế và Chính Trị.
Trên Bình Diện Kinh Tế: Trước hết thương ước Việt Mỹ này sẽ mang lại cho Hoa Kỳ một ưu thế mạnh để cạnh tranh với các tư bản ngoại quốc khác đang đầu tư tại Việt Nam như Ðài Loan, Nam Hàn, Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, Úc, Pháp, Ðức v.v. Những hàng hóa mà các công ty Mỹ sẽ đưa vào thị trường Việt Nam là những sản phẩm và dụng cụ kỹ nghệ mà Việt Nam đang cần như thuốc men, phân bón, các sản phẩm chế biến, máy móc dụng cụ xây cất. Ngoài ra trong tương lai Hoa Kỳ sẽ đẩy mạnh việc khai thác và thăm dò các mỏ dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam, vì kỹ thuật khai thác dầu khí của Hoa Kỳ tối tân vượt hẳn hơn các nước khác.
Nhìn kỹ vào sự đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam, người ta thấy nặng về đầu tư tiêu thụ hơn là đầu tư tư bản!! Hậu quả của đầu tư tiêu thụ sẽ không giúp Việt Nam xây dựng một nền kỹ nghệ chế biến vữõng mạnh và hiện đại, để trong tương lai Việt Nam có khả năng tự xuất cảng các sản phẩm chế biến, không chỉ thu hẹp vào các sản phẩm thủ công nghệ.- Ðàng khác, tư bản Hoa Kỳ sẽ lợi dụng khai thác tối đa khối công nhân to lớn tại Việt Nam với giá thuê mướn rẻ mạt để sản xuất hàng hóa, trái lại nếu sản xuất tại Mỹ thì tiềân công trả cho nhân công cao gấp 20 lần tại Việt Nam. - Hơn nữa, một số nhà máy chế biến như xưởng lọc dầu, lắp ráp xe hơi, sản xuất bánh xe hơi sẽ được thiết lập tại Việt Nam, vì các luật lệ và điều kiện bảo vệ môi sinh hầu như không có nên sẽ giảm bớt rất nhiều chi phí điều hành nhà máy.
Những ai nghĩ rằng: Về phía Việt Nam, các nông sản, hải sản và lâm sản cũng như các mặt hàng thủ công nghệ mà Việt Nam đưa vào thị trường Mỹ sẽ được hưởng thuế nhập cảng rất nhẹ là điều tốt. Ðiều này chưa chắc là một lợi thế cho các mặt hàng Việt Nam, vì hàng Trung Quốc đang có mặt tại thị trường Hoa Ky øthường có phẩm chất tốt hơn hàng Việt Nam và người tiêu thụ đã quen dùng hàng của Trung Quốc từ lâu rồi!- Ðàng khác, nếu trong tương lai các bản thống kê có ghi tổng sản lượng xuất cảng nhiều hơn tổng sản lượng nhập cảng cũng chưa hẳn là một dấu chỉ tốt cho kinh tế Việt Nam, vì hầu hết các măït hàng chế biến tại Việt Nam đều do tư bản ngoại quốc bỏ vốn, trong các xí nghiệp đầu tư hỗn hợp Việt My,õ nên dĩ nhiên lợi nhuận tư bản ngoại quốc và Hoa Kỳ thu vào bao giờ cũng nhiều hơn Việt Nam.
Trên Bình Diện Chính Trị: Theo bản tin Nhật báo San Jose Mercury: Một nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội nói rằng hiệp ước mậu dịch này sẽ có gân guốc và răng cỏ sắc bén! Ðây chính là một hiệp định mà người cộng sản Việt Nam không thể hủy được. Không như hàng trăm hiệp định mà họ đã ký. Ðây không phải là tấm giấy dán trên tường! Ðây cũng không phải là mảnh giấy lộn, cũng không phải là mảnh giấy để họ gắn lên tường để thưởng ngoạn!!
Lợi ích lâu dài do thương ước này mang lại là tư bản Mỹ với số vốn kếch xù sẽ dần dần loại trừ các công ty khác với số vốn nhỏ hơn như của Ðài Loan, Ðại Hàn, Mã Lai, Thái Lan, Singapore ra khỏi thị trường Việt Nam!! Một khi tư bản Mỹ đã độc chiếm thị trường Việt Nam thì họ sẽ xử dụng sức mạnh của đồng Mỹ kim để chi phối sinh hoạt chính trị tại Việt Nam, nghĩa là Hoa Kỳ sẽ dùng sức mạnh kinh tế để sai khiến chính phủ cộng sản Việt Nam. Nếu Việt Nam không thỏa mãn những yêu sách của tư bản Mỹ thì chỉ một quyết định tăng giá lãi suất cho vay của chính phủ Hoa Kỳ, cũng đủ làm cho nền kinh tế Việt Nam đi vào khủng hoảng kinh tế như kinh nghiệm mới xảy ra gần đây tại Nam Dương, Thái Lan, Nam Hàn, Hồng Kông, Ðài Loan v.v.
Chính vì lý do sử dụng quyền lực kinh tế để chi phối quyền lực chính trị của Hoa Kỳ, sau cuộc chiến tranh lạnh, các quốc gia Âu Châu như Pháp, Ðức, Anh, Hòa Lan, Tây Ban Nha v.v. đã thành lập Liên Hiệp Âu Châu để chống lại bá quyền kinh tế của Mỹ tại Âu Châu. - Ngược lại, Hiệp Hội Ðông Nam Á gồm Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân, Brunei và Việt Nam chỉ là một sự liên kết lỏng lẻo vì không có một chính sách kinh tế thống nhất như Liên Hiệp Âu Châu!! Trên bình diện công pháp quốc tế, Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền nhưng trên thực tế, với việc ký kết thương ước, Việt Nam sẽ bị chi phối nặng nề không những vể kinh tế mà dần dà về cả chính trị nữa!!..
Muốn phát triển kinh tế, chế độ chính trị hiện nay tại Việt Nam phải thay đổi. Lý do rất dễ hiểu là những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay không phải là những nhân tài của đất nước, được nhân dân chọn lựa và bầu ra để lãnh đạo quốc gia. Với kiến thức hạn hẹp và tuân phục giáo điều Mác Lê lỗi thờiâ, họ không có khả năng hoạch định một chính sách quốc gia hữu hiệu, để đáp ứng với tình hình thế giới luôn thay đổi, cũng như thỏa mãn nguyện vọng chính đáng cơm no áo ấm của toàn thể nhân dân Việt Nam.