CATACOMBE: SỨC MẠNH NIỀM TIN CÔNG GIÁO

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

T

rong văn chương và trong cuộc sống đời thường, chúng ta thường nghe nói đến ngạn ngữ: "Mọi con đường đều dẫn tới La Mã." (Of all the roads that led to Rome). Ðây là một ngạn ngữ mang nhiều ý nghĩa sâu sắc về triết học và xã hội học.

Nhưng theo các nhà khảo cổ học và nghiên cứu du lịch, ngạn ngữ trên ám chỉ đại lộ Via Appia Antica, một đại lộ ruột của Kinh Thành Rôma cổ đại, được xây cất từ năm 312 trước Công Nguyên. Trong thời Ðế Quốc La Mã phồn thịnh, từ đại lộ lịch sử này cư dân thành Rôma đổ ra bến cảng Brindisi để tiễn đưa các binh sĩ và các chiến thuyền đi chinh phục các lãnh địa tại Phi Châu và Tiểu Á hoặc hân hoan đón chào những đoàn quân chiến thắng trở về.

Theo một truyền thuyết, cũng trên đại lộ Via Appia Antica này, trong thời điểm Hoàng Ðế Néron bắt bớ và sát hại từng đoàn giáo dân đầu tiên với mức độ tàn bạo ác liệt nhất, các giáo đoàn đã khẩn khoản nài xin Thánh Phêrô tạm lánh xa Ðô Thành Rôma, để sau này có thể tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội trong thời sơ khai. Trên đường dời khỏi đô thành, thánh nhân gặp Ðức Kytô hiện ra và đang tiến vào đô thành. Thánh nhân cất tiếng hỏi: "Ngài đi đâu?" (Quo Vadis?). Ðức Kytô trả lời: "Ta vào thành để cùng chịu bách hại và tử đạo với các đoàn con của Ta." - Nghe vậy thánh Phêrô đã quay trở lại Ðô Thành Rôma và sau này tình nguyện xin đóng đanh ngược noi gương Thày của mình.- Hiện nay trên đường Via Appia Antica, các du khách còn thấy một tảng đá lớn in hằn vết chân Ðức Kytô và người ta gọi địa điểm này là "Quo Vadis". Truyền thuyết và địa danh lịch sử này đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà đạo diễn Hollywood thực hiện một tác phẩm điện ảnh bất hủ mang cùng tên " Quo Vadis".

Trước đây trong một bài báo, chúng tôi đã viết: Có người đã so sánh Kinh Thành Rôma Vĩnh Cửu như một chiếc bánh nhiều tầng và nhiệm vụ của người du khách là hãy khoan thai tản bộ trên những con đường dẫn đến những di tích thành quách lịch sử, để thưởng thức từng tầng của tấm bánh kỳ diệu quyến dũ ấy. Theo các nhà khảo cổ học, Kinh Thành Rôma hiện nay là trung tâm điểm hội tụ của ba tầng thành phố cũ mới: Rôma cổ thành, Rôma tân thời và Rôma hầm trú dưới lòng đất. Và Via Appia Antica là đại lộ liên kết ba thành phố này.

Cổ Thành (Old City) Rôma bao gồâm bảy ngọn đồi: Esquilina, Latêranô, Aventina, Palatina, Oppia, Caelia và Janiculum, nằm phía hữu ngạn sông Tiber, có những tường lũy cao Aurelia và Servia bao bọc chung quanh, thường gọi là Nội Thành. Hiện nay bên trong thành nội, các du khách còn thấy những tàn tích lịch sử như các lăng tẩm, các đền đài, các nhà tắm hơi (Steam Baths) của các Hoàng Ðế Néron, Augustus, Tiberius, Claudius, Trajan, Agrippa hoặc trụ sở Quốc hội Forum Romanum và hai đại hí trường Circus Maximus, Colosseum, được xây cất trong thời gian dài 800 năm, từ năm 550 trước Công Nguyên đến năm 270 sau Công Nguyên.

Rôma Tân Thời ( New City) là thành phố mới được chính quyền mở rộng phía Nam cổ thành, gần khu vực phi trường quốc tế Leonardo da Vinci International Airport với những dãy nhà cao tầng, những chung cư sang trọng, những biệt thự xinh xắn nơi đặt văn phòng các tổ chức Liên Hiệp Âu Châu, làng Thế Vận Hội và các cơ sở kinh doanh thương mại với hệ thống xa lộ hiện đại.

Ðặc điểm của Thủ đô Rôma hiện nay khiến cho Kinh Thành Vĩnh Cửu này thu hút các đoàn du khách quốc tế và người hành hương khắp nơi chính là Thành Phố Rôma hầm trú dưới lòng đất (Underground City). Trên suốt chiều dài đại lộ Via Appia Antica, các du khách không thể ngờ rằng: Ngoài những lăng tẩm của các ông hoàng bà chúa lộ thiên mà họ có thể nhìn thấy, dưới những bước chân họ, sâu dưới lòng đất, hiện còn những di tích của hàng trăm Hang Toại Ðạo (Catacombe) là những bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về Sức Mạnh Niềm Tin Công Giáo trong những thế kỷ đầu sau Công Nguyên.

VÀI NÉT LỊCH SỬ VỀ CÁC HANG TOẠI ÐẠO

Theo tác phẩm "The Catacombs of Rome ", tác giả là một nhà khảo cổ học người Ý, ông Fabrizio Mancinelli, cho chúng ta biết nguyên nhân lịch sử của Kinh Thành Rôma Vĩnh Cửu hiện nay đã xuất hiện cả một thành phố Rôma hầm trú dưới lòng đất như sau:

Theo bộ Luật La Mã, Chương 12, ấn định: Ðối với tất cả những người chết, thân nhân của họ không được hỏa táng hoặc chôn cất trong phần đất nội thành (cổ thành) mà phải an táng họ ngoài ngoại thành, nghĩa là bên ngoài các tường thành Aurelia và Servia - Sở dĩ có khoản luật này, vì ngay từ thời xa xưa người La Mã vẫn tin thân xác những người chết sẽ sống lại nên cấm không được hỏa táng! Còn lý do cấm chôn cất trong thành nội, vì diện tích đất trong thành ngày càng hẹp, dành cho những người sống xử dụng và sinh hoạt.

Theo các nhà khảo cổ học, vào thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ III sau Công Nguyên, dân số cư dân thành Rôma đã gia tăng đông đảo từ 500,000 lên đến 2,000,000 người. Vì thế hầu hết các gia đình đều mua đất bên ngoài thành, thiết lập những ngôi mộâ trên măït đất hoặc dưới lòng đất, dọc theo các con đường ra vào đô thành Rôma, đặc biệt trên đại lộ Via Appia Antica. Các ngôi mộ đều khác nhau về diện tích lớn nhỏ và vật liệu xây cất, cách trang trí, nhưng hầu hết đều thiết lập sâu dưới lòng đất. Có những mộ tập thể rất lớn dành cho cả một gia đình, một dòng họ. Có những mộ tập thể dài hàng cây số, có thể chôn hàng trăm thi hài. Họ mua đi bán lại hoặc lưu lại cho con cháu như một thứ gia tài của cả một dòng họ, một đại gia đình. Và theo phong tục La Mã, đến ngày giỗ những người chết gọi là ngày "Dies Natalis" là ngày họ tin rằng những người chết sẽ được tái sinh trong kiếp sống khác bên kia thế giới! Họ cũng tổ chức linh đình giỗ chạp cúng bái với thức ăn, hoa trái, rượu đặt trên phần mộ những người qua đời.

Từ bối cảnh cả một hệ thống hàng ngàn ngôi mộ sâu dưới lòng đất trên các con đường ra vào đô thành Rôma, đặc biệt trên đại lộ Via Appia Antica, theo các nhà khảo cổ học trong suốt thời gian gần ba thế kỷ cấm đạo, từ Hoàng Ðế Néron đến năm 313 sau Công Nguyên, khi Ðại Ðế Constantinô trở lại đạo Công giáo và ra sắc chỉ tha cấm đạo, người ta thấy hàng ngàn ngôi mộ sâu dưới lòng đất đã trở thành nơi tạm trú của các giáo dân công giáo đầu tiên, trốn tránh sự ruồng bắt của quân sĩ Rôma để trung thành với Niềm Tin Công giáo. Do đó các ngôi mộ đã trở thành những xã hội nhỏ thu hẹp dưới lòng đất, mà các giáo đoàn công giáo sinh hoạt. Từ đó các ngôi mộ tập thể đã được mệnh danh là Hang Toại Ðạo (Catacombe).

CATACOMBE: SỨC MẠNH NIỀM TIN CÔNG GIÁO

Theo tác giả người Ý Philippe Pergola viết trong cuốn "Roman Catacombs": Trong số hàng ngàn hang toại đạo rải rắc trên các con đường nối liền Thủ đô Rôma với ngoại thành hiện nay, đặc biệt trên đại lộ Via Appia Antica, có 6 hang toại đạo nổi tiếng nhất. Ðó là hang toại đạo Thánh Giáo Hoàng Callistô, Thánh Sebastianô, Thánh Nữ Domitilia, Thánh Nêrêô và Achillêô, Thánh Nữ Priscilla và hai Thánh Marcellinô và Phêrô. - Xin mời quý độc giả cùng với phái đoàn hành hương chúng tôi đến thăm hai hang toại đạo vĩ đại nhất và tiêu biểu nhất cho Sức Mạnh Niềm Tin Công Giáo trong những thế kỷ đầu sau Công Nguyên.

Sáng thứ Năm ngày 9 tháng 3 năm 2000, từ nhà trọ Fraternitas Domus trong nội thành Rôma, chúng tôi lấy xe bus đến đại lộ Via Appia Antica để hành hương hang toại đạo Callistô ( Catacombe di San Callisto). Chúng tôi không ngờ giữa một cánh đồng xanh tươi với những hàng cây bách diệp cao vút và những thảm cỏ bát ngát, dưới những con lộ thẳng tắp, là cả một thị trấn nhỏ nằm sâu dưới lòng đất!! Ngày chúng tôi đến hành hương, từ ban sáng đã có nhiều chuyến xe bus chở các phái đoàn Âu Châu và ngoại quốc đến đây đang chờ được hướng dẫn xuống thăm hang toại đạo nổi tiếng này. Ðúng như nhận định của Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tuyên bố: "Hang toại đạo Callistô là một địa điểm hành hương đáng kính nhớ và nổi tiếng nhất của Kinh Thành Rôma." Và giáo sư Giovanni Battista de Rossi (1822 - 1894) nhà khảo cổ học nổi tiếng đã sáng lập khoa khảo cổ học công giáo cũng đã nói: "Callistô là hang toại đạo đặc biệt và danh tiếng nhất trong các di tích lịch sử thời Giáo hội sơ khai."

Sau khi ghi tên tại văn phòng, các người hành hương được chia thành những nhóm nhỏ không quá 30 người, tùy theo ngôn ngữ Ý, Anh, Pháp, Ðức và cách hai giờ lại có những đợït xuống hang sâu dưới lòng đất! Chúng tôi gia nhập vào nhóm Anh ngữ gồm 20 người, trong đó có một linh mục người Ấn Ðộ và hai giáo dân, 6 giáo dân Mỹ đến từ Chicago và Philadelphia, một cặp vợ chồng công giáo người Anh và nhóm 8 người Việt Nam tỵ nạn chúng tôi. Trước khi xuống hang toại đạo, mỗi nhóm được các hướng dẫn viên (tour guide) trình bày sơ lược về lịch sử hang toại đạo cũng như những quy luật phải tuân theo khi đã vào trong hang, vì trong những đường hầm (địa đạo) chằng chịt sâu dưới lòng đất, nếu không cùng đi chung mà lạc trong hầm thì rất nguy hiểm không biết lối ra!!

Theo hướng dẫân viên, chúng tôi bước xuống cầu thang sâu dưới lòng đất, một luồng khí lạnh từ lòng đất tỏa ra, một sự thinh lặng tuyệt đối không một tiếng động, trong khung cảnh mờ tối tranh tối tranh sáng, mà những ngọn đèn điện trên trần địa đạo chỉ sáng đủ trên hành lang, chúng tôi lần mò bước theo chân người hướng dẫn viên. Ông vừa chiếu đèn pin vừa giải thích những hình vẽ trên tường vừa hướng dẫn khi bước tới những phòng nhỏ và những mộ chôn khoét sâu trên tường địa đạo.

Theo các nhà khảo cổ học, hang toại đạo Callistô là nghĩa trang đầu tiên của cộng đoàn công giáo Rôma thời cổ đại. Sở dĩ hang toại đạo này mang tên Callistô vì lúc sinh thời Ngài là vị Phó Tế (deacon), một cộng sự viên đắc lực và thân cận nhất của đức cố Giáo Hoàng Zephyrinus, sau này Ngài được bầu làm Giáo Hoàng lãnh đạo Giáo hội từ năm 217 đến năm 222 sau Công Nguyên. Ngài tử đạo năm 222, dưới triều Hoàng đế La Mã Alexandrus và được chôn cất tại đây.

Hang toại đạo Callistô là một hệ thống địa đạo, gồm 5 tầng chồng lên nhau, sâu dưới lòng đất từ 20 mét đến 50 mét, mỗi tầng cách nhau 10 mét. Nếu cộng lại tất cả các hành lang địa đạo trong hang toại đạo này, người ta có một chiều dài khủng khiếp: 20 cây số. Có rất nhiều mộ chôn người chết khoét sâu vào tường thành địa đạo. Tổng cộng có tới 500,000 ngôi mộ chôn tại đây. Có những xác chết sau gần hai ngàn năm đã khô đét như khúc cây hoặc tan rã như tro bụi hòa lẫn với đất và cát!!

Chúng tôi vừa xúc động vừa lần mò bước theo chân người hướng dẫn viên. Dọc theo các hành lang địa đạo rất hẹp, chúng tôi thấy có nhiều phòng lớn nhỏ khác nhau dành cho các sinh hoạt như nơi giáo dân tụ họp cầu nguyện, nơi lãnh nhận các bí tích, nơi dâng thánh lễ, nơi đặt Mình Thánh Chúa. Trên tường những phòng này đều có những hình vẽ tượng trưng cho Niềm Tin Công giáo như những con cá, thánh giá, chim câu hoặc cái neo v.v. Qua nghiên cứu các hình vẽ, các nhà khảo cổ học có thể biết được phần nào đời sống, phong tục của những cộng đoàn công giáo đầu tiên trong ba thế kỷ đầu sau Công Nguyên, khi họ phải chấp nhận một cuộc sống nguy hiểm và vô cùng thiếu thốn tất cả, để tránh những cuộc ruồng bắt của quân sĩ La Mã cấm đạo, chỉ vì muốn bảo vệ Niềm Tin Công Giáo của mình.

Khu vực quan trọng và linh thiêng nhất trong hang toại đạo Callistô là một phòng cầu nguyện bé nhỏ, trên tường nguyện đường là nơi chôn cất 8 vị Giáo Hoàng tử đạo được chôn cất trong mồ khoét sâu vào tường. Trên mỗi ngôi mộ có ghi danh xưng của mỗi vị giáo hoàng. Ðó là các đức Giáo Hoàng: Anterus tử đạo 40 ngày sau khi được bầu giáo hoàng năm 236; Fabianô (236 - 250) tử đạo dưới triều Hoàng đế Decius; Lucius I (253 - 254) tử đạo sau một một thời gian dài bị lưu đày; Stephanô I (254 - 257); Sixtus II (257 - 258) tử đạo dưới thời Hoàng đế Decius bắt đạo; Dionysius (259 - 268); Felicê I (269 - 274) và Eutychianus (275 - 283).

Nhưng địa điểm được mọi người hành hương chú ý đặïc biệt là nơi Thánh nữ Cêcilia, Bổn mạng Thánh nhạc Công giáo, bị tử đạo. Nơi đây hiện nay có đặt một tượng bằng đá hoa cương quý giá tuyệt đẹp, do ông Marc Bride, một điêu khắc gia người Mỹ tại thành phố New York, đã tạc với những nét mềm mại sống động, trong tư thế thánh nữ nằm phục khi quân sĩ La Mã thắt cổ thánh nhân cho đến chết! Pho tượng thật sống động khi người hành hương nhìn thấy ba vết thừng hằn sâu nơi cổ thánh nữ!!

Trên đại lộ Via Appia Antica, người hành hương có thể đến thăm viếng hang toại đạo Thánh Sebastianô (Catacombe di San Sabastiano). Theo các sử gia, Thánh Sebastianô là một giáo dân thuộc một gia đình quyền quý giàu có. Năm 283, Ngài gia nhập quân đội La Mã. Là một thanh niên thông minh can đảm, được các cấp chỉ huy tín nhiệm và Hoàng đế Ðiôclêtianô quý mến. Do đó Ngài được vinh thăng đại úy trong lữ đoàn phòng vệ của nhà vua nhưng tuyệt nhiên không một ai biết Ngài lại là một người công giáo thuần thành đạo đức. Với đời sống gắn bó với Niềm Tin Công Giáo, nhờ chức vụ sẵn có, Sebastianô thường len lỏi vào các trại giam để nâng đỡ an ủi các giáo dân bị giam cầm bắt bớ.

Năm 300, Hoàng đế Ðiôclêtianô ra lệnh thanh trừng gắt gao những người công giáo. Và những hành động lén lút giúp đỡ các giáo dân của Ngài không thoát khỏi những cặp mắt canh chừng của những người ghét đạo! Họ tố cáo Ngài với Hoàng Ðế! Ngài mạnh dạn tuyên xưng mình là người Công Giáo. Trước những lời dụ dỗ đe dọa, nhưng vẫn không lay chuyển niềm tin sắt đá của Ngài. Nhà vua tức giận trao cho một tiểu đội thi hành án xử bằng cách lột áo, trói tay vào cột đá. Thân xác Ngài trở thành bia hứng trọn những mũi tên bay tới nhưng nhờ Ơn Trên Ngài không chết! Ban đêm các giáo dân đem Ngài về nhà cứu sống. Sau cùng nhà vua ra lệnh đánh đòn, chém đầu, quăng xác xuống hồ. Giáo dân đem xác Ngài về chôn tại hang toại đạo mang tên Ngài.

Vào thế kỷ IV sau Công Nguyên, qua nhiều phép lạ, giáo dân đã tôn sùng và xây cất một thánh đường nguy nga bên lối vào hang toại đạo này. Hang toại đạo Sêbastianô hiện nay có chiều dài 12 cây số, có nhiều mồ chôn các giáo dân tại đây. Có truyền thuyết cho rằng dưới thời Hoàng đế Valêrianô đến thời Ðại Ðế Constantinô, thi hài hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô được chôn cất tạm tại đây trước khi di chuyển về đền thờ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Ngoại Thành, do đó thời xưa thánh đường này còn được gọi là Vương Cung Thánh Ðường Các Tông Ðồ (Basilica Apostolorum). Hiện nay thi hài của thánh Sêbastianô được đặt dưới hầm sâu dưới bàn thờ. Trên tường hành lang địa đạo, người hành hương có thể quan sát nhiều hình vẽ theo Kinh Thánh, nổi tiếng là hình vẽ tiên tri Jonas trên bãi biển.

Hoàn toàn trái ngược với những buổi thăm viếng các bảo tàng viện trưng bày các tác phẩm mỹ thuật hoặc các đền thờ công giáo nguy nga cổ kính hoặc ngay cả khi đến tham quan hí trường Colosseum lịch sử, tâm hồn chúng tôi quả thật đã xúc động mạnh khi được nhìn tận mắt, tay được sờ mó vào những bức tường hành lang địa đạo, nơi chôn cất những người chết và các giáo dân đầu tiên, vì đây là những di tích lịch sử chứng minh Sức Mạnh Niềm Tin Công Giáo của những đoàn giáo dân đầu tiên.

Khi bước xuống những bậc thang, những tam cấp địa đạo nhỏ hẹp lạnh lẽo, người hành hương không thể nào hình dung nổi cuộc sống vô cùng khó khăn nguy hiểm của những đoàn giáo dân, khi họ phải chấp nhận kéo dài một cuộc sống đầy gian lao khốn khổ như vậy!! Sức mạnh nào đã bắt những anh chị em giáo dân đầu tiên sống chui rúc lần mò trong tăm tối, thiếu ánh sáng, thiếu không khí, ngột ngạt, vì thỉnh thoảng mới có những lỗ thông hơi từ sâu dưới lòng đất ra bên ngoài!! Chỉ nguyên việc nghĩ đến hoàn cảnh bi đát những người còn sống phải chung sống bên cạnh mồ những người chết khoét sâu vào tường địa đạo, năm này qua tháng khác trong suốt ba thế kỷ đầu cấm đạo ngặt nghèo, chúng ta cũng cảm thấy rợn người!! Làm sao những giáo dân ngày nay chấp nhận sống như thế, nếu không phải nhờ Niềm Tin sắt đá vào Ðức Kytô đã giúp họ vượt thắng tất cả.

Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, bình thường các giáo dân cũng sống trên mặt đất như mọi cư dân khác của Kinh thành Rôma, nhưng cứ mỗi lần quân sĩ Rôma ruồng bắt hoặc trong những giai đoạn đen tối các Hoàng đế La Mã triệt để cấm đạo, từng đoàn giáo dân tự động rút xuống hang toại đạo để bảo vệ Niềm Tin. Có những thời gian dài sống chui dưới hang toại đạo sâu dưới lòng đất hàng năm trời!!. Những hình vẽ trên tường, những phòng lớn nhỏ để cầu nguyện, cử hành các bí tích, nơi dâng thánh lễ là những bằng chứng cụ thể chứng minh cuộc sống dưới hang toại đạo không phải ngắn ngủi!! Ðó là chưa nói đến những lúc mưa lũ, những ngày giông bão, những làn nước trên mặt đất có thể thấm thấu hoặc tràn vào hang gây nên cảnh ngập lụt!! Cũng như người ta chưa nghĩ tới trong hoàn cảnh sống chung với các xác chết sẽ nguy hiểm cho sức khỏe vì thiếu vệ sinh, không khí ô nhiễm lan tràn.. Mùi tử khí xông ra khắp hành lang địa đạo nhỏ hẹp!!

Nhưng theo các nhà khảo cổ học, trước những thương đau vật chất và tinh thần, các Giáo đoàn Công giáo Rôma đầu tiên đã vượt thắng tất cả. Họ đã sống kết hợp thành một đại gia đình, thành những Cộng đoàn yêu thương nhau như anh chị em một nhà. Họ đã bán tất cả những gì họ có để làm của chung. Họ đã chia nhau từng miếng cơm manh áo. Họ đã liên kết với nhau trong lời cầu nguyện, trong khi cùng nhận lãnh các bí tích. Họ đã trở thành những Cộng Ðoàn Cầu Nguyện (A Community of Prayer) nâng đỡ nhau vượt qua những khổ đau. Họ đã trở thành những Cộng Ðoàn Tín Hữu Hiệp Nhất như những Cộng Ðoàn Tín Hữu đầu tiên tại Thủ đô Giêrusalem thời các Tông đồ bắt đầu rao giảng đạo Chúa, mà sách Tông Ðồ Công Vụ đã đề cập đến ( TÐCV II,42- 47).

Bí quyết nào đã hướng dẫn các đoàn Giáo dân đầu tiên tại Kinh Thành Rôma chấp nhận một cuộc sống như vậy?! Sức Mạnh nào đã giúp vượt thắng tất cả?! Phải chăng là Sức Mạnh Niềm Tin Công Giáo gắn bó cuộc sống họ với Ðức Kytô. Vì thế người ta có thể nói Catacombe chính là Sức Mạnh Niềm Tin Công Giáo vậy.