CHỨNG NHÂN TIÊN KHỞI NIỀM TIN CÔNG GIÁO

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

C

ó những người chết đi nhưng thế giới không bao giờ quên được họ, vì đời sống họ đã ảnh hưởng tới thế giới này nhiều quá! Sự nghiệp họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác và không bớt phần vinh quang rực rỡ! Thân thế sự nghiệp cũng như hành động ngôn ngữ họ đã trở thành khuôn vàng thứơc ngọc cho hậu thế tâm niệm, noi gương và bắt chước. Họ là ai? Xin thưa đó là các vị Anh Hùng của Dân Tộc.

Lần rở lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt, qua những thời kỳ dựng nước và cứu nước, người ta thấy trải qua những thăng trầm của lịch sử, đã xuất hiện bao vị anh hùng dân tộc đã cống hiến đời sống họ, với bao công lao to lớn, với bao hy sinh cao qúy để tô điểm cho lịch sử nước nhà. Là người Việt Nam, ai trong chúng ta mà không hãnh diện ngẩng mặt nhìn trời khi nhận thức mình là con cháu của các vị anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Ðạo, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học v.v.

Bên cạnh những vị Anh Hùng Dân Tộc, ai là người Việt Nam mà không cảm thấy hãnh diện khi được vinh dự chứng kiến hoặc tham dự thánh lễ đại triều tôn phong 117 vị Anh Hùng Tử Ðạo Việt Nam lên bậc Hiển Thánh, tại công trường Thánh Phêrô, do Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chủ tế cách đây đúng 12 năm, ngày 19 tháng 6 năm 1988. Cả thế giới công giáo đều ngưỡng mộ trước những cái chết hào hùng của người dân Việt và họ không ngừng khâm phục tinh thần bất khuất vì Niềm Tin Công Giáo của cha ông chúng ta.

Có thể nói mà không sợ cường điệu trong ngôn ngữ: Ngày 19 tháng 6, 1988 là ngày Lịch Sử Dân Tộc và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vươn tới đỉnh cao nhất, vì chưa bao giờ có một biến cố lịch sử trọng đại như vậy ngay tại cái nôi của Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, nơi đã thấm nhuần máu đào hai thánh Tông Ðồ cột trụ Giáo Hội Phêrô và Phaolô. Trong suốt chiều dài Lịch sử Dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ người Việt chúng ta đươcï sống những giây phút huy hoàng và hãnh diện như vậy. Trong khi các Anh hùng Dân tộc như Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Huệ chỉ được biết và suy tôn trong ranh giới lãnh thổ quê hương thì các Thánh Tử Ðạo được cả thế giới công giáo suy tôn trên bàn thờ và hàng ngày cầu kinh bắt chước các ngài.

Thế nhưng, ngoài 117 vị Thánh Tử Ðạo Việt Nam mà chúng ta đã biết qua danh xưng tiểu sử các ngài, ai là Chứng Nhân Tiên Khởi đã tuẫn tiết vì Niềm Tin Công Giáo mà Ngày Chúa Nhật 5 tháng 3, 2000 tới đây đựơc Giáo hội Công giáo chính thức công bố sự nghiệp đồng thời tuyên phong Chân Phước, để cả thế giới cùng vinh danh và ngưỡng mộ?!

ÐÔI DÒNG LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM.

Trước khi giới thiệu với độc giả tiểu sử của Thày Anrê Phú Yên, Chứng Nhân Tiên Khởi Niềm Tin Công Giáo của dân tộc, thiết tưởng chúng ta cần nhìn lại một cách tổng quát lịch sử hình thành Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, từ đó dễ dàng nhận thức sự đóng góp vô cùng qúy báu của cha ông chúng ta vào tương lai sự nghiệp Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, nhờ đó Tin Mừng Ðức Kytô mới phát triển trên quê hương như ngày nay.

Những nét lịch sử đại cương dưới đây giúp độc giả nhớ lại những biến cố, mà cha ông chúng ta đã cưu mang Niềm Tin Công Giáo trong thương đau thử thách, để rồi niềm tin đó được trưởng thành trong máu đào tử đạo thế nào?! Vì dòng dã trên bốn thế kỷ nhận lãnh hạt giống Tin Mừng, có thể nói Lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam là một chuỗi dài bất tận của những bách hại, khủng bố, những truy nã, ngục tù, chết chóc của những con người, mà đối với chính quyền chỉ có một tội duy nhất - nhưng quả thật không phải là một tội - là đã tin theo và tuyên xưng Ðạo Chúa!!

Theo Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì vào tháng ba năm Nguyên Hòa nguyên niên (1533), dướiù triều vua Lê Trang Tôn đã ban hành sắc chỉ cấm đạo Gia Tô (Công Giáo). Sắc chỉ triều đình nêu đích danh một giáo sĩ Tây Phương tên là I Ni Khu (tức Ignatiô) đã theo đường biển vào truyền đạo tại làng Ninh Cường, xã Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy. Cả hai địa danh này hiện nay thuộc tỉnh Nam Ðịnh, miền Bắc Việt Nam.

Nếu năm 1533, nhà vua đã ban hành sắc chỉ cấm đạo thì Tin Mừng của Ðức Kytô tất nhiên đã được rao giảng trên non sông đất Việt phải khởi điểm trước đó, nghĩa là vào thượng bán thế kỷ XVI. Ðây là mốc thời gian đầu tiên ghi dấu vàng son khai sinh Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. - Trong thời gian này có truyền thuyết rằng Thánh Phanxicô Xavie (1506-1552) trên đường đi truyền giáo tại Nhật Bản đã dừng chân tại Ðàng Trong (Nam Việt) và Ðàng Ngoài (Bắc Việt). Nhưng sự kiện này không có gì bảo đảm về tính khả tín lịch sử mà chỉ là một tương truyền trong dân gian!!

Trong giai đoạn phôi thai của lịch sử Giáo Hội Công giáo Việt Nam, vào năm 1550, người ta đã ghi nhận những bước chân truyền giáo của các linh mục dòng Ða Minh, từ Mã Lai đến giảng đạo tại Nam Việt. Tiếp theo vào năm 1583, các linh mục dòng Phan Sinh từ Phi Luật Tân cũng đến truyền giáo tại Bắc Việt. Ðến năm 1615, cánh đồng truyền giáo trên quê hương lại được tăng cường với sự hiện diện của các linh mục và trợ sĩ Dòng Tên tại Cửa Hàn (Hội An), Quảng Nam. Trong giai đoạn này, lịch sử dân tộc Việt và Giáo hội cần phải tri ân một trong những linh mục Dòng Tên là Cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes), một nhà truyền giáo rất xuất sắc, uyên bác và thông minh đã đứng đầu nhóm nghiên cứu xử dụng mẫu tự La Tinh để phiên âm chữ quốc ngữ, mà chúng ta xử dụng hiện nay là Việt Ngữ. ngài đến giảng đạo tại Cửa Hàn năm 1624. Thời gian đầu, các ngài chỉ có mục đích xử dụng chữ viết này như một phương tiện truyền giáo, nhưng hiện nay Việt Ngữ đã hân hạnh trở thành chữ viết phổ thông của dân tộc Việt Nam.

Qua Tông Thư "Super Cathedram" ngày 9 tháng 9, 1659, Ðức Giáo Hoàng Alexandrê VII đã thiết lập hai Giáo phận Việt Nam đầu tiên: Giáo phận Ðàng Trong, phía Nam sông Gianh, từ cố đô Huế trở vào, gồm Chiêm Thành, Cao Miên và Xiêm La. Lúc đó thuộc quyền cai trị Chúa Nguyễn và trao cho Ðức Cha Lambert de la Motte. Giáo phận Ðàng Ngoài, từ phía Bắc sông Gianh trở ra, bao gồm phía Nam Trung Quốc và một phần lãnh thổ nước Lào, lúc đó thuộc quyền cai trị Chúa Trịnh, trao cho Ðức Cha Francois Pallu. Cả hai giám mục này thuộc Hội Thừa Sai Hải Ngoại Ba Lê (Missions Etrangères de Paris).

Một biến cố quan trọng đáng ghi nhớ: Ngày 31 tháng 3, 1668, Ðức Cha Lambert de la Motte phong chức linh mục cho hai thày thuộc Ðàng Trong, tại Thủ đô nước Xiêm La (Thái Lan) là Cha Giuse Trang và Cha Gioan Huệ. Tiếp theo vào tháng 6,1668, ngài cũng phong chức linh mục cho hai thày Ðàng Ngoài là Cha Bênêđitô Hiển và Cha Luca Bền. Cả bốn linh mục Việt Nam tiên khởi này đều là thày giảng do các cha Dòng Tên sáng lập và huấn luyện.- Năm 1670, Ðức Cha Lambert de la Motte có sáng kiến thành lập Dòng Mến Thánh Giá cho các thiếu nữ Việt nam muốn tận hiến cuộc đời cộng tác với các linh mục trong việc truyền giáo. Ðây là dòng nữ Việt Nam đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo Việt nam.

Ðến năm 1933, nhà viết sử cũng ghi nhận một biến cố đặc biệt: đúng 400 năm sau sắc chỉ cấm đạo (1533-1933), ngày 11 tháng 6, 1933, Ðức cố Giáo Hoàng Piô XI đã tấn phong vị Giám Mục Việt Nam tiên khởi là Ðức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1868-1949), làm Giám mục Giáo phận Phát Diệm, tại Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô tại Vatican.

Biến cố quan trọng bậc nhất trong Lịch Sử Giáo Hội Việt Nam được ghi dấu vào ngày 24 tháng 11, 1960, qua Tông Thư " Venerabilium Nostrorum", Ðức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII đã chính thức thiết lập Hàng Giáo Phẩm Công Giáo tại Việt Nam, gồm ba Giáo Tỉnh Hà Nội, Huế, Sài Gòn và thời đó chỉ có 17 giáo phận. Tất cả ba Giáo Tỉnh và 17 Giáo phận đều trực thuộc Thánh Bộ Truyền Giáo.

Một vinh dự đặc biệt cho Giáo Phận Hà Nội: Ðó là năm 1976, Ðức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã chọn Ðức Tổng Giám Mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1899-1974) làm vị Hồng Y Tiên Khởi của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. ngài cũng là vị Giám Mục Việt Nam đầu tiên của Giáo Phận Hà Nội năm 1950, khi Toà Thánh quyết định trao giáo phận này cho hàng giáo sĩ Việt nam.

Theo thống kê công bố cuối năm 1998, hiện nay Giáo Hội Công Giáo Việt Nam bao gồm 3 Giáo tỉnh (Hà Nội, Huế, Sài gòn), 25 Giáo phận, trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, với một lực lượng nhân sự hùng hậu: một Hồng Y, 30 Giám mục tại chức, 3 Giám mục hồi hưu, 2,182 linh mục dòng triều, 1,316 nam tu sĩ, 8,822 nữ tu, 1,100 đại chủng sinh, 6 đại chủng viện (Hà nội, Huế, Vinh Thanh, Nha Trang, Sài gòn, Cần Thơ) và 5,800,000 giáo dân, tỷ lệ 8 % dân số. Riêng năm 1998 có 62 đại chủng sinh thuộc 12 giáo phận thụ phong linh mục. Tại hải ngoại, Giáo Hội Việt Nam còn có thêm 1,200 linh mục, 2,000 tu sĩ nam nữ, đại chủng sinh, với 450,000 giáo dân, tỷ lệ 20% trong tổng số gần ba triệu người Việt định cư tại 80 quốc gia khắp thế giới.

Ưu điểm của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là một tổ chức tôn giáo thuần nhất, hệ thống tổ chức chặt chẽ, từ cơ quan trung ương là Hội Ðồng Giám Mục qua cấp trung gian là các Giáo phận đến hạ tầng cơ sở là các Giáo xứ và Xóm đạo, luôn đồng hành với Dân Tộc qua mọi biến cố thăng trầm của lịch sử, đặc biệt vẫn cương quyết trung thành với Ðức Giáo Hoàng, vị Ðại diện Thánh Phêrô, cũng như luôn liên hệ mật thiết với các Giáo Hội Công giáo bạn trên thế giới. - Sở dĩ Giáo Hội Công giáo Việt Nam được trang bị ưu điểm đặc biệt trên đây là nhờ tinh thần dấn thân truyền giáo không mệt mỏi của các nhà Truyền giáo và hàng trăm ngàn các Anh hùng Tử đạo đã đổ máu đào chan hòa trên Quê Hương Việt Nam, từ trên bốn thế kỷ qua kéo dài đến ngày hôm nay giữa lòng xã hội chủ nghĩa.

ANRÊ PHÚ YÊN, NGÀI LÀ AI?

Ðối với chúng ta, những kẻ hậu sinh, khi muốn tìm hiểu tiểu sử các bậc tiền nhân sống cách xa chúng ta gần bốn thế kỷ quả là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp! Vì ngoài những viên quan ngự sử của triều đình nhà vua có nhiệm vụ thường xuyên ghi chép những biến cố xảy ra trong giòng lịch sử dân tộc, trong dân gian rất ít có người nào quan tâm đến vấn đề ghi chép lịch sử!!

Nhưng với trường hợp Anrê Phú Yên thì hoàn toàn trái ngược. Ngày nay nhà viết sử có trong tay rất nhiều tài liệu cổ kính nhất, do một linh mục Dòng Tên nổi tiếng là Cha Ðắc Lộ đã ghi lại và được coi như những tài liệu có giá trị nhất. Chúng ta không ngạc nhiên về điểm này, vì chính Cha Ðắc Lộ là người hơn ai hết, biết rất nhiều về Anrê Phú Yên từ lâu và hai người thân thiết với nhau trong tình sư phụ với đệ tử hơn bất cứ người nào khác!!

Ngoài ra, những bản tường trình của Cha Ðắc Lộ lại mang tính lịch sử xác thực, do chính ngài viết ngày 1 tháng 8 năm 1644, nghĩa là chỉ 5 ngày sau khi Anrê Phú Yên bị hành quyết, tất cả những gì ngài đã chứng kiến, từ khi bị bắt cầm tù, kết án tử hình và trong khi bị hành quyết. Các sự kiện lịch sử này xảy ra trong vòng 48 giờ đồng hồ (hai ngày 25 và 26 tháng 7 năm 1644) trước khi Anrê Phú Yên trút hơi thở cuối cùng!!

Hơn nữa, bản tường trình của Cha Ðắc Lộ còn kèm theo Bản Ðiều Tra theo Giáo Luật, diễn ra tại Ma Cao, từ ngày 16 tháng Chạp năm 1644 đến ngày 13 tháng Giêng năm 1645, không đầy 6 tháng sau ngày Anrê bị sát hại. Bản tường trình này lại được tăng cường hai tài liệu quý giá: Bản Cung Khai có tuyên thệ của 23 nhân chứng do tòa án Giáo Hội tại Ma Cao thu thập, được soạn thảo bằng tiếng Bồ Ðào Nha. Bản Cung Khai của 16 nhân chứng là thương gia, thủy thủ, binh sĩ ngoại quốc đến Hội An trên chiếc tàu do thuyền trưởng João de Rezende de Figneiroa điều khiển. Họ là những người chứng kiến tận mắt cuộc hành quyết Anrê Phú Yên. Họ đã thành thực cung khai chỉ vài giờ sau biến cố đau thương!!

Căn cứ trên Bản Thỉnh Nguyện Án Phong Chân Phước cho Thày Anrê Phú Yên, do linh mục Dòng Tên Paolo Molinari S.J. chính thức thiết lập và đệ nạp Toà Thánh cứu xét. Sau đó đã được Ðức Tổng Giám Mục Jose Saraiva Martins, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh, chấp nhận và công bố trước sự hiện diện của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngày thứ Năm 27 tháng Giêng năm 2000, chúng tôi xin được hân hạnh tường trình qúy độc giả vài nét tiểu sử về Anrê Phú Yên, được coi như Chứng Nhân Tiên Khởi của Niềm Tin Công Giáo trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam như sau:

Anrê Phú Yên là một thanh niên công giáo, đúng hơn là một Thày Giảng, nghĩa là một nam tu sĩ, tình nguyện cam kết dâng hiến cuộc đời truyền bá Tin Mừng. Thày được biết dưới tên thánh khi rửa tội là Anrê, sanh năm 1625 tại Giáo xứ Mằng Lăng, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, là người con út của một bà mẹ công giáo có tên thánh là Gioanna. Tuy goá bụa nhưng bà tậân tâm giáo dục các con với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Thuở thiếu thời, Anrê là một cậu bé mảnh khảnh, nhưng tư chất rất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn luôn hướng về sự thiện. Do lời yêu cầu của bà mẹ, cậu được một Linh Mục Dòng Tên nổi tiếng là Cha Ðắc Lộ nhận vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và không bao lâu nhờ trí thông minh đã học trổi vựơt các bạn đồng môn.

Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội lúc 15 tuổi, cùng với bà mẹ và các anh chị ba năm trước khi mẹ cậu qua đời. Ðó là năm 1641. Lúc bị hành quyết vì Ðạo Chúa, Anrê mới chỉ có 19 tuổi (1625-1644). Theo các bản Tường Trình của Cha Ðắc Lộ, một năm sau khi rửa tội (1642), Anrê được Cha Ðắc Lộ nhận vào Nhóm Cộng Sự Viên Thân Tín của ngài. Sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê bắt đầu thi hành công tác của một Thày Giảng là đi truyền giáo.

Theo các văn kiện và chứng từ mà hiện nay chúng ta đang có trong tay: Anrê Phú Yên là một thanh niên đạo đức, rất nhiệt thành và hăng say truyền giáo để bứơc theo Ðức Kytô. Trong nhóm các thày giảng, Thày Anrê là nhân vật đứng thứ hai sau một số thày đã đứng tuổi. Nhưng qua chứng từ trình bày trong cuộc Ðiều Tra, người ta biết Thày là một thanh niên hoàn toàn dấn thân không mệt mỏi trong việc Rao Truyền Niềm Tin vào Ðức Kytô cũng như trong việc cử hành phụng tự với các nhóm tín hữu.

Cuối tháng 7 năm 1644, Quan Nghè Bộ trở lại Hội An nơi Thày Anê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của Chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kytô trong nước, vì thế quan quyết định ra tay hành động trước chống lại Hội các Thày Giảng. Quan sai một toán lính tới nhà Cha Ðắc Lộ để lùng bắt một thày giảng khác tên là Ignatiô. Nhưng Thày Ignatiô này đã đi làm việc tông đồ vắng nhà trong một thời gian ngắn. Khi bọn lính ập vào nhà, họ chỉ thấy Thày Anrê Phú Yên. Ðể khỏi trở về tay không, lính đánh đập Thày Anrê, trói thày lại, giải xuống thuyền đem về dinh quan trấn thủ.

Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, thày được dẫn tới trước mặt quan. Bọn lính thưa với quan rằng họ không tìm thấy Thày Ignatiô, nhưng họ đã bắt được một thày giảng khác giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kytô và còn khuyến khích họ theo đạo. Nghe vậy quan tìm nhiều cách dụ dỗ thày "từ bỏ cái đạo điên rồ đó và chối bỏ niềm tin". Tức giận vì sự bất khuất và không hề sợ hãi trước những lời đe dọa dụ dỗ, quan truyền đóng gông (Gông gồm hai cây gỗ tròn, dài 12 gang tay, giống hình cái thang kẹp vào cổ tù nhân) và giải thày vào ngục.

Sáng ngày 26 tháng 7 năm 1644, bọn lính dẫn hai thày Anrê già 63 tuổi và Anrê Phú Yên, cổ mang gông, qua các đường phố đông người qua lại, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh quan trấn thủ để bị tra hỏi công khai lần chót. Vì Thày Anrê Phú Yên vẫn quyết không chối bỏ Ðạo Chúa, quan tuyên án tử hình và ra lệnh dẫn thày về ngục thất. Còn thày Anrê già, 63 tuổi, được tha vì lý do tuổi già qua lời yêu cầu của Cha Ðắc Lộ và các thương gia Bồ Ðào Nha.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 26 tháng 7 năm 1644, một viên chỉ huy và 30 tên lính vào nhà tù ra lệnh cho thày đi theo tới nơi hành quyết. Sau khi chào mọi người trong tù, Thày Anrê cảm tạ Thiên Chúa và nhanh nhẹn bước theo bọn lính. Chúng vây chặt chung quanh dẫn thày qua các đường phố tại Kẻ Chàm (nay là Giáo xứ Vĩnh Ðiện, huyện Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam) tới một cánh đồng ngoài thành. Tại đây Cha Ðắc Lộ, nhiều người công giáo Việt Nam và Bồ Ðào Nha cũng như nhiều đồng bào không công giáo đã chờ sẵn để chứng kiến cuộc xử tử!!

Ðến nơi hành hình, Thày Anrê Phú Yên qùy xuống cầu nguyện. Bọn lính vây tứ phía, tháo gông, trói tay thày lại. Lúc đó theo thói quen tại đây, Cha Ðắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới người Thày Anrê để hứng máu, nhưng Thày Anrê không thuận, muốn máu mình rơi trực tiếp xuống đất, hoà vào lòng đất quê hương. Cha Ðắc Lộ tôn trọng quyết định của thày và qùy xuống bên cạnh. Thày xin mọi người đừng buồn phiền nhưng hãy cầu nguyện để thày trung thành với Thiên Chúa đến cùng!!

Giờ hành quyết đã đến! Bọn lính lấy giáo đâm thấu cạnh sườn bên trái thày nhiều nhát!!. Sau cùng một người lính chặt đầu thày, miệng không ngớt kêu tên Ðức Kytô. Ngày ấy là ngày 26 tháng 7 năm 1644, Thày Anrê Phú Yên vừa đựơc 19 tuổi. Cuộc hành quyết chấm dứt, Cha Ðắc Lộ, người đã chứng kiến tất cả diễn tiến cuộc hành hình kinh khiếp ấy, đã xin được thi hài Thày Anrê và đã trao cho viên thuyền trưởng chiếc tàu Bồ Ðào Nha sắp dời khỏi Ðàng Trong chở linh cữu về Ma Cao. Tàu tới đảo Ma Cao ngày 13 tháng 8 năm 1644. Toà Giám Mục Ma Cao đã tổ chức đón rứơc thi hài Thày Anrê rất trọng thể. Lễ nghi an táng được tổ chức long trọng ngày 15 tháng 8 năm 1644. Riêng về đầu (thủ cấp) Thày Anrê sau khi bị chém rơi giữa vũng máu, được Cha Ðắc Lộ cất trong một chiếc rương qúy giá và khi về Rôma, ngài đã mang theo báu vật này. Hiện nay sọ của Thày Anrê được đặt trên bàn thờ trong nguyện đường Nhà Mẹ Cả của các Cha Dòng Tên tại Rôma để mọi người kính viếng và ngưỡng mộ. Gương Tử Ðạo Anh Hùng của thày lập tức nổi danh. Qua những lời tường thuật và chứng từ thời đó đã vang vọng nhiều nơi, đến tận Toà Thánh Rôma.

CHỨNG NHÂN TIÊN KHỞI NIỀM TIN CÔNG GIÁO.

Theo sắc lệnh Tòa Thánh công bố ngày 27 tháng Giêng năm 2000 vừa qua, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sẽ tuyên phong Chân Phước cho 30 vị tử đạo thuộc nhiều quốc gia khác nhau, trong một thánh lễ đại triều được long trọng tổ chức vào ngày Chúa Nhật 5 tháng 3, 2000, tại Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô.

Tòa Thánh Vatican cũng cho biết: Trong số 30 vị tử đạo này gồm các quốc gia như Ba Tây, Ðài Loan, Phi Luật Tân, Belarus và Việt Nam. Lễ nghi tuyên phong Chân Phước (còn gọi là Á Thánh) là giai đoạn cuối cùng trước khi được công bố lên bậc Hiển Thánh. Trong tiến trình được tuyên phong là một vị Thánh trong Giáo Hội Công giáo, ứng viên phải được cứu xét qua nhiều giai đoạn điều tra rất cẩn thận với đầy đủ nhân chứng và chứng từ, kèm theo những phép lạ để minh chứng.

Theo tài liệu báo chí, trong số các vị tử đạo trẻ tuổi được phong Chân Phước dịp này, ngoài Thày Anrê Phú Yên đựơc coi như Chứng Nhân Tiên Khởi của Niềm Tin Công giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam, còn có một thiếu niên Phi Luật Tân, tên là Pedro Calungsod, 17 tuổi, bị sát hại năm 1672 trên đường đi truyền giáo với các linh mục thừa sai Dòng Tên Tây Ban Nha tại Marianas.

Qua vài nét đan thanh về Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trên đây, đặc biệt tiểu sử Thày Anrê Phú Yên, chắc chắn sẽ đem lại cho quý độc giả nhiều suy nghĩ, vì với chúng ta, Thày không phải là ai khác mà chính là bậc tiền nhân đáng kính đáng yêu của dân tộc Việt Nam. Qua đây chúng tôi xin đựơc trình bày vài suy tư dưới đây:

1.- Thày Anrê Phú Yên chính là người đã đi tiên phong vạch ra cho chúng ta con đường nên thánh của người Việt Nam. Theo một linh mục thừa sai người Pháp thuộc dòng O.M.I., có tên Việt nam là Dương Hữu Nhân, từng làm chủ bút trong Uûy Ban Ðiều tra Nghiên cứu tiểu sử Thày Anrê thì chàng thanh niên tử đạo19 tuổi ấy quả thật là một Vinh Dự cho dân tộc Việt nam, thật xứng đáng là Người Anh Cả trong hàng ngũ các thánh tử đạo Việt nam đã được phong thánh.

Trong số 117 vị tử đạo Việt nam được phong thánh ngày 19 tháng 6, 1988, đứng đầu là thánh linh mục Vinh Sơn Liêm, một khuôn mặt lớn, từng đi du học nhiều năm và hiện nay nơi khuôn viên Ðại học Công giáo Thánh Tôma tại Thủ đô Manila, nứơc Phi Luật Tân, có thiết lập tượng đài dâng kính ngài. Nhưng thánh Vinh Sơn Liêm đã chết vì đạo năm 1773, nghĩa là 129 năm sau khi Thày Anrê bị hành quyết. Do dó Vinh Dự Chứng Nhân Tiên Khởi về Niềm Tin Công Giáo của dân tộc phải dành cho Anrê Phú Yên. Hơn nữa, Thày chính là tấm gương đã khám phá ra một phong cách Việt nam để sống đạo và tuẫn tiết vì đạo, thật xứng đáng cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt ngày nay noi gương bắt chước.

2.- Suy nghĩ về cái chết của Anrê Phú Yên và các vị Tử Ðạo Việt Nam, người ta thấy tất cả các ngài đã không sống và chết cho mình hoặc do những lý do trần thế thúc đẩy như danh vọng, tiền bạc, lạc thú!! Nhưng để trung thành với Niềm Tin, các ngài đã coi nhẹ cái chết, dù cái chết rất thương đau, rất tàn ác, rất khủng khiếp, rất hãi hùng!! Ðối với chúng ta, chỉ nguyên nghĩ đến nó thôi cũng thấy lo sợ!! Thế mà các ngài đã can đảm vượt qua, vui vẻ đón nhận nó, nhờ hồng ân của Chúa.

Các ngài đã sống trên phầân đất Quê Hương mà chúng ta đã và đang sống. Các ngài đã yêu mến, đã đổ máu đào của chính mình thấm nhuần vào lòng đất quê hương, nhờ đó mới có Giáo Hội Việt Nam phát triển hôm nay. Tất cả các ngài đã trở thành Chứng Nhân của Niềm Tin vào Ðức Kytô, đã thà chết không thà chối bỏ! Muốn thế, các ngài phải lựa chọn: giữa trung thành và phản bội, giữa sự sống và cái chết, giữa Ðức Kytô và thế tục! Là con người ai cũng ham sống và sợ chết. Ai cũng không muốn chết, nhưng khi cần phải dùng cái chết để minh chứng Niềm Tin vào Ðức Kytô, Thày Chí Thánh của mình, các ngài hân hoan đón chờ cái chết. Phong cách Anh hùng của người Việt nam Công giáo là tại điểm đó. Thế giới Công Giáo khâm phục và ngưỡng mộ Tinh thần Bất Khuất của cha ông chúng ta cũng vì điểm này!! Niềm Vinh Dự của Dân Tộc Việt Nam là thế đó.

3.- Từ suy nghĩ trên đây, người ta thấy lịch sử cả hai Giáo Hội La Mã và Việt Nam đều giống nhau: Khai sinh trong Ðau Thương và Trưởng Thành trong Máu Ðào. Hạt giống Tin Mừng mà Ðức Kytô gieo vãi cách đây hai ngàn năm, tại miền đất Palestina, qua không gian và thời gian, được các Tông Ðồ và các nhà Tuyền giáo nối tiếp nhau tung đi khắp bốn phương trời. May mắn và hạnh phúc thay, hạt giống Tin Mừng này đã nẩy mầm trên quê hương chúng ta. Thế nhưng bao giông tố bão táp đã bao phủ!

Biết bao cuộc tàn sát, khủng bố, giam cầm, hành quyết các người công giáo đã xảy ra dưới thời Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, các vua nhà Nguyễn. Ngày nay các nhà viết sử làm sao có thể đo lường được mức độ tàn bạo dã man đến kinh hoàng, mà chính quyền thời đó đã thi đua sáng chế ra dòng dã trên bốn thế kỷ, trong cố gắng dập tắt Niềm Tin của người dân Việt vào Ðức Kytô!! Kết thúc những trang sử đau thương đó là trên 130,000 tín hữu đã tuẫn tiết, đã can trường chấp nhận cái chết để trung thành với Niềm Tin nơi Ðức Kytô của mình.

Ðáng buồn thay từ ngày chế độ cộng sản vô thần xâm chiếm quê hương, dóng máu Tử đạo lại tiếp tục âm thầm chảy trong các nhà tù, các trại cải tạo, dươi nhiều hình thức khoa học tinh vi trong 70 năm qua (1930-2000). Người ta không thể nào kể hết danh xưng biết bao linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân cả hai miền Nam Bắc, đã bị vùi giập trong các trại cải tạo tập trung, với những địa danh mà chỉ nhắc đến tên thôi đã đủ làm cho người nghe phải giùng mình rợn tóc: trại Quyết Thắng, Ðầm Ðùn, Chi Nê, Lao Bảo. Vì bất cứ ai nếu bất hạnh bước vào nơi đây khó có ngày trở về!! Dòng Máu Tử Ðạo đã và đang tiếp tục chảy trên quê hương chúng ta. - Viết lên những thực trạng lịch sử cụ thể trên đây, chúng tôi không bao giờ muốn tạo nên những chia rẽ, hiểu nhầm, nhưng chỉ muốn chứng minh Dòng Máu Tử Ðạo Việt Nam chưa cạn nguồn, vẫn còn đang tiếp tục chảy lênh láng trên quê hương chúng ta. Từ đó chúng ta hãy củng cố Niềm Tin và can đảm xác tín niềm Trung thành với Ðức Kytô.

4.- Nếu sử gia Tertulianô đã có lý khi viết: "Máu Tử Ðạo là Hạt Giống nảy sinh người Công giáo" thì Giáo Hội Công Giáo Việt nam muốn ghi nhận công ơn các vị Thừa sai đã can trường hy sinh đến rao giảng Tin Mừng trên đất Việt, Giáo Hội có nhiệm vụ đáp trả món nợ tinh thần này. Nếu chúng tôi không nhớ nhầm, năm 1972, Hội Ðồng Giám Mục Việt nam đã chấp nhận và ủy nhiệm cho Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền đứng ra thành lập Hội Thừa Sai Việt Nam với hoài bão đem Tin Mừng Ðức Kytô đến các hang cùng ngõ hẻm trên quê hương và các nước láng diềng như Ai Lao, Cao Miên, Thái Lan, Giáo Hội Việt Nam mới xứng đáng danh hiệu cao qúy mà đức cố Giáo Hoàng Piô XI đã ban tặng:"Trưởng Nữ của Giáo Hội Công Giáo tại Á Ðông".

Nhân ngày Toà Thánh Vatican sắp phong Chân Phước cho Thày Anrê Phú Yên, Chứng Nhân Tiên Khởi Niềm Tin Công Giáo của Dân Tộc, thiết tưởng đây là một dịp thuận tiện để mỗi người chúng ta, trong cũng như ngoài nước, hãy cung kính tưởng niệm cha ông mình đã dám sống cuộc đời đáng sống cho Lý Tưởng Công giáo, cho Niềm Tin vào Ðức Kytô. Nhưng đừng quên rằng: Chúng ta phải sống thế nào để Dòng Máu Tử Ðạo đang chảy trong huyết quản không bị hoen ố vì chúng ta. Trái lại sẽ làm cho Vinh Quang Dân Tộc càng sáng ngời rạng rỡ. Phải chỉ có bạn mới có thể trả lời vấn nạn trên đây, thưa bạn đọc thân mến.


Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.
© Copyright by Tran Quy Thien