HÀNH HƯƠNG RÔMA NĂM THÁNH 2000 (II)

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

T

uần báo The Pilgrim's Journal, cơ quan thông tin chính thức của Ủy Ban Trung Ương Năm Thánh 2000, trong số phát hành trung tuần tháng 4 năm 2000 loan tin: Sáng thứ Hai 10 tháng 4, 2000, tại Phòng Họp Báo Tòa Thánh Vatican, Ðức Hồng Y James Francis Stafford, Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng về Giáo Dân, đã công bố: "Biến cố lịch sử hàng đầu quan trọng và ý nghĩa nhất của Năm Thánh là Ngày Giới Trẻ Thế Giới (The World Youth Day) lần thứ XV sẽ được tổ chức từ ngày 14 đến 20 tháng 8 năm 2000 tại Kinh Thành Rôma."

Trong cuộc họp báo, với tư cách Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới, sau khi trình bày lịch sử diễn tiến các Ngày Giới Trẻ Thế Giới mà Tòa Thánh đã tổ chức 15 năm qua, khởi đầu từ năm 1984, Ðức Hồng Y James Francis Stafford tuyên bố: "Sẽ có trên một triệu rưỡi người trẻ khắp thế giới đổ về Thủ Ðô Rôma tham dự ngày lễ hội lớn lao này. Khi những người trẻ bước qua ngưỡng cửa Năm Thánh, họ sẽ ôn lại kinh nghiệm về phép Rửa Tội, vì bí tích này đã dẫn nhập khai quang họ vào Ðạo Chúa. Chính lúc bước qua Cửa Thánh, những người trẻ sẽ để lại đàng sau những cái cũ và tiến vào sự Hiệp Thông Mới. Ðây là giây phút Phúc Âm Hóa có tác động mạnh, giúp các người trẻ nhận thức trách nhiệm của mình để trở thành những phần tử năng động của Giáo Hội, đồng thời để xây dựng một Xã Hội Mới và một Thế Giới Mới."

Ðức Hồng Y cho biết thêm: Từ tháng 8 năm 1999, Ủy Ban Tổ Chức đã gửi trên 1,500,000 lá thư đến các gia đình xin tiếp đón những người trẻ khắp nơi trên thế giới về đây. Ngoài ra khi về Rôma, giới trẻ sẽ tạm nghỉ trong các giáo xứ, các tu viện, các công sở, các đại học, các trường học công và tư, các trung tâm tiếp đón và sẽ có 15,000 thanh niên thiếu nữ tạm nghỉ trong các nhà lều. Hiện nay đã có trên 35,000 giáo dân xin tình nguyện tham gia công tác đón tiếp.

Theo chương trình, Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XV sẽ chính thức khai mạc ngày 15 tháng 8, 2000 với thánh lễ đại triều kính Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, do Ðức Thánh Cha cử hành. Sau đó Ngài sẽ nói chuyện với các người trẻ đã được chia thành hai nhóm khác nhau tại quảng trường Thánh Phêrô và quảng trường Thánh Gioan Latêranô. Trên một triệu rưỡi người trẻ sẽ thành kính bước qua Cửa Thánh tại 4 đền thờ đã được chỉ định để hành hương. Tòa Thánh cũng đã chuẩn bị sẽ có trên 2,000 linh mục ngồi tòa giải tội giúp người trẻ thanh tẩy tâm hồn, thành tâm thống hối và quyết tâm bước sang một đời sống mới. Kết thúc Ngày Giới Trẻ Thế Giới là một nghi thức thật cảm động tối Chúa Nhật 20 tháng 8, 2000: Trên một triệu rưỡi người trẻ sẽ tham dự một cuộc rước đuốc vĩ đại tiến về đại hí trường lịch sử Coliseum, nơi mà trước đây hàng trăm ngàn giáo dân đầu tiên đã tử đạo. Họ sẽ cùng đi đàng thánh giá trọng thể do chính Ðức Thánh Cha hướng dẫn và cùng nhau giơ tay quyết tâm bước sang một Ðời Sống Mới. Thật đúng như lời Ðức Hồng Y Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức xác nhận: "Ngày Giới Trẻ Thế Giới là một biến cố lịch sử hàng đầu quan trọng và ý nghĩa nhất chưa từng có trong Năm Thánh 2000."

Trong đời sống người tín hữu, nếu có biến cố nào mang dấu ấn lịch sử để người giáo dân tìm về cội nguồn nơi Giáo Hội Công Giáo đã được thành lập, phải chăng chính là Hành Hương Năm Thánh. Ðây là một sinh hoạt tâm linh để người tín hữu khẳng định Niềm Tin Công Giáo của chính mình, không phải trên sách vở hoặïc những hình ảnh chết mà chính là để tận mắt chiêm ngưỡng những địa danh thánh tích, những di tích lịch sử, nơi phát xuất Niềm Tin Công Giáo. - Với những tâm tình trên, chúng tôi kính mời quý độc giả cùng với người hành hương đến kính viếng ba đền thờ còn lại: Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà Cả, Vương Cung Thánh Ðường Thánh Gioan Latêranô và Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phaolô Ngoại Thành.

HÀNH HƯƠNG VƯƠNG CUNG THÁNH ÐƯỜNG ÐỨC BÀ CẢ

Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà Cả (Basilica di Santa Maria Maggiore) được coi là đền thờ lớn thứ hai sau Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô, tọa lạc trên đồi Esquilina, cách xa Tòa Thánh Vatican 10 km về phía Ðông, giữa tụ điểm hai đại lộ lớn Via Merulana và Via Carlo Alberto. Trước đền thờ là một quảng trường khá lớn Piazza di Santa Maggiore. Người hành hương có thể đến đây bằng xe hơi hoặc xe bus. Ðiểm nổi bật là cả hai phía trước và sau đền thờ đều có hai cột tháp lịch sử. Cột tháp hoa cương phía trước cao 16 mét do kỹ sư Carlo Maderno thiết lập năm 1614 dưới thời Ðức Giáo Hoàng Phaolô V. Trên đỉnh tháp cao được trang trí tượng Ðức Mẹ bằng đồng khá lớn hướng về phía đền thờ là tác phẩm của hai điêu khắc gia người Pháp Guillaume Berthelot và người Ý Orazio Censore. Dưới chân tháp là một suối phun nước đem lại bầu khí tươi mát sống động cho quảng trường. Cột tháp hoa cương phía sau cao 20 mét, thời xưa được dựng tại lăng Vua Augustus đã được kỹ sư Domenico Fontana di chuyển và thiết lập tại đây năm 1587 dưới thời Ðức Giáo Hoàng Sixtus V.

Nguyên nhân kiến thiết Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà Cả trên ngọn đồi Esquilina là do một huyền sử có từ thế kỷ IV. Thời xa xưa ấy, Hoàng Ðế La Mã Gioannes hiếm muộn không có con nối dõi tông đường. Nhà vua và hoàng hậu lại là những người công giáo đạo đức thuần thành có lòng sùng kính Ðức Mẹ đặc biệt. Họ khấn xin Ngài ban cho một hoàng tử và để chứng minh lời khẩn cầu được chấp nhận, họ xin Ðức Mẹ một dấu ấn đặc biệt. Giữa mùa hè nóng bức, qua đêm ngày 5 tháng 8 năm 358, ban sáng thức đậy họ ngạc nhiên kinh hãi thấy tuyết trắng xóa phủ trên đỉnh đồi! Trước sự kiện lạ lùng và để tạ ơn Ðức Mẹ, theo lời yêu cầu của triều đình, Ðức Giáo Hoàng Liberus đã cho khởi công xây cất đền thờ năm 358 ngay trên đỉnh đồi nơi có tuyết phủ. Từ đó được mọi người gọi là Ðền Thờ Ðức Bà Xuống Tuyết (The Basilica of the Madonna of the Snow). Hiện nay cứ vào ngày 5 tháng 8 mỗi năm, theo lịch phụng vụ là lễ kính Ðức Mẹ, huyền sử tuyết rơi này lại được tái diễn bằng những cánh hồng trắng tinh và những hoa nhài thơm tho từ trên trần thả xuống lòng đền thờ khi vị chủ tế cất tiếâng hát kinh Vinh Danh (Gloria) tượng trưng cho những ơn lành Mẹ ban cho mọi người. Sau này Ðức Giáo Hoàng Sixtô III (430 - 440) đã trùng tu đền thờ nguy nga hơn dâng kính Ðức Mẹ, đồng thời để đáp ứng lòng sùng kính Ðức Mẹ của dân thành Rôma, sau khi Công Ðồng Êphêsô năm 431 tuyên xưng Ðức Maria là MẹThiên Chúa.

Theo dòng lịch sử, đây là Vương Cung Thánh Ðường đầu tiên dâng kính Ðức Mẹ và để chuẩn bị mừng Năm Thánh 2000, ngôi đền thờ với trên 1,600 năm lịch sử này, với những đường nét kiến trúc thời Phục Hưng và Baroque, đã được trùng tu hoàn toàn mới. Mặt tiền được kiến trúc sư Fernando Fuga trang trí theo lối kiến trúc thời Trung Cổ với những phù điêu tuyệt đẹp. Từ tiền đường khá cao, người hành hương bước vào đền thờ qua Cửa Thánh (Porta Sacra) là cửa thứ nhất phía tay trái chỉ mở vào những năm thánh. Người hành hương sẽ kinh ngạc khi dừng chân trước một kiến trúc lộng lẫy vĩ đại, hai bên tả hữu là 42 hàng cột cẩm thạch đồ sộ và đặc biệt trên cao là bức trần chạy dài suốt từ cuối đền thờ lên cung thánh được lát toàn bằng vàng lá óng ánh tuyệt vời, do ông Christopher Columbus mang về từ Tân Thế Giới, do kiến trúc sư Giuliano da Sangallo thực hiện cuối thế kỷ V. Cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu với bức trần cao dài và rộng như thế, làm sao người ta có thể khắc thật tinh vi tỉ mỉ những sự tích trong Kinh Thánh rồi bọc bằng vàng lá như thế được!?..

Hai bên tường đền thờ là 43 họa phẩm mosaic diễn tả những sự tích trong Cựu Ước và cuộc đời Ðức Kytô do các đại nghệ sĩ La Mã Giacomo Torriti, Filippo Rusuti, Guido Reni, Carlo Rainaldi thực hiện từ thế kỷ XIII. Lần bước trên nền đền thờ bằng cẩm thạch với những hoa văn đẹp đẽ mỹ thuật, người hành hương tiến dần về phía Cung Thánh. Trước mặt là họa phẩm quý giá khá lớn hình Ðức Mẹ được thực hiện theo nét vẽ Byzantine là Thánh Bổn Mạng đền thờ. Khung cảnh vĩ đại và ý nghĩa nhất là bàn thờ chính được thiết kế ngay trên hầm mộ nơi có đặt thánh tích lịch sử Máng Cỏ Chúa Hài Ðồng, do thánh nữ Helena (255 - 327), mẹ của Ðại Ðế Constantinô, đã mang từ Ðất Thánh về Rôma cùng với thánh giá gỗ mà Ðức Kytô đã chịu đóng đanh, đã tìm thấy trong một cuộc khai quật để xây thánh đường trên đồi Golgôta. Ngoài đền thờ này, người hành hương có thể chiêm ngắm những nhà nguyện nhỏ kế cận như nguyện đường Sfonza, nguyện đường Paolina, nguyện đường Sixtina trên mặt đất hoặc những hầm mộ sâu dưới nền đền thờ như hầm mộ các Ðức Giáo Hoàng Nicolas IV, Clêmentê IX, Bênêditô XIV v.v..

Với những nét rực rỡ của những khung kính màu, với những tia sáng chói chang phát xuất từ trần đền thờ toàn bằng vàng lá, với những sự cân đối của hai hàng cột lớn bằng cẩm thạch, ngôi đền thờ đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo dâng kính Ðức Mẹ quả thật là một bài thơ đầy ý nghĩa ca tụng chức vị Mẹ Thiên Chúa của Ngài: Từ thánh tích Máng Cỏ đến những bức họa mosaic muôn màu của những đại nghệ sĩ diễn tả Thiên Chúa ân thưởng đội triều thiên cho Mẹ. Tất cả đã nói lên đặc ân duy nhất của một phụ nữ trên hết mọi phụ nữ trần gian: Ðấng ban cho chúng ta Hài Nhi Giêsu, Mẹ Thiên Chúa.

HÀNH HƯƠNG VƯƠNG CUNG THÁNH ÐƯỜNG THÁNH GIOAN LATÊRANÔ

Vương Cung Thánh Ðường Thánh Gioan Latêranô (Basilica di San Giovanni in Laterano) là đền thờ đầu tiên và cổ nhất trong lịch sử Thế giới Công giáo, cũng được coi như Nhà Thờ Chánh Tòa của Ðức Giáo Hoàng với tư cách Ngài là Giám Mục Giáo Phận Kinh Thành Rôma. Ðức Giáo Hoàng Melchiades đã khởi công xây cất đền thờ này từ năm 311, trên khu đất mà Hoàng hậu Constantine thuộc hoàng tộc Plauzi Laterani dâng cúng Ngài, từ đó vùng đất này mang tên Latêranô. Qua thời gian, các Ðức Giáo Hoàng đã trùng tu nhiều lần qua nhiều giai đoạn như xây tháp chuông và một tu viện lớn bên cạnh, nhưng những kiến trúc quan trọng vẫn được duy trì. Ban đầu đền thờ được cung hiến cho Chúa Cứu Thế năm 324, rồi được cung hiến cho thánh Gioan Tẩy Giả vào thế kỷ thứ IX, cuối cùng Ðức Giáo Hoàng Lucius II dâng kính Thánh Gioan Thánh Sử cho đến nay.

Theo dòng thời gian, qua nhiều đợt chỉnh trang của thành phố, hiện nay Vương Cung Thánh Ðường Thánh Gioan Latêranô nằm trên quảng trường lớn mang tên Piazza di San Giovanni in Laterano và trên đại lộ khá lớn mang cùng tên, đối diện với đấu giác trường lịch sử Coliseum. Toàn bộ kiến trúc đền thờ do hai kiến trúc sư Domenico Fontana và Giacomo della Porta phác họa vào thế kỷ XV, dưới thời Ðức Giáo Hoàng Sixtô V. Ðến thế kỷ XVIII, mặt tiền đền thờ được kiến trúc sư Alexandro Galilei sửa lại. Năm 1993 bị quân khủng bố đăït bom, mặt tiền bị hư hại một phần nhưng để chuẩn bị mừng Năm Thánh 2000, toàn bộ đền thờ trong ngoài đã được trùng tu hoàn hảo.

Từ tiền đình hướng về đền thờ, ngay phía tay phải, người hành hương sẽ thấy một dãy dinh thự khá lớn hình vuông màu đỏ, trước đây là Tư Dinh của các Ðức Thánh Cha (Lateran Palace) do Ðức Giáo Hoàng Sixtus V (1586 - 1589) cho xây cất và kiến trúc sư Domenico Fontana họa kiểu. Thời xưa các Ðức Giáo Hoàng đã cư ngụ tại dinh thự này, từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIV, trong thời gian dài trên một ngàn năm, trước khi dời về điện Vatican như hiện nay. Từ giữa thế kỷ XIX, dinh thự lớn lao này đã trở thành Bảo Tàng Viện Museum Storico Vaticano. - Ðàng sau dinh thự và giữa trung tâm quảng trường Latêranô, người hành hương sẽ thấy một cột tháp hoa cương (Lateran Obelisk) cổ nhất và cao nhất của Kinh thành Rôma. Trước đây cột tháp này được dựng tại Hí trường Maximus và là một thành phần của Ðền thờ Ai Cập Ammon theo lệnh Hoàng đế Constantius II năm 357. Năm 1587, kiến trúc sư Damenico Fontana đã di chuyển về dựng tại đây.

Từ tiền đình, người hành hương bước qua Cửa Thánh là cửa cuối cùng phía tay mặt trong năm cửa chính để bước vào đền thờ. Toàn bộ khung cảnh trang trí bên trong đền thờ là do công trình của kiến trúc sư Francesco Borromini, dưới thời Ðức Giáo Hoàng Innôcentê X, hiện nay vẫn mang hình dáng lối kiến trúc thế kỷ XVII. Ðền thờ cổ kính này đã là địa điểm hội họp của 5 Công Ðồng lớn mang tên Latêranô, không kể các Công Ðồng cấp Giáo phận Rôma. Từ cuối đền thờ tiến dần về cung thánh, người hành hương nhẹ nhàng bước trên những hoa văn tuyệt đẹp, được ghép rất mỹ thuật trên nền đền thờ bằng đá hoa cương quý giá. Hai bên tường đền thờ là 12 tượng thánh Tông Ðồ khổng lồ, cao gần 5 mét, bằng đá cẩm thạch, được tạc với những đường nét tinh vi sống động, đặc biệt người hành hương đứng bất cứ góc cạnh nào, cũng đều thấy đôi mắt của các Tông Ðồ đang nhìn theo và mời gọi người hành hương hãy đến với các Ngài. Ðây là công trình điêu khắc để đời nổi tiếng của hai điêu khắc gia người Ý Bernini và Borromini, thế kỷ XVII.

Trên cao là bức trần bằng gỗ do kỹ sư Piero Ligorio thiết kế vào thế kỷ XVI và được họa sư Daniele da Voltera trang trí năm 1562. Bức trần gỗ này tuy khắc tinh vi tỉ mỉ với những sự tích trong Kinh Thánh, nhưng nếu so sánh thì không bằng bức trần lát vàng tại đền thờ Ðức Bà Cả.- Khu vực trang trọng nhất là Bàn Thờ Chính, gọi là Bàn Thờ của Ðức Giáo Hoàng (Papal Altar) vì dành riêng Ngài cử hành lễ nghi với tư cách Giám Mục Giáo Phận Rôma. - Tại đây người hành hương không thể nào không chú ý đến những họa phẩm (frescoes) lộng lẫy quý giá của danh tài Giotto và Jacobo Torriti.- Phía tay trái cung thánh trưng bày pho tượng lớn La Pietas (Ðức Mẹ Sầu Bi) bằng đá cẩm thạch trắng với những đường nét mỹ thuật đẹp đẽ của điêu khắc gia A. Montanti, nhưng không được nổi tiếng bằng tượng La Pietas của thiên tài Michelangelo tại đền thờ Thánh Phêrô.

Từ tiền đình đền thờ trên Quảng trường Piazza di San Giovanni in Laterano, hướng về phía tay trái, người hành hương sẽ bước vào một đền thờ cổ kính thánh Laurensô, được Ðức Giáo Hoàng Sixtus V khởi công từ thế kỷ XVI, nơi đây trưng bày một di tích thánh nổi tiếng: Ðó là Bậc Thang Thánh (Santurario di Scala Santa hoặc The Holy Step). Theo truyền thuyết: Bậc Thang Thánh là 28 bậc thang bằng đá cẩm thạch, rộng 4 mét, hiện nay đượùc bắc từ mặt đất lên lầu cao 8 mét là tiền đuờng đền thờ thánh Laurensô. Ðây là những bậc thang mà năm 326 thánh nữ Hêlêna, Mẹ Ðại đế Constantinô, đã tìm thấy trong một cuộc khai quật tại Ðất Thánh. Những bậc thang này thời xưa được đặt trong dinh Tổng Trấn Philatô, thế kỷ thứ I, Ðức Kytô đã bước lên những bậc thang này lên gặp Philatô và ông đã lên án Ngài tử hình thập giá. Hiện nay những bậc thang thánh bằng đá cẩm thạch này được bọc gỗ. Theo truyền thống, những người hành hương khắp nơi vừa quỳ lết từ dưới lên trên vừa thầm thĩ cầu nguyện thống hối. Không quen cũng khá đau đầu gối! Phía trước bậc Thang Thánh là bức tranh khá lớn Ðức Kytô chịu đóng đanh trên Núi Sọ với Ðức Mẹ và Thánh Gioan Tông đồ. Dưới bức tranh là hàng chữ La Tinh giải thích ý nghĩa bậc Thang Thánh: "Vulneratus est propter Iniquitates Nostras. - Attritus est propter Scelera Nostra." (Chúa đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta - Chúng ta hãy thống hối những lỗi lầm của mình).

HÀNH HƯƠNG VƯƠNG CUNG THÁNH ÐƯỜNG THÁNH PHAOLÔ

Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phaolô Ngoại Thành (Basilica di San Paolo Fuori Le Mura) được gọi với danh xưng như vậy, vì đền thờ tọa lạc ngoại ô Kinh Thành Rôma. Muốn đến đây người hành hương thường dùng xe diện ngầm Metro khá xa. Nhưng khi đến nơi, người hành hương cảm thấy một bầu khí rất thỏa mái trong lành, vì ngoài khuôn viên đền thờ là những công viên với những bóng cây cao tỏa bóng với nền cỏ xanh biếc!

Ðây là một đền thờù cổ kính khá lớn đứng thứ ba sau đền thờ thánh Phêrô, do Ðại Ðế Constantinô xây cất đầu tiên năm 324, sau bị phá đi để xây lại lớn hơn năm 386. Năm 1823 đền thờ bị phá rụi sau một cơn hỏa hoạn và được Ðức Giáo Hoàng Piô IX tái thiết hoàn toàn mới năm 1854. Ngài là một vị Giáo Hoàng thánh thiện đạo đức sẽ được phong Chân Phước trong Năm Thánh 2000 này. - Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phaolô Ngoại Thành là một trong 4 đền thờ trong Kinh Thành Rôma được Ðức Giáo Hoàng chỉ định khách hành hương khắp nơi đến kính viếng trong Năm Thánh 2000. Ðền thờ có chiều dài 132 mét, rộng 65 mét và chiều cao 30 mét, là một kiến trúc pha trộn Byzantine, Baroque và Phục Hưng.

Sau tiền đình bên ngoài khá rộng, người hành hương bước vào một khuôn viên hình vuông rất lớn, có những hàng cột bao bọc chung quanh. Giữa khuôn viên cỏ xanh là tượng Thánh Phaolô Tông Ðồ cao trên 6 mét, vị Thánh Bổn Mạng của Ðền Thờ. Ðây là tác phẩm của điêu khắc gia Obici.- Khi phái đoàn hành hương chúng tôi vừa bước vào tiền đình nhỏ trước Cửa Thánh, một nữ phóng viên người Ý đã chặn lại và xin phỏng vấn. Ngạc nhiên khi biết chúng tôi là người Việt Nam tỵ nạn từ Hoa Kỳ sang, chị đã hỏi chúng tôi về mục đích chuyến hành hương, Cộng Ðồng Người Việt tại Hoa Kỳ, đặc biệt về tình hình Quê Hương và Giáo Hội Công giáo Việt Nam.

Cửa Thánh đền thờ là cửa thứ nhất trong ba cửa chính, tình từ tay phải hướng về đền thờ. Cửa Thánh này mới được Ðức Thánh Cha mở trong ngày khai mạc Tuần Lễ Ðại Kết, ngày 17 tháng Giêng 2000, với Ðức Tổng Giám Mục Athanasios Chính Thống Giáo và Tổng Giám Mục Anh Giáo George Carey cùng với sự tham dự của 22 phái đoàn Kytô giáo khắp nơi. Kể từ Công Dồng Vatican II, chưa có một Lễ Hội Ðại Kết nào đông đảo và ý nghĩa như vậy. Từ Cửa Thánh bước vào đền thờ, người hành hương sẽ ngạc nhiên thấy hai bên tả hữu là 80 hàng cột đồ sộ bằng cẩm thạch. Trên hàng cột là 264 họa phẩm mosaic chân dung các Ðức Giáo Hoàng, từ Thánh Phêrô cho đến đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Và trên cùng là bức trần cao chạm trổ tinh vi khá vĩ đại được thiết kế từ thế kỷ XIX.

Trên bức tường lớn sau cung thánh là cả một họa phẩm lớn mosaic Ðức Kytô và 12 Tông đồ, được họa theo lối Venetian tuyệt đẹp, được thực hiện dưới thời Ðức Giáo Hoàng Honorius III. Nhưng khung cảnh trang trọng nhất của đền thờ vẫn là bàn thờ chính, được thiết kế trên mộ của Thánh Phaolô, vị Tông Ðồ của Dân Ngoại. Người hành hương có thể đi xuống sâu khu hầm mộ bên dưới bàn thờ chính để kính viếng mộ Thánh Phaolô Tông Ðồ. Ðây là tác phẩm của Arnolfo di Cambrio thế kỷ XIII.

Chung quanh đền thờ có những bàn thờ nhỏ kính các thánh. Nơi bàn thờ nhỏ có đặt Mình Thánh, người hành hương có thể qùy cầu nguyện và chiêm ngưỡng một tượng Thánh Giá bằng gỗ rất đặc biệt, tác phẩm điêu khắùc của Cavallini, mà đầu của Chúa thay vì quay thẳng phía trước như thường lệ thì lại quẹo hẳn sang tay phải của Ngài, vì theo một huyền thoại kể rằng: Khi thánh nữ Brigitta (1303 - 1373) rất nhiều lần quỳ cầu nguyện dưới chân thánh giá này, Chúa đã thương quay sang bên phải để an ủi nâng đỡ thánh nữ. Ðây là một thánh tích đã thu hút rất nhiều du khách và người hành hương đến kính viếng đền thờ này.

Ngay bên cạnh đền thờ phía tay phải có một tu viện Dòng Thánh Bênêđitô khá lớn, đước xây cất vào thế kỷ XIII. Tu viện nổi tiếng vì nơi đây có trưng bày tảng đá cẩm thạch che mộ Thánh Phaolô Tông Ðồ có ghi dòng chữ: "Nơi đây Thánh Phaolô đã an nghỉ". Tu viện này cũng là một địa điểm lịch sử vì ngày 25 tháng Giêng năm 1959, Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tuyên bố sẽ triệu tập Công Ðồng Vatican II tại hội trường tu viện này, sau khi Ngài được bầu làm Giáo Hoàng vừa đúng ba tháng.

Với bài tuần trước và tuần này, cùng mang đề tài "Hành Hương Rôma Năm Thánh 2000", chúng tôi mới chỉ tường thuật rất sơ sài tổng quát bốn đền thờ được Ðức Thánh Cha chỉ định cho khách hành hương trên thế giới đến kính viếng. Ngay với bốn đền thờ này, người viết chỉ có thể viết rất đại cương và rất nhiều chi tiết chưa đề cập đến. Do đó với 980 đền thờ công giáo, không kể những di tích lịch sử thành quách cổâ kính khác, làm sao có thể tường thuật hết!?. Thật đúng như lời nhận định của văn sĩ người Ý, ông Silvio Negro, đã viết: "Viếng Thăm Rôma Một Ðời Chưa Ðủ" ( Roma, non basta una vita). Có lẽ chỉ khi nào độc giả có dịp du lịch hoặc hành hương đền Kinh thành Rôma Vĩnh Cửu, chắc sẽ đồng ý với văn sĩ người Ý này.

VÀI SUY TƯ QUA CHUYẾN HÀNH HƯƠNG NĂM THÁNH

Trong chuyến hành hương Năm Thánh 2000 vừa qua, một suy tư mà chúng tôi cảm nhận rõ nét nhất: Sự thu hút đặc biệt của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II với mọi giáo dân trên khắp thế giới, nhất là với những người trẻ. Phải chăng đây là một đặc sủng biệt tài của Ngài, một ông già Ba Lan mà đến ngày 18 tháng 5 năm 2000 sắp tới đây sẽ tròn 80 tuổi. Nhìn bên ngoài Ngài là một ông già với căn bệnh run tay, nhiều khi nói không rõ tiếng, chân bước rất chậm chạp, nhưng tại sao bất cứ ai đến gần hoặc nhìn thấy bóng dáng Ngài xuất hiện là những tiếng hoan hô "Viva Papa" vang dậy cả bầu trời!! Ngày 8 tháng 3, 2000 Lễ Tro vừa qua, khi phái đoàn hành hương chúng tôi được hân hạnh triều yết Ngài tại quảng trường Thánh Phêrô và tham dự Nghi Thức Lễ Tro. Khi Ngài vừa xuất hiện trên chiếc xe mui trần là cả quảng trường hàng trăm ngàn người, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, già trẻ lớn bé, tu sĩ nam nữ cũng như quân nhân, đều cảm thấy hân hoan rạo rực trong lòng, tươi cười hớn hở, cùng lớn tiếng hoan hô Ngài. Phải chăng nơi Ngài toát ra những tình cảm thân ái, một sự thu hút đặc biệt...

Có thể nói Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một con người đặc biệt được tiền định mà Thiên Chúa cho xuất hiện trong giai đoạn lịch sử này. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên trong lịch sử có sáng kiến muốn đến hành hương dõi theo vết chân của Chúa trên miền Ðất Thánh. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên có một sự thu hút lạ lùng đối với người trẻ khắp thế giới: Trên một triệu rưỡi người trẻ khắp thế giới tình nguyện ghi tên tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XV sẽ được tổ chức từ 14 đến 20 tháng 8 năm 2000 không là một bằng chứng hùng hồn cho sự thu hút của Ngài sao?!

Cảm nghĩ thứ hai của chúng tôi trong cuộc hành hương này: Ðó là tình cách quốc tế phổ quát của Giáo Hội Công giáo. Nhìn những đoàn hành hương đến Kinh thành Vĩnh Cửu Rôma với những trang phục, ngôn ngữ, chủng tộc khác nhau. Qua màu da, ngôn ngữ, trang phục, chúng tôi được biết họ đến từ Âu Châu, từ Á Châu, từ Phi Châu, từ Mỹ Châu. Có những đoàn hàng trăm, hàng chục hoặc ít người. Ðến hành hương tại đền thờ nào, chúng tôi đều cùng nhau cầu nguyện, lần hạt, chầu Thánh Thể hoặc hát những thánh ca Việt Nam. Có lần những người hành hương các nước khác thấy chúng tôi hát thánh ca Việt Nam, họ không hiểu là thứ ngôn ngữ nào?!. Khi được biết chúng tôi là người Việt nam tỵ nạn. Họ đã cùng cầu nguyện chung với chúng tôi và cầu cho đất nước Việt Nam của chúng ta. Phải chăng Niềm Tin Công giáo đã liên kết chúng tôi nên Một như lời Thánh Phaolô: "Chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ một thân thể, một tâm hồn".

Nhưng với chúng tôi vẫn có riêng một nỗi đau khi nhìn thấy những phái đoàn hành hương, những đoàn du khách, đến từ Á Châu như Trung Quốc, Nam Hàn, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Ấn Ðộ, Thái Lan, chúng tôi không tìm được một phái đoàn nào của người Việt trong nước, ngoài những người Việt hải ngoại!!. Không biết trong số 1,500,000 người trẻ sẽ về tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới có sự hiện diện của những người trẻ công giáo trong nước không?! Sự vắng mặt của họ trong ngày Lễ Hội lớn lao và ý nghĩa trong Năm Thánh 2000 quả là một nỗi đau đáng chúng ta suy nghĩ vậy.