HÀNH HƯƠNG RÔMA NĂM THÁNH 2000 (1)Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN
ách đây trên ba tháng, chúng ta đã cùng với toàn thể nhân dân trên khắp thế giới, từ Âu sang Á, từ Ðông qua Tây, hân hoan đón chào một thời điểm thật đặc biệt trong lịch sử nhân loại: Ngày 1 tháng Giêng năm 2000 là mốc thời gian khởi điểm một Năm Mới, một Thập Niên Mới, một Thế Kỷ Mới và một Thiên Kỷ Mới. Dưới một khía cạnh suy tư nào đó, phải nhìn nhận chúng ta là những con người được diễm phúc sinh ra và trưởng thành trong thời điểm giao thoa giữa hai thế kỷ và hai thiên niên kỷ cũ và mới với những niềm hy vọng mới. Và chính chúng ta là những người được hân hạnh chứng kiến những biến đổi ngoạn mục của thế kỷ XX đã qua và còn là những nhân chứng của những đổi thay kỳ diệu trong thế kỷ XXI đã tới. Là một tôn giáo được chính Ðức Kytô thành lập và tồn tại đến nay đã hai ngàn năm, Giáo Hội Công Giáo luôn lợi dụng những mốc lịch sử đặc biệt của thời gian để cử hành Năm Thánh, mời gọi giáo dân khắp thế giới hãy hân hoan đón nhận ơn cứu độ của Ðức Kytô, thánh hóa đời sống và liên kết đời mình với tất cả mọi người qua những hành động bác ái. Trung thành với truyền thống Giáo Hội, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành Tông thư "Ngàn Năm Thứ Ba đã đến" (Tertio Millennio Adveniente) ngày 10 tháng 11, 1994 khẳng định Ðức Kytô chính là Trung Tâm của Lịch Sử Nhân Loại và ngài tha thiết mời gọi mọi người hãy thực hiện khát vọng trở về với Thiên Chúa qua việc thành tâm sám hối để canh tân đời sống bản thân và bộ mặt thế giới. Ðời người là một cuộc hành trình. Mỗi người là một khách lữ hành. Lên đường Hành Hương Năm Thánh là thể hiện quyết tâm với một tâm tình tôn giáo đậm đà qua việc viếng thăm những địa danh thánh tích, tìm đến những nơi còn in dấu lịch sử phát xuất Niềm Tin Công Giáo. Lên đường Hành Hương Năm Thánh là tìm về cội nguồn lịch sử, nơi mà Giáo Hội Công Giáo đã được thành lập, dõi theo vết chân hai Thánh Tông Ðồ Phêrô Phaolô và để tận mắt chiêm ngưỡng những dấu ấn lịch sử oai hùng của hàng trăm ngàn giáo dân đầu tiên đã tuẫn tiết vì Ðạo Chúa. Với những tâm tình trên, phái đoàn chúng tôi đã lên đường sang Kinh Thành Rôma Hành Hương Năm Thánh 2000. VÀI NÉT VỀ NĂM THÁNH 2000Không kể nguồn gốc lịch sử về những năm đại xá đã có từ thuở xa xưa thời Cựu ước, trong những năm đó người ta xóa nợ làm hòa với nhau và giải phóng nô lệ, Năm Thánh (The Holy Year hoặc The Jubilee) đầu tiên được chính thức cử hành ngày 1 tháng Giêng năm 1300, dưới thời Ðức Cố Giáo Hoàng Bônifaciô VIII (1294 - 1303). Thời đó từng đoàn giáo dân khắp nơi đổ về Rôma để cầu nguyện xin ơn tha tội nơi mộ Thánh Phêrô, đồng thời chiêm ngắm tấm khăn có in khuôn mặt Chúa mà thánh nữ Verônica đã trao cho Ngài lau mặt trên đường vác thánh giá lên Núi Sọ được trưng bày. Thông thường Năm Thánh được cử hành 25 năm một lần, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt để ghi dấu những biến cố quan trọng. Theo dòng lịch sử, Năm Thánh 2000 năm nay là lần cử hành thứ 26 trong Giáo Hội Công Giáo. Theo tinh thần Huấn Thị "Màu Nhiệm Nhập Thể " (Incarnationis Mysterium) được Ðức Thánh Cha công bố thì Năm Thánh 2000 được chuẩn bị từ ba năm trước, năm 1997, và đã chính thức khai mạc đêm Ðại Lễ Giáng Sinh năm 1999 với việc Ðức Giáo Hoàng mở Cửa Thánh (The Holy Door) Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô và sẽ bế mạc vào ngày Ðại Lễ Hiển Linh năm 2001. Có thể nói Năm Thánh là năm canh tân đời sống tinh thần qua việc kiểm điểm đời sống tâm linh, thành tâm sám hối tội lỗi với quyết tâm bước vào một đời sống tinh thần tốt đẹp hơn. Năm Thánh cũng là năm mà mỗi giáo dân được mời gọi để gặp gỡ Ðức Kytô một cách riêng tư thân mật để thực hiện hai niềm khát vọng: Khát vọng của con người muốn được giải thoát để đổi mới đời sống và khát vọng của Thiên Chúa muốn giải thoát con người và ban sức sống sung mãn để đổi mới tất cả. Vào bình minh của thiên kỷ mới, người công giáo cần phải khiêm tốn trướcThiên Chúa để tự kiểm thảo về những trách nhiệm với gia đình và xã hội để được thăng tiến hơn. Ðể thể hiện quyết tâm bước vào đời sống mới, theo huấn thị của Ðức Thánh Cha, từng quốc gia, từng giáo phận, từng giáo xứ sẽ lên đường hành hương đến bốn thánh đường do giáo quyền chỉ định để cầu nguyện, kèm theo những hy sinh đền tội và thi hành bác ái với mọi người. Khi bước qua cửa thánh của mỗi đền thờ được chỉ định trong khi hành hương, người giáo dân bày tỏ quyết tâm muốn gắn bó đời mình với Ðức Kytô và với mọi người, vì Ngài đã tuyên bố: "Ta là Cửa. Ai qua Ta mà vào sẽ được giải thoát " (Gioan 10, 9). Theo tài liệu tuần báo The Pilgrim's Journal, Cơ quan chính thức của Ủy Ban Trung Ương Năm Thánh thì ÐứcThánh Cha đã chỉ định giáo dân khắp nơi khi đến hành hương Năm Thánh 2000 sẽ đến kính viếng bốn đền thờ lớn tại Kinh thành Rôma: Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô, Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà Cả, Vương Cung Thánh Ðường Thánh Gioan Latêranô và Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phaolô Ngoại Thành. Trong Năm Thánh này, người ta ước lượng có tới trên 30 triệu khách hành hương trên thế giới đổ về Kinh Thành Rôma. Ðể phục vụ nhu cầu di chuyển lớn lao này, Chính phủ nước Ý đã phải tân trang phi trường quốc tế Leonardo Da Vinci International Airport, thiết lập nhiều xa lộ mới, khuếch trương hai bến đậu xe trên đường Tiburtina và cạnh đồi Janiculum. Mỗi ngày thành phố dự trù sẽ có 2,000 chuyến xe bus, 400,000 xe hơi và trên 30,000 giáo dân tình nguyện hướng dẫn lưu thông. Thành phố cũng gia tăng thêm 13,000 phòng ngủ và nhà trọ để đón khách hành hương và du khách. Viện âm nhạc Santa Cecilia được ủy nhiệm tổ chức những buổi hòa nhạc công cộng trong suốt năm và kêu gọi các nhạc sĩ sáng tác những nhạc phẩm mới. Viện Roma Opera cũng tổ chức hàng tuần những cuộc biểu diễn kịch nghệ và triển lãm để giới thiệu những nét đặc trưng của văn hóa Ý với du khách và khách hành hương. Rất nhiều quốc gia và giáo phận đã tổ chức những cuộc hành hương tập thể đến Rôma Kinh Thành muôn thuở. Phái đoàn hành hương nước Slovakia với trên 7,000 người, do Ðức Hồng Y Jan Korec hướng dẫn, đến Rôma ngày 15 tháng 2, 2000, là phái đoàn hành hương quốc gia đầu tiên đến đây. Gần đây nhất là phái đoàn hành hương của nước Ý với trên 35,000 người đến thủ đô cuối tháng 3 năm 2000. Mỗi phái đoàn quốc gia hành hương đều được Ðức Thánh Cha ân cần đón tiếp tại đại thính đường Phaolô VI trong khuôn viên Tòa Thánh Vatican.- Hôm nay đang khi viết bài này, chúng tôi nhận được tin qua Internet: Ủy Ban Trung Ương Năm Thánh tại Rôma thông báo cho báo chí biết: Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 15 sẽ được tổ chức từ ngày 14 đến 20 tháng 8 năm 2000 và sẽ có 1,500,000 người trẻ khắp thế giới đổ về Kinh thành Rôma tham dự Năm Thánh. Riêng nước Ý đã có 200,000 người trẻ ghi tên. Năm Thánh 2000 quả là một biến cố lịch sư thật trọng đại và nhiều ý nghĩa. HÀNH HƯƠNG RÔMA NĂM THÁNH 2000Thực hiện quan niệm lên đường Hành Hương Rôma Năm Thánh 2000 là tìm về cội nguồn lịch sử nơi mà Giáo Hội Công Giáo đã được thành lập, với Thánh Phêrô là vị Giáo Hoàng tiên khởi, chúng tôi không coi chuyến đi này đơn thuần chỉ là một chuyến du lịch nhưng chính là một cuộc Hành Hương thực sự với tâm tình tôn giáo sâu sắc. Vì thế, sau khi hoàn tất những thủ tục xuất cảnh và trước khi lên phi cơ, chúng tôi đã cùng nhau đến cầu nguyện tại một nguyện đường nhỏ trong phi trường Dulles Washington International Airport. Tưởng cũng nên biết: Tại đất nước Hoa Kỳ, nơi mà các tôn giáo giữ một vai trò quan trọng trong đời sống người dân, bất cứ phi trường và bệnh viện khá lớn nào cũng có một nguyện đường nho nhỏ xử dụng chung cho các tôn giáo, để hành khách và bệnh nhân có được những giây phút thinh lặng cầu nguyện. Thể hiện quyết tâm nâng cao đời sống tinh thần, gắn bó đời mình với Thiên Chúa và với mọi người, trong suốt thời gian một tuần sống tại nhà trọ nữ tu viện Fraternitas Domus, chúng tôi đã hòa mình chung sống với nhau rất thân mật vui vẻ, trong bữa ăn cũng như trong lúc di chuyển, đặc biệt trong các giờ thánh lễ buổi sáng và những lúc hành hương đến cầu nguyện và thăm viếng các đền thờ tại Kinh Thành Rôma. Tuần trước trong bài: "Viếng Thăm Rôma Một Ðời Chưa Ðủ " chúng tôi đã viết: Bảo Tàng Viện Vatican (Museum Vaticani) và Nguyện Ðường Sixtina (Sixtine Chapel) là chóp đỉnh Lịch Sử Mỹ Thuật và Ðiêu Khắc Hội Họa của nền Văn Minh Cổ Ðại Ai Cập, Hy Lạp, La Mã và Etruscan thì Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô (Basilica di San Pietro) được mọi giáo dân coi như Thánh Ðường Mẹ,ï chẳng những đối với 980 đền thờ tại Rôma và tất cả các thánh đường công giáo khắp thế giới, nơi đây cũng là Trung Tâm Mỹ Thuật Ðiêu Khắc Tôn Giáo qua nhiều thời đại. Theo tài liệu chính thức được phổ biến: Ðịa điểm kiến thiết Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô hiện nay thời xưa chính là hí trường của Hoàng Ðế Néron (54 - 68 sau Công Nguyên), nơi mà Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng Tiên Khởi, từ xứ Palestina miền Tiểu Á đến đây truyền giáo và ngài đã tử đạo năm 64. Ba năm sau, Thánh Tông đồ Phaolô cũng bị chém đầu năm 67. Và cũng tại địa điểm hí trường này, rất nhiều giáo dân đầu tiên tử đạo cũng được chôn vùi tại nơi đây. Sau khi ban hành sắc chỉ tha cấm đạo năm 313 và trở lại đạo công giáo, Hoàng Ðế Rôma Constantin đã khởi công xây cất đền thờ năm 324. Thời đó đền thờ là một kiến trúc khá vĩ đại, được xây cất ngay trên mộ thánh Phêrô. Năm 846, đền thờ bị quân Saracen tàn phá. Sau đó Ðức Giáo Hoàng Leon IV (847 - 855) ra lệnh tái thiết đền thờ. Và mãi đến thế kỷ XV, Ðức Giáo Hoàng Nicolas V (1447 - 1455) đã khởi công xây cất Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô hiện nay, với sự cộng tác của một số kiến trúc sư, kỹ sư, theo họa đồ của kiến trúc sư trưởng Bernado Rossellino. - Sau này cùng với thời gian, các Ðức Giáo Hoàng kế tiếp đã trùng tu, nâng cấp và trang trí nội thất với hàng trăm kiến trúc sư, họa sư, điêu khắc gia nổi tiếng nhất. Có thể nói đây là một đại tác phẩm kiến trúc vĩ đại nhất, nổi tiếng nhất của tập thể các đại nghệ sĩ Rôma Thời Phục Hưng và Baroque như Michelangelo, Raphael, Bernini, Bramante, Giacomo della Porta, Carlo Maderno, Antonio da Sangallo v.v.
Từ đại lộ bước vào Quảng Trường Thánh Phêrô (Piazza di San Pietro), người hành hương sẽ bị choáng ngợp đến kinh ngạc khi nhìn hai bên tả hữu là 284 cột cẩm thạch vĩ đại, đường kính 1 m 42,cao 16 mét tạo thành một quảng trường hình bầu dục dài 340 mét và rộng 244 mét, có thể chứa được300,000 người. Bên trên hàng cột (colonnade) là 140 tượng thánh cao 3 mét đứng chung quanh hướng về quảng trường. Ðây là công trình của kiến trúc sư Giovanni Lorenzo Bernini (1598 - 1680) thực hiện năm 1657, trong thời gian 11 năm, dưới triều Ðức Giáo Hoàng Alexandre VII. Toàn bộ hàng cột chung quanh quảng trường được Bernini diễn tả như hai vòng tay lớn đưa ra ôm lấy mọi người đến đây từ khắp bốn phương trời. Ðó là vòng tay của Mẹ Giáo Hội. Giữa trung tâm quảng trường là cột Tháp Ai Cập (Obelisque Egyptien) bằøng nguyên khối đá hoa cương màu đỏ, cao 25 mét, trên chóp tháp là Tượng Thánh Giá và dưới chân tháp ghi hàng chữ: "In Hic Signum Christus Vincit" (Qua dấu hiệu này mà Ðức Kytô đã chiến thắng). Theo nhà văn Pline, trong tác phẩm "Histoire Naturelle", cột tháp lịch sử này được hoàn thành năm 135 trước Công Nguyên, Hoàng đế Caligula đã dựng tại hí trường Rôma, sau đó Hoàng đế Néron biến hí trường mang tên ông và Thánh Phêrô đã tử đạo tại đây. Cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu bằng những phương tiện nào mà các kỹ sư La Mã thời đó đã di chuyển cột tháp vĩ đại này về quảng trường Thánh Phêrô và dựng lên tại đây năm 1586. Thời đó chưa có những phương tiện tối tân như hiện nay. Với tính lịch sử, cột Tháp Ai Cập này không chỉ là một trang trí mà còn là một chứng tích lịch sử và viên đá tảng nói lên tính vĩnh cửu của Giáo Hội. Hai bên tả hữu cột Tháp Ai Cập, năm 1613, hai kiến trúc sư Maderno và Bernini đã thiết lập hai suối phun nước khá lớn, ba tầng, ngày đêm những tia nước trong vắt được tung lên bầu trời đem lại bầu khí tưới mát cho quảng trường.- Khi tiến dần về mặt tiền đền thờ, người hành hương sẽ thấy hai bên tả hữu là hai tượng Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô, cao 5 mét, được coi như hai cột trụ xây dựng Từ đây người hành hương sẽ bước qua Cửa Thánh (Porta Sacra) để vào đền thờ. Cửa Thánh là cửa thứ tư phía bên phải luôn luôn được đóng, chỉ mở vào các năm thánh. Cửa Thánh được trang trí bằøng 16 hình chạm bằng đồng rất đẹp, diễn tả những sự tích trong Kinh Thánh được Ðức Giáo Hoàng Piô XII khánh thành năm 1950. Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mở cửa thánh này để khai mạc Năm Thánh 2000, đêm Ðại lễ Giáng Sinh năm 1999. Và ngài đã quỳ cầu nguyện tại nơi đây và đọc kinh Năm Thánh với mọi người.
Vương Cung Thánh Ðường vĩ đại này là một kiến trúc độc đáo mà các kiến trúc sư đã thành công trong việc tạo nên những đường nét hòa hợp giữa lối kiến trúc Gothic và Baroque, hơn nữa diện tích tuy lớn nhưng âm thanh rất rõ và ánh sáng tự nhiên chan hòa khắp nơi không tối tăm như các thánh đường khác. Có tài liệu viết: Vòm tròn tòa nhà Quốc Hội Hoa Kỳ tại Thủ đô Hoa Thịnh Ðốn do kiến trúc sư Pierre l'Enfant vẽ kiểu có mô phỏng hình dáng vòm tròn Ðền thờ Thánh Phêrô tại Vatican. Bước vào đền thờ, trên lối đi bên phải, người hành hương sẽ vô cùng sửng sốt khi dừng chân đứng trước một kiệt tác phẩm điêu khắc có một không hai của nền văn hóa nhân loại do thiên tài Michelangelo Buonarrotti (1475 - 1564) thực hiện khi ông mới có 23 tuổi, theo lời yêu cầu của Ðức Hồng Y Jean Bilhère de Lagraulas. Ðó là tượng La Pietas (Ðức Mẹ Sầu Bi) được hoàn thành trong hai năm 1498- 1500. Người ta kể rằng: Michelangelo đã xử dụng nguyên một khối đá cẩm thạch khổng lồ, loại đá "carraca" mà người ta chỉ thấy xuất hiện vùng Tuscany nước Ý. Ðặc điểm loại đá cẩm thạch quý giá này có màu trắng ngà, với những đường gân nổi, trông linh động như những tia máu! Tượng La Pietas là tác phẩm điêu khắc duy nhất mà ông ký tên trên nẹp áo bên trái của Ðức Mẹ, vì các đồng nghiệp sửng sốt và ghen tị không tin ông là tác giả của tác phẩm có hồn rất sống động như thật! Ngày nay khách hành hương không khỏi không xúc động khi chiêm ngắm La Pietas, qua những đường nét rất tài tình, những nét áo mềm mại, khuôn mặt Ðức Mẹ sầu thảm như có hồn sống. Từ đó người ta tự hỏi chính Ðức Tin sống động hay Nghệ Thuật sắc bén đã thúc đẩy bàn tay của nhà nghệ sĩ thiên tài!?. Chiêm ngưỡng, cảm phục, xúc động kiệt tác phẩm người ta mới nhận thức rằng Ðức Tin và Nghệ Thuật đã hòa vào cùng một tần số với cùng một nhịp rung... Một biến cố đáng tiếc đã xảy ra: Cách đây ít năm, không biết vì lý do gì, một tên khùng đã dùng búa đập bể ngón tay út bên tay trái Ðức Mẹ! Từ thập niên 1970, La Pietas được đặt trong một khung kíếng trong chống đạn và du khách chỉ có thể chiêm ngưỡng từ xa!! Trong thập niên 1980, viện bảo tàng New York đã điều đình đưa La Pietas sang triển lãm tại Hoa Kỳ. Sau khi tượng được đăït trong thùng lớn với nhân viên canh gác ngày đêm, viện bảo tàng New York phải chuyên chở trên một chuyến bay đặc biệt, sau khi đã đóng tiền bảo hiểm trên 100 triệu mỹ kim. Vì đây không chỉ là kiệt tác phẩm vô cùng quý giá của riêng Vatican hay nước Ý mà đã trở thành gia tài nghệ thuật chung của nhân loại. Dọc theo hành lang đền thờ, có những nhà nguyện nhỏ kính các thánh, có bàn thờ và ghế ngồi như một nhà thờ nhỏ. Giữa lòng đền thờ phía tay phải, mọi người chú ý đặc biệt pho tượng Thánh Phêrô bằng đồng đen do điêu khắc gia Arnolfo di Cambio thực hiện năm 1300. Trên đầu thánh nhân có hào quang, tay trái cầm chìa khóa, tay phải giơ ra như đang ban phép lành. Bức tượng thánh nhân được điêu khắc trong tư thế ngồi đã trở thành nổi tiếng, vì chân phải của ngài tuy bằng đồng đen mà đã bị mòn từ đầu gối đến bàn chân, riêng các ngón chân phải đã mòn gần hết, không còn vết tích những đầu ngón chân và quai dép, vì qua thời gian hàng triệu triệu giáo dân và du khách đã sờ vào để cầu nguyện và xin ơn lành!! Khung cảnh vĩ đại nhất và ý nghĩa nhất là khu bàn thờ chính được thiết kế ngay trên mộ thánh Phêrô, bàn thờ chính này dành riêng Ðức Thánh Cha cử hành thánh lễ với tư cách là Giám Mục Kinh Thành Rôma và người lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Phía trên bàn thờ là một phương du (Baldachin) cao 29 mét, không kể chính cầu tròn và thánh giá bằng vàng trên đỉnh. Phương du này do Bernini thiết kế năm 1633, có 4 cột bằng đồng đen nạm vàng hình xoắn có khắc tỉ mỉ tinh vi, với vòm tròn mái che: Ðây là nơi linh thiêng nhất trong đền thờ, vì bên dưới bàn thờ trong khu hầm mộ có mộ Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng tiên khởi. Hầm mộ Thánh Phêrô, bàn thờ, đỉnh vòm tròn cupola được thiết kế theo một đường thẳng từ trên xuống dưới, tượng trưng cho sự liên tục mang tính lịch sử các sinh hoạt qua dòng thời gian của Giáo Hội. Phía sau bàn thờ là ngai tòa Thánh Phêrô bằng gỗ bọc vàng có các thiên thần vây chung quanh. Tục truyền rằng Thánh Phêrô đã ngồi trên chiếc ghế này để giảng đạo cho dân thành Rôma. Ngai tòa Thánh Phêrô có 4 tượng thánh Giáo Phụ bằøng đồng mạ vàng nâng đỡ. Ðó là các Thánh Athanasiô, Gioan Kim Khẩu, Ambrôsiô và Augustinô, đã nói lên tính duy nhất thánh thiện giữa các Giáo Hội Ðông và Tây theo tinh thần Công đồng Triđentinô năm 1563. Chung quanh các bức tường, các cột có tượng các Thánh Sáng lập Dòng và 56 vị Giáo Hoàng đã được phong thánh. Trên tường cao phía sau cung thánh là khung kính màu vĩ đại, giữa có hình chim bồ câu, tượng trưng Chúa Thánh Linh, Ðấng hướng dẫn và thánh hóa Giáo Hội qua các thời đại. Từ tay trái lòng đền thờ, người hành hương có thể đi xuống khu Hầm Mộ, dưới độ sâu gần 10 mét, phía trên là nền móng đền thờ, được Ðức Giáo Hoàng Grégoire Le Grand thành lập năm 600, có đường hẹp đi quanh co nhiều tầng, nơi vách hầm là mộ các vị giáo hoàng. Hầm mộ quan trọng nhất và được kính viếng nhiều nhất là Mộ Thánh Phêrô, ngay dưới bàn thờ chính. Bên cạnh có một nhà nguyện nhỏ mà tất cả các giám mục trên thế giới, theo giáo luật 5 năm một lần trở về bá cáo với Ðức Thánh Cha, gọi là thủ tục "Ad Limina", đều đến đây dâng thánh lễ để bày tỏ Tinh Thần Hiệp Thông với Tòa Thánh Vatican và với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Dọc theo các đường nhỏ trong khu hầm là mộ các vị Giáo Hoàng và một số hoàng đế công giáo. Ngôi mộ lâu đời nhất là mộ Hoàng đế Othion II qua đời năm 983 và gần đây nhất là mộ Giáo Hoàng Gioan Phaolô I qua đời năm 1978. Mỗi mộ giáo hoàng đều có kiến trúc khác nhau tùy theo di chúc của các ngài. Những mộ được khách hành hương tìm đến cầu nguyện nhiều nhất là mộ Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII, Ðức Piô XI, Ðức Piô XII và Ðức Phaolô VI. Ðức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng được dành sẵn một ngôi mộ đơn sơ có ghi hàng chữ danh tính và phù hiệu giáo hoàng của ngài ngay trong lối ra khu hầm mộ. VÀI SUY TƯ QUA CHUYẾN HÀNH HƯƠNG NĂM THÁNH.Theo chỉ định của Ðức Giáo Hoàng khách hành hương Năm Thánh 2000 đến Rôma, phải kính viếng bốn đại thánh đường: Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô, Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà Cả, Vương Cung Thánh Ðường Thánh Gioan Latêranô và Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phaolô Ngoại Thành. - Trong bài viết này, chúng tôi mới chỉ đề cập đến Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô, bài sau xin viết tiếp đến ba thánh đường còn lại. Ðiểm khiến phái đoàn hành hương chúng tôi cảm thấy phấn khởi và may mắn nhất là trong chuyến đi này, tuy diễn ra âm thầm lặng lẽ và chỉ có 8 người, chúng tôi diễm phúc được yết kiến hai người Việt Nam, hiện là hai nhà lãnh đạo tinh thần cao cấp nhất của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trong nước và hải ngoại. Ðó là Ðức Hồâng Y Phaolô Phạm Ðình Tụng, Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam và Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình trong giáo triều Vatican. Các ngài đã cho chúng tôi những lời huấn từ thật quý báu, thiết thực, trong tinh thần huynh đệ. Chúng tôi không thể nào quên được tính tình bình dân cởi mở của Ðức Hồng Y mà chúng tôi được vinh dự yết kiến ngài tại trụ sở Giáo phận Phát Diệm ở Rôma. Qua ngài, chúng tôi thấy toát lên lòng nhiệt thành hăng say yêu mến Giáo Hội Mẹ, Ðức Thánh Cha và nhất là Giáo Hội Việt Nam.- Ngài nhờ chúng tôi chuyển đến tất cả đồng bào người Việt hải ngoại tâm tình quý mến của ngài, đặc biệt nhắn nhủ giáo dân Việt Nam hải ngoại đừng bao giờ quên mình là người Việt Nam, dù sống nơi đâu hãy trân trọng Truyền Thống Cao Quý của Dân Tộc và hăng say hoạt động Tông Ðồ. Qua chuyến Hành Hương Năm Thánh ngắn ngủi này, tâm hồn chúng tôi đã thực sự được sống những ngày thật hạnh phúc trong tinh thần Gắn Bó Ðời Mình với Thiên Chúa và với Mọi Người. Chẳng những với anh chị em trong phái đoàn và ngay cả với phái đoàn các quốc gia, các giáo phận khác mà chúng tôi đã gặp gỡ. Tuy chưa một lần quen biết, tuy khác nhau về ngôn ngữ, chủng tộc, nhưng mọi người hành hương đến đây tự cảm thấy như trở về Nhà Cha Chung của Chính Mình. Có một cái gì thân thương khó diễn tả qua ánh mắt nhìn nhau! Có một cái gì thật ý nghĩa qua những nụ cười trao cho nhau! Có một cái gì linh thiêng liên kết chúng tôi với nhau! Chúng tôi tuy đông đảo nhưng chỉ có một Tâm Hồn, một Quyết Tâm Khao Khát Tạo Cho Mình một Cuộc Sống Tốt Ðẹp hơn qua chuyến Hành Hương Năm Thánh. Nhìn thấy từng đoàn người hành hương với trang phục đủ màu sắc rực rỡ tấp nập trên đường phố, thành tâm vào các thánh đường nguyện cầu, chiêm ngưỡng các di tích lịch sử, các tượng thánh, chúng tôi cảm nhận được thế nào là "Hiệp Thông Với Giáo Hội" (Sentire Cum Ecclesia). Sẽ không có gì làm chúng tôi xa cách nhau! Sẽ không có gì cao quý, ngoài Tình Thương của Thiên Chúa. Ước gì những Tâm Tình Hiệp Thông này sẽ thấm nhuần vào đời sống biến đổi chúng tôi thành những Con Người Mới.
|