NHỮNG NGÀY TÀN CỦA CỘNG SẢN XÔ VIẾT

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

T

riết gia Joseph S. Raymond đã viết: "Bất cứ ai không tìm hiểu những gì đã xảy ra trong quá khứ, người đó sẽ biết rất ít những gì đang xảy ra trong hiện tại và dĩ nhiên không có những viễn ảnh về những gì sẽ xảy ra trong tương lai". Nghĩ cho cùng, tư tưởng trên đây của triết gia Joseph Raymond quả thật rất chính xác và thực tế, vì lịch sử là gì, nếu không phải là sự tái diễn không ngừng trong hiện tại và tương lai những gì đã xảy ra trong quá khứ.
Trước đây trong bài viết nhan đề: "Con Người Thay Ðổi Lịch Sử Thế Giới" chúng tôi đã trình bày với quý độc giả vai trò lịch sử của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong việc hỗ trợ mạnh mẽ Công Ðoàn Ðoàn Kết "Solidarity" tại nước Ba Lan quê hương của Ngài, nhờ đó đã làm xụp đổ khối cộng sản Xô Viết, xoay hẳn cục diện thế giới.
Ðọc lịch sử thế giới người ta thấy: Năm 1986, nhân dân Ba Lan do Công Ðoàn Ðoàn Kết lãnh đạo đã vùng dậy đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền, mà vị thủ lãnh của công đoàn này là ông Lech Walesa, một đệ tử thân tín của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tiếp theo là sự xụp đổ bức tường Bá Linh năm 1989, kéo theo sự đổ vỡ tan tành khối cộng sản Ðông Âu. Cuối cùng là sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại Xô Viết, quê hương của Lénine và Staline vào mùa Ðại Lễ Giáng Sinh năm 1991.
Thời đó thế giới đã bàng hoàng ngạc nhiên trước sự tàn lụi quá mau chóng của các nước cộng sản Tây Phương, vì không ai có thể tiên đoán được! Không một người nào có thể ngờ rằng cả một hệ thống các nước cộng sản sắt máu, bề ngoài có vẻ vững chắc như bàn thạch ấy, lại có thể xụp đổ mau chóng như vậy?! Nhưng bất cứ những gì đã xảy ra dưới ánh sáng mặt trời đều có những nguyên nhân xa gần thúc đẩy...

NHỮNG SỰ KIỆN DẪN ÐẾN SỰ XỤP ÐỔ CỘNG SẢN XÔ VIẾT.

Trong thời gian qua, đã có hàng trăm hàng ngàn tác phẩm viết về biến cố lịch sử vĩ đại đã thay đổi cục diện thế giới này. Nhưng theo ý kiến thô thiển của chúng tôi, gần đây có lẽ không có tác phẩm nào uy tín mang tính thuyết phục bằng cuốn: "His Holiness John Paul II and the Hidden History of Our Time" ( Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Những Sự Kiện Lịch Sử Bị Che Ðậy Trong Thời Ðại chúng Ta).
Tác phẩm giá trị dày hàng ngàn trang này là công trình nghiên cứu của hai nhà báo: ông Carl Bernstein, một nhà báo danh tiếng người Mỹ tại New York, từng đoạt giải thưởng Pulitzer về nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông. Và ông Marco Politi, một nhà báo hàng đầu của nước Ý, từng là phóng viên tại Moscow và Vatican, đã chuyên viết vể Ðức Gioan Phaolô II trong 19 năm qua trên hai nhật báo lớn của Ý, tờ La Republica và tờ Il Messagero tại Thủ đô Rôma.
Hai tác giả là hai nhân vật tiên phong trong làng báo Vatican đã hướng dẫn độc giả vào một tấn kịch lớn của thời đại chúng ta: Sự xụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, khơi ra những sự kiện đã bị che giấu của một trong những nhân vật lẫy lừng của thế kỷ XX là Ðức Gioan Phaolô II và ảnh hưởng của Ngài còn tồn tại trong thời đại chúng ta. Họ đã khám phá được những bí mật lịch sử bằng cách lần ra được những giây phút kinh hoàng trong Bộ Chính Trị Xô Viết cho thấy các ông lớn tại điện Kremlin đã vật lộn một cách tuyệt vọng thế nào, để làm sao cố gắng vượt qua quyền lực và ảnh hưởng khủng khiếp của Ngài tại Ðông Âu. Trong khi đó, tại Thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã xác nhận vai trò của Vatican và Ðức Gioan Phaolô II đã âm thầm yểm trợ Công Ðoàn Ðoàn Kết được tồn tại, trong khi các nhà lãnh đạo Moscow dường như sắp thành công trong việc nghiền nát công đoàn này!!
Dựïa trên hàng trăm cuộc phỏng vấn với những nhân vật chủ chốt tại Rôma, Hoa Thịnh Ðốn, Moscow và Warsaw, hai tác giả đã tiết lộ cho chúng ta thấy những sự kiện lịch sử, những câu chuyện thật, đàng sau sự kết thúc của chiến tranh lạnh, đồng thời đưa ra bức chân dung của một Nhà Lãnh Ðạo Tinh Thần Vĩ Ðại, Ðức Gioan Phaolô II.
Tác phẩm cũng kể lại sau đó vào năm 1981, cả Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Tổng Thống Ronald Reagan đã bị những âm mưu đen tối quốc tế ám sát hụt, đúng như lời tiên tri bí mật thứ ba mà Ðức Mẹ Fatima đã tiết lộ cho ba trẻ chăn chiên năm 1917 trước đó 64 năm (1917 - 1981). Tổng Thống Ronald Reagan bị ám sát hụt ngày 30 tháng 3, 1981 còn Ðức Gioan Phaolô II bị mưu sát ngày 13 tháng 5, 1981- Và ngày 13 tháng 5, 2000 vừa qua, nghĩa là sau 83 năm yên lặng (1917 - 2000), chính Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi đến Trung Tâm Thánh Mẫu Fatima nước Bồ Ðào Nha để phong chân phước cho hai em chăn chiên Jacinta và Phanxicô, Ngài đã cho phép Ðức Hồng Y Angelo Sodano Ngoại Trưởng công bố bí mật thứ ba này chỉ là sự kiện Ðức Thánh Cha bị mưu sát! Việc công bố bí mật thứ ba Fatima này phải chăng là một sự kiện gián tiếp xác nhận tính khả tín của bí mật Fatima và ngay cả cuộc xụp đổ của hệ thống cộng sản Xô Viết không ngoài sự quan phòng của Thượng Ðế qua vai trò của Ðức Mẹ Fatima.
Theo Carl Bernstein và Marco Politi, muốn tìm hiểu những sự kiện lịch sử dẫn đến sự đổ vỡ tan tành hệ thống cộng sản Xô Viết, người ta cần nghiên cứu lịch sử và thực tế chính trị các nước Ðông Âu vào thập niên 1980. Chúng ta đừng quên rằng các nước Ðông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi và Lỗ Ma Ni đều là những quốc gia có truyền thống Thiên Chúa Giáo lâu đời và các Giáo Hội Công Giáo cũng như Chính Thống Giáo có rất nhiều ảnh hưởng đối với quần chúng.
Riêng với Ba Lan là một quốc gia mà 95 % dân số là những người công giáo thuần thành, do đó sự kiện một người đồng hương của họ là Hồng Y Karol Wojtyla, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Krakow, được bầu làm Giáo Hoàng ngày 16 tháng 10, 1978 với danh hiệu Gioan Phaolô II, sau 456 năm trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên không phải người Ý, đã trở thành niềm tự hào, niềm phấn khởi vô biên đối với nhân dân Ba Lan đang bị kìm kẹp dưới chế độ vô thần Sô Viết cộng sản. Nhân dân Ba Lan đã suy tôn Ngài với những danh hiệu: "Người Con Vĩ Ðại của Ðất Nước" "Niềm Uy Tín Tự Hào Của Tổ Quốc" và "Sự Kết Ðoàn Của Toàn Thể Nhân Dân Ba Lan". Cũng từ đó, Ðức Gioan Phaolô II đã trở thành nguồn động viên và tấm lá chắn cho Công Ðoàn Ðoàn Kết, một phong trào tranh đấu phi cộng sản của công nhân ngay trong lòng thế giới cộng sản, đã tác động mạnh mẽ vào thời đại của Ngài khác nào Thủ Tưởng Churchill và Tổng Thống Roosevelt đã từng ảnh hưởng với nhân dân Anh Quốc và Hoa Kỳ.
Theo nhận định của Carl Bernstein và Marco Politi, người ta có thể nói rằng mầm mống dẫn đến sự xụp đổ của khối cộng sản Xô Viết đã bắt đầu manh nha từ chuyến công du đầu tiên của Ðức Gioan Phaolô II về thăm quê hương Ba Lan của Ngài. Kính mời độc giả đọc những điểm quan trọng mà hai tác giả đã mô tả về chuyến công du lịch sử này như sau:
Giáo sư Henryk Jablonski, Chủ Tịch Hội Ðồng Nhà Nước Ba Lan, sốt ruột nhìn khi chiếc phi cơ phản lực trắng toát của hãng Hàng Không Alitalia bắt đầu hạ cánh xuống phi trường quốc tế Warsaw. Bên ông là một đơn vị của quân đội Ba Lan nghiêm trang trong những bộ lễ phục. Chung quanh ông là toàn bộ ngoại giao đoàn cũng với đông đảo các nhân vật của Giáo Hội Công Giáo Ba Lan... Chiếc phi cơ đang từ từ hạ cánh xuống phi trường như một mảnh thiên thạch và không một người nào biết tác động của nó sẽ thế nào! Trên máy bay, Ðức Gioan Phaolô II đang bồn chồn xem lại các soạn thảo diễn văn. Sau khi vào không phận, viên phi công chính Giulio Macchi đã lượn một vòng cho chiếc phi cơ bay qua thành phố Krakow, nơi mà ngày 1 tháng 10, 1978 vào tuổi 58, Karol Wojtyla đã dời thành phố này với cương vị Hồng Y Giáo Chủ.
Từ trên không, Ngài nhìn xuống những khung cảnh quen thuộc: ngọn đồi Wawel sừng sững và ngôi nhà thờ lớn trên đó ; khúc uốn cong của dòng sông Vistula nơi Ngài đã từng đi dạo với thân phụ ; khu công nghiệp trải dài Nowa Huta - thành phố mới của công nhân mà những người cộng sản đã cố gắng tuyệt vọng biến nó thành nơi vô thần không có nhà thờ!! Thậm chí Ngài còn nhìn thấy con đường dẫn tới thị trấn Zakopane và nhà máy hóa chất cũ kỹ Solvay, một tòa nhà đổ nát xây bằng gạch đỏ nơi Ngài từng làm việc khó nhọc như một công nhân bình thường trong thời kỳ Quốc Xã chiếm đóng!
Với các nhà báo cùng đi trên máy bay, Ngài nhấn mạnh: "Phải có một nước Ba Lan. Tôi nghĩ rằng tất cả những khác biệt giữa những người cộng sản và những người tư bản, về một mặt nào đó chỉ là những khác biệt bề nổi! Bên dưới đó chính là chỗ Con Người. Ðây là một thực tế có tính nhân bản, một thực tế của Sứ Mệnh đầu tiên của Giáo Hội". Từ khoang lái, phi công đã có thể nhìn thấy những dòng người vô tận đang di chuyển tới trung tâm thủ đô Warsaw và những đám đông đang tập họp dọc theo những con đường mà Giáo Hoàng sẽ đi từ phi trường vào thành phố. "Với tôi đây là một chuyến trở về nhaø" Giáo Hoàng mỉm cười nói với nhà báo Ba Lan.
Ðúng 10 giờ 7 phút ngày 2 tháng 6, 1978 chiếc phi cơ của Giáo Hoàng đã hạ cánh xuống Thủ đô Ba Lan. Ngay lúc đó tất cả những hồi chuông từ tất cả các nhà thờ tại Ba Lan đều gióng lên. Từ biển Baltic đến vùng núi Tatra, từ Silesia đến biên giới Liên Bang Xô Viết. Ðất nước này rền vang những hồi chuông! Tiếng vang của những hồi chuông kia đã dội tới các đường biên giới của Ðông Ðức, vượt qua biên giới Tiệp Khắc, băng qua những rào chắn của Ucraina và Bêlôrútxia tại Liên Xô và của nước Líva Công giáo. Trong những ngày tiếp theo, ý nghĩa của những hồi chuông nhẫn nại này sẽ trở thành rõ ràng hơn đối với hàng triệu người...
Ðức Gioan Phaolô II đang gõ cửa Ba Lan. Ngài đang trở về đất nước quê hương như một người đi chinh phục. Nghi lễ trong chuyến viếng thăm của Ðức Giáo Hoàng đã xác nhận Giáo Hội Ba Lan đã có được một vị thế chưa từng có tại bất kỳ nước xã hội chủ nghĩa nào khác! Trong cả một ngàn năm, Giáo Hội này vẫn là hiện thân của dân tộc Ba Lan bất chấp những cuộc chiến tranh, chia cắt, thanh trừng, chinh phục!.Các nhà lãnh đạo đầy tức giận trong Bộ Cbính Trị Moscow không thể thuần túy cho rằng Giáo Hội Ba Lan chỉ đơn thuần là một bánh răng trong bộ máy nhà nước, giống như Giáo Hội Chính Thống Nga. Tại Nga, Giáo hội được chính phủ chấp nhận một cách miễn cưỡng và hoàn toàn khuất phục trước quyền lực Ðảng! Nhưng tại Ba Lan, Giáo Hộiù Công Giáo là cả một thế lực!!..
Trước 300,000 người dân Ba Lan đang lắng nghe, bằng một giọng nói mạnh mẽ nhất, Ðức Gioan Phaolô II đưa ra tuyên ngôn của Ngài, chính là những lời mà các nhà lãnh đạo cộng sản tại Moscow và Warsaw lo sợ nhất: "Trong thời đại này, chẳng lẽ chúng ta không có quyền nghĩ rằng Ba Lan đã trở thành một mảnh đất có một trách nhiệm đặc biệt để làm nhân chứng sao?! Ðối với Ba Lan, Giáo Hội đã đưa Ðức Kytô tới, chiếc chìa khóa để hiểu được thực tiễn vĩ đại và cơ bản là con người... Không thể loại Ðức Kytô ra khỏi lịch sử nhân loại tại bất kỳ nơi đâu trên trái đất này, tại bất kỳ kinh tuyến hoặc vĩ tuyến nào của hành tinh! Loại trừ Thiên Chúa khỏi lịch sử nhân loại là một tội ác chống lại nhân loại!!"

NHỮNG NGÀY TÀN CỦA CỘNG SẢN XÔ VIẾT

Nói tới những ngày tàn của cộng sản Sô Viết, rất nhiều người trong chúng ta cho đến nay vẫn chưa biết trong những ngày cuối cùng chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản những gì đã xảy ra tại Quảng Trường Ðỏ trên đất nước Xô Viết. Với mục đích cung cấp cho các độc giả những hình ảnh lịch sử quý báu này, chúng tôi lược tóm những sự kiện quan trọng mà hai nhà báo Carl Bernstein và Marco Politi đã trình bày trong tác phẩm giá trị trên đây của các ông:
Ðó là ngày 31 tháng 12 năm 1991, Quảng Trường Ðỏ đã đầy ắp những con người quá phấn khích, nhảy múa, hát hò và gào thét! Họ lắc những chai sâm banh Nga, nhảy cả lên những can bia, giẫm nát những chiếc ly dưới những chiếc ủng mùa đông. Giữa những vòng tay ôm hôn, các đám đông tản ra rồi tụ họp lại với những tiếng la hét inh ỏi! Trong khi đó những người lính gác danh dự dưới những bộ áo khoác nặng nề đang tiến về lăng Lénine. Họ bồng súng trường chắc chắn bên tay phải. Trong đêm sáng, sự nhịp nhàng phát ra từ những bước diễu hành của họ, kiểu diễn hành mượn của Prussians, giống như một điệu nhảy không chính thức hay điệu múa ba lê rời rạc! Trên quảng trường chỉ có những chiếc xích bằng kim loại mỏng ngăn cách họ với đám đông điên cuồng. Giữa đêm khi tháp Spasski đổ chuông, đám đông càng gào thét về niềm hạnh phúc của đất nước chợt tới.
Hàng ngàn nam nữ đã đổ về Quảng Trường Ðỏ để mừng ngày xụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Những người Nga, người Mỹ, người Ý, người Ðức và những người Kazakhs, Brions, Tartars, những người từ tất cả mọi miền của thế giới, những viên chức, những thương gia, những du côn, những gái điếm... Tất cả đều nâng ly Chúc Mừng Tương Lai Mới mà không có búa liềm!!.Trước đây quảng trường là nơi thiêng liêng đối với chế độ cộng sản, nơi cấm kỵ thậm chí ngay cả hút thuốc thì giờ đây đang cuốn đi với những hoạt động và những đôi mắt hướng về lăng Lénine.
Một người đàn ông Scotland say rượu mặc váy nhảy lên nhảy xuống như con rối. Vài cựu chiến binh đảng cộng sản cay đắng cố gắng đẩy đám đông tìm lối đến cắm cờ bên cạnh lăng Lénine. Mùi rượu nồng nặc khắp mọi nơi. Bất thình lình, trong khi những người lính vẫn còn trong bộ trang phục của Liên Bang Sô Viết cũ đổi gác trước tượng đàõi kỷ niệm thì một người đàn ông trong tay ôm tượng Ðức Mẹ Fatima lao tới! Trong hơn nửa tiếng đồng hồ, trong chiếc áo choàng xanh trắng với đôi mắt buồn, anh ta đã đứng nhìn chiếc cửa nửa đóng của lăng.
Có lẽ chúng ta không bao giờ biết được anh ta là ai, người không ai biết tên đó đã mang đến dưới bức tường của Cung điện Kremlin bức tượng Ðức Mẹ Fatima, mà lời tiên tri của Ngài vào năm 1917 đã tiên báo sự xụp đổ của cộng sản Xô Viết. Nhưng anh ta hẳn đã không thể bày tỏ những cảm giác hiện thực nhất của Ðức Gioan Phaolô II một cách hùng biện hơn trong biến động lớn tại đây mà Ðức Mẹ Fatima đã đóng vai trò chính. - Tháng 3 năm 1984, khi Công Ðoàn Ðoàn Kết sắp bị tan rã, Ðức Thánh Cha đã ra lệnh chuyển tượng Ðức Mẹ Fatima, nguyên bản cao 3 mét 50, từ Bồ Ðào Nha về Vatican. Và Ngài đã yêu cầu đăït tượng này tại nhà nguyện riêng của Ngài, nơi mà ảnh Ðức Mẹ Czetochowa đã treo trên tường. Ðêm ngày 24 - 25 tháng 3 năm 1984, trước vọng lể Truyền Tin, Ngài đã dành nhiều thời giờ cầu nguyện trước tượng Ðức Mẹ Fatima. Và ngày hôm sau Chúa Nhật 25 tháng 3, 1984, Ngài đã chính thức dâng hiến nước Nga và các nước Ðông Âu cho Ðức Mẹ. Ngài đã dùng ngôn ngữ mà nhiều người công giáo hiểu ngay được ý nghĩa cao cả của nó: "Chúng con dâng hiến cho Mẹ những con người, những quốc gia có niềm mong muốn đặc biệt được giao phó cho Mẹ. Hãy tỏa ánh sáng của Mẹ một cách đặc biệt lên những con người mà từ họ, Mẹ sẵn sàng chờ đợi sự hiến dâng của chúng con." Ngài đã thực hiện niềm mong mỏi của Ðức Mẹ khi hiện ra với ba trẻ chăn chiên tại Fatima Bồ Ðào Nha hãy dâng hiến nước Nga và qua đó thế giới có thể tránh khỏi những hiểm họa khủng khiếp.
Phải chăng đó chỉ là một sự trùng lặp khi mà một năm sau đó đã chứng kiến cái chết của Konstantin Chernenko, thành viên cuối cùng của đội bảo vệ chủ nghĩa cộng sản già nua, cùng với sự xuất hiện Mikhail Gorbachev lên nắm chức vụ Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Liên Xô. Khi đó nước Nga chuẩn bị mừng kỷ niệm lần thứ 1000 ngày gia nhập Thiên Chúa Giáo năm 1987, Ðức Gioan Phaolô II nhắc lại sự hiến dâng: "Với Ðức Mẹ đồng trinh, chúng ta tin tưởng bằng một niềm tin đặc biệt mà con người đang tổ chức đón mừng kỷ niệm 600 năm nước Lavia và 1000 năm nước Nga và Ukraina gia nhập Thiên Chúa Giáo".
Mục tiêu của Ðức Gioan Phaolô II là sự củng cố các nền tự do mà Ðông Âu đã giành được. Nhiều tháng dòng trước khi Gorbachev xụp đổ, một hiệp định gần như đã đạt được với Tổng Thống Liên Xô về việc cho phép một vị Giáo Hoàng La Mã đầu tiên tới Nga. Ngoại trưởng Vatican, Hồng Y Angelo Sodano, đã nói với các nhà báo hồi tháng 5 năm 1991 rằng có rất nhiều khả năng vào năm 1992 sẽ có một chuyến viếng thăm tương tự ngắn tại Moscow và Kazathtan, quê hương của những cộng đồng Thiên Chúa Giáo của Volya German, người bị Staline trục xuất.
Tuy nhiên tháng 8 năm 1991, Ðế Chế Ðỏ đã giẫy chết. Vào rạng sáng ngày 19 tháng 8, 1991, trong một cuộc đảo chánh, các thành viên bảo thủ trong Bộ Chính Trị đã nắm lấy quyền lực tại Moscow và giam lỏng Gorbachev trong ngôi nhà nghỉ mát của ông tại Crime và thông báo rằng Gorbachev bị ốm. Sau đó Boris Yeltsin, Tổng Thống Cộng Hòa Liên Bang Nga, đã chống lại cuộc đảo chánh và biến tòa nhà quốc hội Nga thành đại bản doanh của Sở Chỉ Huy lực lượng chống đối. Nhờ có máy phát sóng của Cha Van Straten được dự định để phát các chương trình Chính Thống giáo, được mang lậu vào nhà bếp tòa nhà quốc hội trong một chiếc xe tải chở rau, mà Boris Yeltsin đã duy trì được liên lạc với thế giới bên ngoài. Sự chống đối của ông đã nhanh chóng thúc giục các nước Phương Tây ủng hộ ông.
Thắng lợi của lực lượng chống đối của Yeltsin đã trở thành biểu tượng cho ý chí của nhân dân Nga nhằm xóa bỏ chế độ cộng sản một lần và mãi mãi. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, con người đã phát minh ra "Ðổi Mới" (Perestroika) đã dời khỏi chính trường và chiều hôm đó lá cờ đỏ đã bị hạ xuống khỏi mái vòm xanh của điện Kremlin, đúng vào Mùa Ðại Lễ Giáng Sinh 25 tháng 12 năm 1991.
Nhiều năm sau đó, phần lớn mọi người trên thế giới đều cho rằng chính Karol Wojtyla, tức Ðức Gioan Phaolô II là người đã làm xụp đổ cộng sản Xô Viết, khởi đầu từ chuyến công du đầu tiên thăm quê hương Ba Lan năm 1978. Nhưng bản thân Giáo Hoàng lại có một quan điểm khác. Ngài tránh một cách thẳng thắn việc phô trương mình như một nhân vật siêu nhiên đã hạ ván con gấu Xô Viết. Ngài cũng yêu cầu các tín hữu không nên quan niệm quá đơn giản mọi thứ. - Khi nhà văn Ý Vittorio Messori hỏi về điểm này, Ngài đã trả lời: "Có thể coi là đơn giản khi nói rằng Ðấng Tối Cao đã gây ra sự xụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa này tự nó xụp đổ vì hậu quả của những lỗi lầm và sự nó đối xử tàn tệ của nó. Chủ nghĩa cộng sản tự nó xụp đổ vì sự yếu kém cố hửu và sự tự mâu thuẫn của noù."
Ðức Gioan Phaolô đã nhìn thấy cơn khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản từ bên trong và trên hết Ngài đã suy tư như một triết gia về những mâu thuẫn tự bản chất của chủ nghĩa cộng sản. Hơn hẳn rất nhiều nhà chính trị Phương Tây, Ngài hiểu rằng hệ thống Sô Viết xụp đổ do sự đổ vỡ từ bên trong. Những sức ép từ bên ngoài chỉ bộc thêm rằng chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ những nhược điểm sâu sắc nội tại. Bên trong sự xụp đổ này, những yếu tố kinh tế và đạo đức có liên quan chặt chẽ với nhau. Ðơn giản là những nguồn lực kinh tế của Liên Xô không thể bảo đảm cho mọi người dân một sự tồn tại vững chắc, cho dù ở một mức độ nghèo khổ! Trong khi đó lại đảm bảo cho tất cả các đơn vị quân đội một sức mạnh to lớn để chiến đấu trong chiến tranh lạnh!? Ðiều này được thấy rõ ràng hơn trong trường hợp nước cộng sản Ðông Ðức, mặc dầu được tổ chức tốt hơn nhiều so với Liên Xô, nhưng vẫn phải đối mặt với tình trạng phá sản về kinh tế ngay trong đêm trước của xự sụp đổ.
Nhưng cao hơn cả là những mâu thuẫn nội tại đã cản trở sự phát triển của cả hệ thống cộng sản. Ðối với Khrushchev, nhu cầu vì chân lý đã tạo ra một nỗ lực để cải tổ một hệ thống. Ðối với Brezhnev, sự bác bỏ chân lý đã tạo ra sự trì trệ và một thái độ hoài nghi to lớn. Còn với Gorbachev, sự khao khát chân lý đã trở nên căng thẳng tới mức tự nó làm xụp đổ cả một hệ thống! Chủ đề về chân lý và vì sự ngang trái của những lời nói dối này đã luôn luôn hấp dẫn Ðức Gioan Phaolô II suy nghĩ về chủ nghĩa độc tài chuyên quyền. Cuốn sách "Ðừng Nói Dối " (Don?t Lie) của Solzhenitsyn đã tạo cho Ngài một ấn tượng hết sức sâu sắc, bởi vì Ngài đã bị thuyết phục rằng sự nói dối là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự khủng hoảng tại bất cứ một đất nước cộng sản nào. Ðức Gioan Phaolô II đã bàn thảo vấn đề này rất lâu khi Solzhenitsyn đến thăm Ngài tại Vatican năm 1994.
Từ đây chúng ta có thể đi đến một kết luận qua lời tuyên bố của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong chuyến viếng thăm đầu tiên tại nước Tiệp Khắc trong thời kỳ hậu cộng sản: "Tựï bản chất chủ nghĩa cộng sản đã bộc lộ là một sự không tưởng và không thể thực hiện được, bởi vì nó đã bác bỏ và phủ nhận một khía cạnh thiết yếu của con người: Sự Khao Khát Mãnh Liệt Tự Do và Chân Lý và sự Mất Khả Năng Cảm Nhận Hạnh Phúc của Con Người, khi mối Liên Hệ Huyền Bí với Thiên Chúa bị loại trừ."
Với những sự kiện lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta đang sống đã được hai nhà báo Carl Bernstein và Marco Politi công khai trình bày trên đây, thiết tưởng đây là những kinh nghiệm quý báu cho tất cả mọi người Việt Nam đang sống trong và ngoài nước tìm được bài học thiết thực cho chính mình để phục vụ đắc lực hơn cho Quê Hương Việt Nam chúng ta.

© Copyright by Tran Quy Thien