TÌM VỀ THÁNH TÍCH TỬ ÐẠO

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

C

ách đây đúng 35 năm, ngày 7 tháng 12 năm 1965, Công Ðồng Vatican II đã nhận định về Sứ Mệnh Truyền Giáo của Giáo Hội Công Giáo như sau: "Qua dòng lịch sử, công tác Truyền giáo cao cả này vẫn được tiếp diễn và triển khai chính Sứ Mệnh của Ðức Kytô, Ðấng đã được sai đến rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Nhờ Thánh Thần thúc đẩy, Giáo Hội phải tiến bước trên chính con đường mà Ðức Kytô đã đi là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến thân cho đến chết để rồi toàn thắng nhờ sự Phục Sinh của Ngài. Trong niềm hy vọng, chính các Tông Ðồ cũng đã bước đi trên con đường đó, đã chịu nhiều nghịch cảnh và đau khổ, để hoàn tất những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn của Ðức Kytô đã chịu vì thân thể của Ngài là Giáo Hội. Và nhiều khi máu các tín hữu Công giáo còn là hạt giống có tác dụng phát triển Giáo Hội." (Trích Sắc Lệnh về Truyền Giáo, Chương I, số 5).

Có thể nói: Nhiệm vụ hàng đầu và cốt lõi nhất của Giáo Hội Công Giáo nơi trần gian là Truyền Giáo. Bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, mặc dầu những phương pháp thực hành có khác nhau, nhưng nhiệm vụ đó vẫn chỉ là một nhiệm vụ duy nhất: Ðem Tin Mừng của Ðức Kytô đến với mọi người. Ðàng khác Giáo Hội Công Giáo không còn xứng đáng được gọi là Giáo Hội của Ðức Kytô, nếu không chu toàn nhiệm vụ cao cả này.

Cách đây hai ngàn năm, từ lời sai đi của Ðức Kytô với các Tông đồ: "Hãy đi khắp trần gian Rao Giảng Tin Mừng cho hết mọi người." (Mc, XVI,15). Qua không gian và thời gian, Giáo Hội luôn luôn tìm mọi phương thế để rao giảng Tin Mừng của Ðức Kytô và vun trồng Giáo Hội nơi các dân tộc mà đức tin công giáo chưa được bén rễ. Hoạt động truyền giáo bắt nguồn sâu xa từ chính bản tính của Giáo Hội. Sứ mệnh này đòi hỏi tất cả những ai đã chịu Phép Rửa đều được mời gọi phải sống thế nào, để chính họ trở thành những Nhân Chứng cho Ðức Kytô trước mặt muôn dân, vì Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý.

Do Sứ Mệnh cao cả và đòi hỏi cấp bách này, mà chúng ta thấy trong suốt chiều dài hai mươi thế kỷ vừa qua trong Lịch Sử Giáo Hội, đã xuất hiện rất nhiều dòng tu nam nữ, được thiết lập với mục đích duy nhất là đào tạo huấn luyện những nhà truyền giáo được tung đi Rao Giảng Tin Mừng của Ðức Kytô đến tận cùng trái đất. Cuối cùng một số đông những nhà truyền giáo này đã tình nguyện chết để minh chứng cho Niềm Tin họ rao giảng qua việc hiến thân tử đạo.

Trong tinh thần tìm về cội nguồn lịch sử, trong chuyến Hành Hương Năm Thánh 2000 vừa qua, ngày thứ bảy 4 tháng 3 năm 2000, chúng tôi đã tìm đến viếng thăm Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê, tại Thủ đô nước Pháp, trong gần bốn thế kỷ qua, đã trở thành nơi đào tạo và huấn luyện hàng ngàn linh mục được sai đi rao giảng Tin Mừng tại các quốc gia Á Châu và Viễn Ðông và Phòng Triển Lãm các Thánh Tích Tử Ðạo tại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Ðại Hàn và Tây Tạng.

VÀI NÉT VỀ HỘI THỪA SAI TRUYỀN GIÁO BA LÊ

Ðọc lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, người ta thấy có bốn dòng tu đã bước theo vết chân các Tông đồ đến Việt Nam để rao giảng Tin Mừng của Ðức Kytô: Ðó là các linh mục Dòng Phan Sinh, Dòng Ða Minh, Dòng Tên và Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê. Các linh mục thừa sai này thuộc đủ các quốc tịch như Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ý, Pháp, Hòa Lan v.v..

Trong số các nhà truyền giáo tiên khởi đến đất nước Việt Nam, hiện nay người ta vẫn còn ghi nhớ công ơn sự nghiệp cao quý của những khuôn mặt lớn như Giáo sĩ Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes) với công cuộc soạn thảo cuốn Tự Ðiển Việt Bồ La đầu tiên năm 1651, đặc biệt công trình nghiên cứu La Tinh Hóa chữ quốc ngữ (Việt Ngữ) và huấn luyện các linh mục Việt Nam đầu tiên là hai cha Giuse Trang và Luca Bền năm 1668 và Ðức Giám Mục Lambert de la Motte với sáng kiến thành lập Hội Dòng Mến Thánh Giá, một dòng nữ đầu tiên dành cho các thiếu nữ Việt Nam năm 1670.

Ðối với những giáo dân Việt Nam lớn tuổi thuộc các thế hệ trước, hình ảnh những vị linh mục thừa sai ngoại quốc thuộc nhiều quốc tịch, từ những phương trời xa, tình nguyện từ giã quê hương đến đất nước chúng ta, hội nhập vào phong tục tập quán nước Việt, học tiếng Việt, với mục đích duy nhất rao giảng Tin Mừng Ðức Kytô cho người dân Việt, tại miền thôn quê hẻo lánh cũng như các đồng bào sắc tộc nơi miền rừng núi Cao Nguyên và Thượng Du, vẫn là những hình ảnh đẹp khó phai mờ trong tâm trí chúng ta và chắc chắn không bao giờ phai mờ trong Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Với những suy nghĩ trên, trong chuyến Hành Hương Năm Thánh vừa qua, chúng tôi rất hân hoan vui mừng khi được hân hạnh tìm đến cội nguồn nơi phát xuất một trong bốn dòng tu ấy: Ðó là đại chủng viện cổ kính lớn lao của Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê, tọa lạc ngay giữa trung tâm Thủ đô Ánh Sáng Paris của nước Pháp.

Nếu trong những thế kỷ đầu sau Công Nguyên, công cuộc loan báo Tin Mừng Ðức Kytô chỉ thu hẹp với các Tông Ðồ tại Thủ đô Giêrusalem, Kinh Thành Rôma và các lãnh thổ thuộc Ðế quốc La Mã thì sang thế kỷ XVI, với việc khám phá Tân Thế Giới của nhà thám hiểm người Ý Christopher Columbus (1451 - 1506) và hai nhà hàng hải người Bồ Ðào Nha Vasco da Gama (1409 - 1524) và Ferdinand Magellan (1480 - 1521) công tác truyền giáo đã bung ra với chiều kích toàn cầu và Thánh Phanxicô Xavie (1506 - 1552) là người đầu tiên đem Tin Mừng Ðức Kytô đến các quốc gia Á Châu và Viễn Ðông.

Theo những tài liệu lịch sử: Ðể đáp ứng nhu cầu huấn luyện các nhà truyền giáo, Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê ( Les Missions Etrangères de Paris) đã được thành lập năm 1663, tại số 128 phố Rue du Bac, Thủ đô Paris.- Nơi đây đã trở thành cái nôi đào tạo hàng ngàn linh mục thuộc nhiều quốc tịch Âu Châu, đặc biệt các thanh niên nước Pháp, muốn tình nguyện dâng hiến cuộc đời để thi hành Sứ Mệnh Truyền Giáo mà Ðức Kytô đã kêu mời họ. Dòng dã trong thời gian dài 337 năm qua (2000 - 1663), tại nơi đây biết bao thế hệ những nhà truyền giáo đã được sai đi, những bước chân họ đã đặt tới các quốc gia xa xôi thuộc Á Châu và Viễn Ðông như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Ðại Hàn, Tây Tạng, Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Miến Ðiện, Mãn Châu, Tây Bá Lợi Á (Sibérie) và các quần đảo Tân Tây Lan, Madagascar, Nouvelle Calédonie, Maurice, La Réunion v.v..

Trong số hàng ngàn nhà truyền giáo xuất thân tại đây, người ta ghi nhận đã có 170 vị là Giám mục, Linh mục thừa sai đã được hân hạnh dâng hiến chính cuộc sốâng để chứng minh cho Niềm Tin mãnh liệt của họ vào Ðức Kytô qua tình nguyện tử vì đạo. Trong số này có 23 vị đã được phong Chân Phước và 20 vị đã được Giáo Hội tôn phong lên bậc Hiển Thánh. Quả thật đây là những bằng chứng hùng hồn xác thực về Sức mạnh Niềm Tin Công Giáo về những lời họ rao giảng và những gì họ cố gắng thể hiện trong cuộc sống mình.

Ðược hân hạnh bước vào Ðại Chủng Viện Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê, chúng tôi thật không ngờ giữa một thủ đô hoa lệ lại có một cơ sở tôn giáo lớn lao như vậy! Ðại Chủng Viện là một tòa nhà 6 tầng lầu, xây cất theo hình chữ L, hướng về một sân rộng lớn trải sỏi, với những khu vườn thảm cỏ xanh tươi, được ngăn với những lối đi nhỏ, cuối sân là một kiosque nho nhỏ đặt tượng Ðức Mẹ, Nữ Vương các Tông Ðồ. Ðất tại Thủ đô Paris rất hiếm quý và đắt tiền, nhưng vì được xây cất cách đây trên ba thế kỷ nên đại chủng viện mới có được một địa điểm thuận lợi và rộng lớn như thế.

Chúng tôi lên lầu viếng thăm nguyện đường, một khung cảnh thanh thoát và thinh lặng thích hợp cho việc cầu nguyện giữa một thủ đô ồn ào náo nhiệt. Cuối nguyện đường có một bàn thờ nhỏ đặt hài cốt các thánh Tử đạo, mà trước đây các Ngài là những sinh viên từng đến đây cầu nguyện và từng học tập tại nơi đây. - Vào thăm phòng khách, chúng tôi giật mình khi thấy trên tường có một bia đá cẩm thạch mang những dòng chữ; Reconnaissance à la Société des Missions Etrangères de Paris (1658 - 1958) (Tri Ân Hội Thừa Sai Truyềân Giáo Ba Lê, Kỷ niệm 300 năm) của đức cố Hồng Y Trịnh Như Khuê, Tổng Giám Mục Hà Nội, đã tặng trước khi Ngài qua đời.- Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhìn thấy bức họa chân dung Ðông Cung Thái Tử Nguyễn Cảnh, lúc 9 tuổi, theo Ðức Cha Bá Ða Lộc sang Pháp du học. Có lẽ đây là bức ảnh hiếm quý mang tính lịch sử trong giai đoạn đầu triều đình Nhà Nguyễn tiếp xúc với Phương Tây.

Ðến thăm phòng ăn lớn đại chủng viện, chúng tôi ngạc nhiên thấy trên bàn có những lọ tương ớt và nước mắm, hỏi thăm thì được biết: Hiện nay vì hoàn cảnh khó khăn, các linh mục thừa sai ngoại quốc không được trực tiếp đến phục vụ tại Việt Nam, nên Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê đã cấp học bổng cho gần 50 linh mục Việt Nam sang du học tại Pháp và hiện đang sống tại đại chủng viện này. Ðây là một sáng kiến rất đáng ca ngợi và rất ý nghĩa trong kế hoạch " trồng người ".- Ðại chủng viện còn có một thư viện rất lớn với đầy đủ những tài liệu quý giá liên quan đến đất nước và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Hiện nay, ngoài hoàn cảnh Việt Nam, cánh đồng truyền giáo của Hội Thừa Sai Ba Lê vẫn rộng bao la, các linh mục vẫn tiếp tục hăng say phục vụ tại các nước Á Châu, Viễn Ðông và Phi Châu, vì thế Hội vẫn thường xuyên phát hành ba nguyệt san như cơ quan thông tin ngôn luận trong và ngoài Hội. Ðó là Nguyệt san Eglises d 'Asie (EDA), Nguyệt san Bulletin des Eglises de Madagascar et de l' Océan Indien (BEMOI) và Nguyệt san "Missions Etrangères de Paris" (MEP), cơ quan chính thức của Hội Thừa Sai. Ba Lê.

TÌM VỀ THÁNH TÍCH TỬ ÐẠO

Nhưng trong chuyến viếng thăm Ðại Chủng Viện Hội Thừa Sai Ba Lê, điều làm chúng tôi xúc động nhất là được hành hương đến kính viếng Phòng Triển Lãm các Thánh Tích Tử Ðạo. Ðây không phải là một bảo tàng viện đồ sộ lớn lao trưng bày những tác phẩm mỹ thuật. Ðây cũng không phải là một phòng trưng bày những tàn tích gian ác với mục đích để kết án tội ác của bất cứ ai và bất cứ chính quyền nào!

Nơi đây chỉ là một phòng nhỏ dài 12 mét và rộng 8 mét, trưng bày những thánh tích tượng trưng của các Nhân Chứng Tử Ðạo thuộc các quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Ðại Hàn, Tây Tạng, là những người đã vui lòng chấp nhận tất cả những khổ đau trên thân xác trong tâm hồn, để chứng minh Tình Yêu của họ với Ðức Kytô và Niềm Tin sắt đá không gì có thể lay chuyển của họ với Ðạo Chúa.

Ðây cũng là những bằng chứng sống động nói cho chúng ta biết: Ðức Tin Công Giáo của trên 130,000 vị tử đạo, mà thành phần bao gồm các thừa sai, các linh mục bản quốc, các chủng sinh, các giáo dân nam nữ đã giúp họ vượt qua những thương đau thử thách như thế nào?! Qua những thánh tích này, vượt ra ngoài không gian bé nhỏ của Phòng Tử Ðạo, người ta thấy Tin Mừng Ðức Kytô có sức mạnh vượt qua biên cương các quốc gia và được loan truyền tới tận cùng trái đất. Vượt lên trên một số nhỏ những thánh tích ấy, chúng ta phải đau lòng khi thấy trong giai đoạn hiện tại, Máu Tử Ðạo vẫn chảy, Giáo Hội vẫn đang bị bách hại, đầu vẫn rơi, máu vẫn chảy, nhiều người con của Chúa vẫn bị cầm tù, bách hại, phân biệt đối xử!!

Theo tài liệu thì Phòng Tử Ðạo được thành lập từ năm 1843, với thánh tích đầu tiên là chiếc gông (cangue) dài trên 2 mét 50, mà Thánh Tử Ðạo Giám Mục người Pháp, Mgr Pierre Borie (1808 - 1838), tên Việt là Ðức Cha Cao, đã phải mang nơi cổ trước khi bị hành hình vì đạo ngày 24 tháng 11 năm 1838. Chiếc gông này đã được các giáo dân cất giấu, sau đó được bí mật di chuyển sang Macao cùng với hài cốt của Ngài. Sau đó chiếc gông tử đạo được đưa về Pháp ngày 3 tháng 8 năm 1843 và hiện nay được trưng bày trên tường phía tay phải Phòng Tử Ðạo.

Tiếp theo Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê gửi văn thư đến các nơi đang có các cuộc bách hại như Trung Quốc, Việt Nam, Ðại Hàn v.v. yêu cầu gửi tất cả những kỷ vật liên quan đến cuộc tử đạo về nhà mẹ. Tại Phòng Tử Ðạo hiện nay, người hành hương chú ý nhất đến những tấm tranh vẽ các hình ảnh tử đạo như xử án, chém đầu, phanh thây từng mảng của một họa sĩ Việt Nam ẩn danh được trưng bày chung quanh các bức tường.

Những hình vẽ này tuy không có đường nét mỹ thuật, không cân đối, nhưng chỉ diễn tả những sự thật dưới con mắt quan sát của tác giả. Những bức tranh này được vẽ trên giấy, dán trên những tấm lụa mỏng, được kín đáo gửi sang Macao, sau đó được chuyển về Pháp đóng khung. Trên 100 năm sau, để tránh hư hại, năm 1960 các họa sĩ chuyên viên người Pháp đã phục chế để bảo trì cho đến nay. Ðây là những tài liệu lịch sử vô cùng quý giá, chẳng những diễn tả các hình thức tử đạo mà còn mô tả nếp sống, y phục của người dân Việt trước đây gần hai thế kỷ.

Tại Phòng Tử Ðạo, các thánh tích của các vị Tử Ðạo Việt Nam chiếm đa số, vì sau Phi Luật Tân, Việt Nam là quốc gia có đông giáo dân nhất, bị bách hại trong thời gian dài nhất và giáo dân Việt là những người rất mến mộ phúc tử đạo nên luôn luôn coi các thánh tích tử đạo như những bảo vật quý giá rất đáng trân trọng.

Ngoài những khung kính nhỏ có trưng bày những hài cốt khô của các vị Tử đạo, người hành hương còn được hân hạnh nhìn tận mắt những kỷ vật quý giá: một đoạn dây thừng đã trói cổ các vị tử đạo ra pháp trường; một mảnh gỗ nhỏ quan tài Thánh Linh mục Phaolô Lê Văn Lộc ( 1830 - 1859), quê làng An Nhơn, Gia Ðịnh, bị chém đầu ngày 13 tháng 2 năm 1859; một miếng khăn thấm máu Linh mục Luca Vũ Bá Loan (1756 - 1840), quê Giáo xứ Bút Ðông, Giáo phận Hà Nội, bị xử trảm ngày 5 tháng 6 năm 1840; những bức thư gửi cho thân phụ được viết trong tù và nhất là chiếc xiềng khá dài bằng sắt từ cổ xuống hai chân của Linh mục tử đạo người Pháp Théophane Vénard ( 1829 - 1861), có tên Việt là Cha Ven, bị chém đầu ngày 2 tháng 2 năm 1861, lúc mới có 32 tuổi.

Ngoài ra còn có cả sắc lệnh cấm đạo và án tử hình bằng Hán tự, khắc trên gỗ mà triều đình đã ban hành để xử tử Linh mục Phêrô Lê Tùy ( 1773 - 1833), quê huyện Thường Tín, tỉnh Hà Ðông, bị chém đầu ngày 11 tháng 10 năm 1833. Trong những khung kính chung quanh tường Phòng Tử Ðạo, còn có rất nhiều thánh tích khác như bộ áo dòng đen đã cũ, cuốn sách kinh, đôi hài mà thánh linh mục Phaolô Lê Bảo Tịnh ( 1793 - 1857) thường mang khi dâng lễ v.v.

Tất cả những thánh tích ấy chứng minh hùng hồn Niềm Tin sắt đá của cha ông chúng ta, những bậc tiền nhân đáng kính đáng yêu, nơi Ðức Kytô. Tất cả các Ngài đã không sống và chết cho mình hoặc vì những lý do trần thế. Tất cả các Ngài đã sống và chết trên miền đất Quê Hương mà chúng ta đã và đang sống và đã đổ máu đào của chính mình thấm nhuần miền đất quê hương. Tất cả các Ngài đã trở thành Nhân Chứng của Niềm Tin vào Ðức Kytô, thà chết không thà chối bỏ. Muốn thế các Ngài phải lựa chọn giữa: Trung Thành và phản bội, giữa sự sống và sự chết, giữa Ðức Kytô và thế tục! Cao quý và ý nghĩa thay những sự lựa chọn quyết định hẳn cả một cuộc đời ấy!!

Qua cuộc viếng thăm Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê, chúng tôi cảm thấy có bổn phận phải ghi nơi đây tất cả tấm lòng tri ân sâu xa của chúng tôi với bao công lao truyền giáo gần bốn thế kỷ qua của Quý Hội đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Nhờ đó mà tổ tiên và gia đình chúng tôi mới được hân hạnh biết Tin Mừng của Ðức Kytô và Giáo Hội Việt Nam mới được phát triển như hiện nay. Tuy Ðức Cố Hồng Y Trịnh Như Khuê đã ngỏ lời tri ân Quý Hội, nhân ngày kỷ niệm 300 năm thành lập (1658 - 1968), nhưng với thế hệ chúng tôi, nhiệm vụ trí ân ấy vẫn cần phải tiếp tục và cần phải được vuông tròn.

Một công tác vô cùng cao quý khác mà Quý Hội Thừa Sai Ba Lê đã thực hiện cho Giáo Hội Việt Nam: Ðó là Phòng Tử Ðạo, nơi trưng bày các thánh tích tử đạo. Qua đó chúng tôi mới được hân hạnh nhìn tận mắt, được sờ mó vào nhửng bảo vật quý giá mà cha ông chúng tôi đã trung trinh tuẫn tiết vì Ðạo Chúa để lại cho hậu thế noi gương bắt chước! Không có nơi nào trong nước và ngoại quốc mà hiện nay còn lưu giữ và trưng bày những thánh tích tử đạo Việt Nam bằng Phòng Tử Ðạo này. Ðây chính là công tác rất hữu ích, thiết thực và ý nghĩa mà chúng tôi vô cùng tri ân.