Lá Thư Kính Gởi Anh Bùi Giáng
Kính thưa anh,
Mới đó mà chúng ta đã biết nhau trọn một phần tư thế kỷ. Anh vẫn là một hài nhi cố cựu mà tôi đã ngắm nhìn suốt nửa đời mình. Khi còn nhỏ, tôi học đạo trong chùa đã nghe nói về anh, nhất là về những quyển sách Tư Tưởng Hiện Ðại của anh. Bạn bè tôi đã đọc ngấu nghiến những quyển sách ấy. Họ xem tư tưởng trong sách anh là nhân sinh quan mẫu mực đối với họ. Lần đầu tiên gặp anh tại đại học Vạn Hạnh vào năm 1969, tôi nghĩ anh không giống như hình ảnh mà bao nhiêu người tiếu đàm, tụng tán, chê bai cũng như mến phục. Tôi thấy rằng người ta đã khoái chí vẽ ra một ông Bùi Giáng bằng cảm tính chủ quan của họ.
Sau khi đọc Hoàng Từ Hamlet của Shakespeare do anh dịch, tôi rất ngạc nhiên về văn dịch của anh. Anh đã dịch sát với ngôn ngữ gốc bằng một văn phong thuần túy Việt Nam vô cùng phong phú. Lối hành văn của anh gợi lên trong tôi nhiều ý tưởng thú vị, hào hứng và đầy cảm thức hỷ, nộ, ái, ố theo từng nhân vật trong sách, nhưng cũng đậm đà sắc hương mùi vị quê nhà. Ðọc văn dịch của anh, tôi thấy rằng anh đã chuyển dịch cả điệu bộ, khung cảnh và não trạng của những nhân vật Tây Phương vào cảm quan của người Việt Á Ðông một cách rất thuận buồm xuôi gió. Ðiều nầy cũng đã làm cho tôi nghi ngờ rằng anh dịch bay bướm thoát nghĩa. Nhưng khi có dịp đọc nguyên bản ngôn ngữ gốc, tôi giật mình kinh ngạc, vì anh đã dịch sát nghĩa đến nỗi không còn cách nào dịch lại chính xác hơn được; kể cả những lúc anh cao hứng dịch bằng văn vần Lục Bát thi ca. Tất cả những điều nầy đã cho tôi tìm thấy nơi anh phong cách và tâm hồn của một nghệ sĩ tôn trọng sự thật hết mình. Tiếp theo, tôi đọc các bản dịch của anh từ những tác phẩm ngoại quốc như Nhà Sư Vướng Lụy, Ngộ Nhận, Hòa Âm Ðiền Giả, Hoàng Tử Bé. Từ đó, tôi men theo giọng văn của anh để tìm kiếm và nhìn ngắm cách điệu múa máy của anh giữa cuộc sống phù du viễn mộng đáng yêu vô lượng vô biên nầy. Biết bao lần tôi đã nhìn ngắm, lắng nghe những lời ngâm nga, hò hét của anh ngoài đường phố Bình Ðông, Phú Lâm, Chợ Lớn, Sài Gòn, Thị Nghè, Phú Nhuận, Gò Vấp, Gia Ðịnh, Nhà Bè...
Trọn những ngày học đạo, tôi miệt mài tìm kiếm một con người thật sự có lòng hạ mình và yêu mến cuộc sống như giáo lý nhà Phật đã dạy, tiếc thay trên thực tế tôi chỉ gặp những người tầm thường nhưng lại có lắm tài năng giả trá. Họ che giấu bản chất tầm thường của họ trong chiếc áo "thoát tục" và nghiền ngẫm viết ra những quyển sách "đạo lý cao siêu" mà chính bản thân họ chưa bao giờ thực hành. Càng dùng văn chương dối trá chuyên nghiệp, họ càng đạt đến thân thế vẻ vang, tiếng tăm lừng lẫy, được thế gian kính trọng và gặt hái bạc tiền sung mãn. Khi đạt được danh vọng và quyền lợi rồi, họ ngồi trên bàn trà có người hầu kẻ hạ để ''khiêm tốn'' phán rằng ấy là hư danh, là phù phiếm, là sắc sắc không không... Làm như thế, họ càng được thế gian tiếp tục tôn sùng như những bậc ''giải thoát, rất đáng kính nể, đáng tôn thờ!'' Nhưng anh không sống như thế. Một mình anh không vướng bận bạc tiền, danh vọng. Anh đã vui sống hết mình như một đứa trẻ vui chơi. Khi nhảy vào cuộc chơi, anh tham gia nhiệt tình, anh bày tỏ thái độ say sưa, thỏa thích, hào hứng với tất cả con người thật của anh. Lối chơi ''cạn chén ly bôi'' của anh là cách anh sống để làm thơ và để nhắn nhủ lại với cuộc đời biết bao điều hiển nhiên còn bị xem là bí mật. Anh đã nói với tôi rằng ''Thơ Trung Niên thi sĩ bày tỏ bản tính du hý của hài nhi và hồng ân Thượng Ðế. ''
Hồi đó, sau khi nhận diện bộ mặt đạo đức giả trong ngôi nhà ''đạo lý ngàn năm'', tôi thấy mình như một kẻ đi lạc trong khu rừng truyền thống quá dư thừa lý thuyết đạo đức mà không thiếu trá hành. Những trang sách, quyển kinh và nghi môn tín ngưỡng luôn luôn được xem là thiêng liêng và cao quý đến nỗi kẻ giả hình leo lên ''ngôi thánh thiện'' làm vị ''Bồ Tát Thường Bất Khinh''. Ai đã từng sống trong chốn ''đạo lý thiêng liêng'' do con người sáng chế mới thấy được sự hóa trang đạo đức giả là vô cùng tinh xảo, đầy hệ thống lâu đời nhằm che dấu bản chất con người thật của thiểu số ''cao nhân'' trước lòng tin ngây thơ của đại chúng. Cái khủng khiếp nhất của giới được mặc chiếc áo tu hành là sự mặc nhiên thấy mình đạo đức hơn những người khác đang lam lũ giữa thế gian. Người tu hành có những sai lầm được che dấu rất kỹ, đến nỗi họ tự cho mình là những người gương mẫu thiêng liêng. Họ quen thể hiện đạo đức giả một cách chân thành đến nỗi không còn nhận ra một sự giả dối nào trong bản thân họ nữa. Nhờ đó, những bài luận thuyết của họ luôn luôn được mặc lên nhiều nét vẽ vời đầy mầu sắc huyền nhiệm, nhân ái, cao siêu, bao la, vĩ đại. Khi nhận ra những trái khuấy oan khiên kia tôi mới hiểu được thơ của anh:
''Lạc về đầu rú khe truông
Vốc năm ngón nhỏ gieo buồn rã riêng
Tuổi xanh nhiếp dẫn sai miền
Ðổ xiêu cánh bướm phi tuyền vọng âm
Tuần trăng quảy gánh thương ngầm
Cõi bờ phôi dựng gió nhầm tin hoa
Em về rắc cỏ tháng ba
Xuống trang hồng hạnh thu già in rêu
Sườn non bố vó ngựa trèo
Sông mờ bóng phượng ai chèo thuyền nan''
Có hai hình ảnh tương phản đã in đậm vào tâm trí tôi: một là những cá nhân, những tập thể người tu sĩ già và trẻ ngồi trên cao để tiếp nhận sự đê đầu đảnh lễ của hàng ngàn tín đồ; hai là một ông Bùi Giáng đơn độc ăn mặc tả tơi thất thểu, mang đôi dép trên vai, lạy những em bé, những người cùng khốn ngoài đường. Những trẻ em bơ vơ và người cùng khốn được phép ăn xin trước những cổng đền tôn giáo là đã may mắn lắm rồi, họ làm gì được đứng trong hàng ngũ những bậc có đủ ''công đức'' mà đảnh lễ các vị ''thánh tăng'' đang ngồi ăn trong thuyền duyệt thất! Anh đã đứng dưới ánh mặt trời để bái chào những người cùng đinh thấp bé cơ hàn nhất. Thật ra, anh đã cho tôi biết rằng anh chỉ muốn nói một điều đơn giản: vì những thằng trốn lính ăn trên ngồi tróc, vì những người có thế lực để ôm gái trong hậu liêu, những kẻ đội lốt tôn giáo xây lâu đài chính trị xôi thịt đã dám ngồi trên cao cho hàng triệu người cúi đầu lễ lạy, Hài Nhi Bùi Giáng chỉ muốn tỏ thái độ phản đối ôn hòa bằng cách bái chào những con người thấp cổ bé họng vốn bị bỏ quên. Giữa một thế giới mà sự dối trá nhất đã được xếp thành ''kinh điển cao siêu'' để dắt dẫn lòng tin đại chúng, thì chân lý chỉ được nói ra bởi miệng ''người điên khùng rồ dại'' mới tránh khỏi sự chà đạp thảm thương. Ðó cũng là lý do khiến Bùi Hài Nhi đội lên đầu mấy lớp quần lót phụ nữ để lang thang thất thểu nhảy múa ngoài đường với nét mặt vui vẻ hân hoan lạ lùng nghịch ngợm. Anh xem sự hồn nhiên của trẻ con và nỗi cô đơn thiếu thốn của người nghèo vẫn đáng kính trọng. Và bằng cách đó, anh đã phủi được rác rến của hạng tu sĩ giả hình xa hoa kiêu ngạo rất đáng thương!
Anh đã lạy em bé nằm trong nôi, em bé vọc đất, lượm rác trong các con hẻm. Càng cảm thấy thấm thía cái ý nghĩa chân thành khiêm tốn qua những trò chơi do anh thực hiện ngoài đường, tôi càng thấy sự mỉa mai giả trá của những buổi lễ mà người ta cúi đầu lạy lục những ông thầy tu đủ các lứa tuổi đang nuôi tham vọng trên các địa vị và quyền lực tôn giáo trang nghiêm được pha chế qua nhiều đời để trở thành truyền thống. Nào ai biết ông thầy tu thèm khát những gì trong thân xác và cả trong tâm hồn? Họ che dấu những gì trên thân thể đầy sinh lực ấy và trong tâm niệm thèm thuồng được sự tôn kính sâu xa kia? Ðó là sự mỉa mai khó tả nhất. Xác thịt thèm thuồng, lòng người tham vọng chưa phải là điều đáng trách. Nhưng nỗi đau của người ngay ấy là nhìn thấy những sự nguỵ trang nhắm che những điều giả trá vốn đã được tôn thờ một cách có hệ thống. Ai dám nói lên sự thật nầy thì khó yên thân. Nhưng anh đã nói một cách thực tế bằng trò chơi hài nhi vi diệu. Trong mắt anh, hình ảnh người ăn xin gầy guộc ngồi ngoài đường là đáng kính, đáng yêu hơn ông thầy tu mập ú ngồi nhai trầu trên trường kỷ khảm xà cừ. Anh đã vượt lên trên, vượt ra ngoài cái khuôn khổ đạo lý ước lệ giả hình ngàn năm ấy để sống với mọi người từ đầu con hẻm, ở cuối gầm cầu, bên hè phố... như thơ anh đã viết:
''Anh cứ ngỡ đầu đường thương xó chợ
Nhưng không ngờ xó chợ cũng yêu nhau''...
Những câu thơ giản dị và sống động nầy đã giúp tôi thêm cam đảm cởi bỏ chiếc áo ''thiêng liêng'', dấn thân vào đời để làm quen với những cảnh buồn vui thực tế ngay trong ''xó chợ đầu đường'', những nơi mà anh thường hứng chí múa ca để kết nghĩa với nàng Thơ. Tiếp xúc với ''đầu đường xó chợ'', tôi gặp được những tấm lòng ngay thẳng thật thà trong xã hội nghèo thiếu đủ mọi mặt. Từ đó những câu hỏi đã xuất hiện trong tôi: tại sao lòng chơn chất ngay thẳng thật thà của người bình dân lại khó tìm thấy trong giới trí thức ăn trên ngồi tróc? Và tại sao giới trí thức ăn trên ngồi tróc lại nuôi nhiều tham vọng và biết giả hình quá sức tinh vi đến mức giới bình dân không thể nào tưởng tượng nổi? Phải chăng sự giả trá sâu sắc của giới trí thức và lớp người mạo danh tôn giáo đã tạo ra một trong những cơ hội cho con quỷ gian hùng cộng sản cai trị và tàn phá những tinh tuý của dân tộc Việt Nam một cách dễ dàng? Chính những nơi tôn nghiêm đạo lý ấy mới có những màn kịch giả danh giả nghĩa với tấm nhãn hiệu ''công lý, hòa bình, tự do, bình đẳng, đạo lý ngàn năm!'' Riêng anh, một cách đơn độc, anh sống lang thang ''bụi đời''. Sống như thế mới nói lên sự mỉa mai cực độ nầy một cách hùng hồn hơn ai hết. Anh bảo rằng Chúa Giê xu từng trách: ''Sẽ cho thêm kẻ nào đã có để họ dư dật, nhưng kẻ nào không có, thì sẽ cất luôn điều họ đã có nữa. Vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu gì hết. Còn những đứa vô dụng thì quăng ra ngoài chỗ tối tăm có khóc lóc và nghiến răng''(Ma-thi-ơ 13:12-13 và 25:29-30). Nhờ biết Chúa, tôi đã hiểu được sứ điệp của anh qua những câu Kinh Thánh mà ngày xưa tôi không bao giờ nghe ai nói.
Tôi đã nhìn ngắm anh, nghe giọng nói trầm hùng với đôi mắt trừng trợn của anh. Anh hiên ngang, tự tại chẳng sợ ai; rồi im lặng hạ mình thưởng thức giấc ngủ tuyệt vời dưới cầu thang, mái hiên, bụi chuối, bờ tường, garage chùa Già Lam, Long Huê, đại học Vạn Hạnh... Anh đem những câu chuyện sáo ngữ trong kinh Duy Ma Cật, những câu chuyện phi lý nực cười trong kinh Bách Dụ để hỏi tôi về ý nghĩa thực hư của nó. Anh đã hỏi tôi: ''ngày trước đi tu, mày không thấy những thứ vô lý như thế trong giới thầy tu sao? Mấy ông thầy tu càng có địa vị cao càng nuôi nhiều tham vọng hơn người ngoài đời phải không mày?'' Anh khâm phục cái đáng khâm phục, và anh thắc mắc những điều đáng thắc mắc một cách chân thành. Anh nói lên sự mỉa mai của thế thái nhân tình với lòng xót xa nhưng để nở nụ cười bao dung trước những trò hề muôn thuở. Vâng, chỉ có ''người điên'' như anh mới lột được mặt nạ ''đạo lý'' núp trong ''tôn giáo, văn hóa, truyền thống... ngàn năm''. Trò chơi của anh thật là tuyệt vời! Anh đã chơi một cách xông xáo say sưa cho đến khi đầu râu tóc bạc. Vài năm nữa anh ra đi, ai sẽ nối tiếp trò chơi du hý của Hài Nhi đây?
Chúng ta cùng suy gẫm tại sao văn hóa ngàn năm mang tính lừa dối tràn lan như vậy mà thế gian vẫn tôn thờ, chúc tụng, cúi đầu đi theo? Anh khuyên tôi ''đừng phiền trách người ta, vì tin theo nhiều điều bậy bạ thì dễ, nhưng trở lại con đường chân chính thì thiên nan vạn nan. '' Anh cho rằng ngày xưa chỉ cần một con rắn là đã lừa phỉnh được bà Ê-va rồi. Chỉ một cặp vợ chồng thôi mà đã đem sự lừa phỉnh nầy tràn lan vào trong nhân loại. Bây giờ là thời đại văn minh, con người càng thêm ranh mảnh, rắn phải hiện thành những ''ông thánh bà thánh'' để lừa phỉnh cả tụi mình. Anh cũng đã chỉ cho tôi thấy rất nhiều lỗi in ấn đã làm hỏng nhiều bài thơ của anh và cho rằng phải có một con ma xó nào đó ám vào tâm trí các nhà xuất bản để sự sai lạc nầy giết chết ngôn ngữ của nàng Thơ. Anh cho tôi biết những ai đã tìm mọi cách chèn ép để những tập thơ của anh không được xuất hiện trước 1975. Anh cũng cho tôi biết sau 1975 những thằng khốn nạn đã theo dõi anh như thế nào. Anh cũng nghi ngờ rằng hầu hết các thứ kinh điển ngàn năm đều bị tam sao thất bổn, bị đánh tráo, bị mạo danh. Nhưng anh tin rằng Kinh Thánh là quyển sách mầu nhiệm duy nhất được bảo tồn nguyên bản và không bị tam sao thất bổn như hàng vạn quyển sách cổ khác.
Khi cho rằng Chúa Jesus Christ là con người chịu chơi nhất từ trên trời hiện xuống, anh cũng ca ngợi Ðức Thích Ca là một người được sinh ra dưới đất như chúng ta, nhưng ngài đã dám từ bỏ tất cả những phù phiếm loài người muốn tìm để ngài tìm chân lý. Sống gần gũi trong chùa, nhưng anh không hề vào chùa lễ lạy. Tuy nhiên câu thơ đề tặng Ðức Cồ Ðàm thì chưa có một cao tăng nào có thể nói ra một cách phóng khoáng như anh:
''Người nằm xuống cho ngàn năm thấp thoáng
Ta bước chân qua ngôn ngữ rụng hai lần''
Khi đã hiểu cách sống và cách đùa của anh, tôi mới thấy rằng dù anh sống như một kẻ cô đơn dưới các góc xó cầu thang ấy, nhưng tâm hồn anh hân hoan hạnh phúc và độ lượng hơn các bậc cao tăng trong thiền đường nghiêm mật. Lang thang trong chốn ấy, đôi khi anh biết nhiều bí mật cười ra nước mắt. Thế mà anh vẫn im lặng vô tư. Anh chưa bao giờ tham gia cúi đầu lễ lạy hình tượng vô tri vô giác, nhưng anh kính trọng mến yêu gần gũi bất cứ một người cơ hàn nào mà anh gặp ngoài đường. Mỗi khi được nghe một vài tâm sự vui buồn của anh, tôi luôn cảm nhận được sự tin cậy và lòng chân thật đáng quý trong anh. Từ đó tôi hiểu rằng những trò chơi anh tổ chức liên tục ở ngoài đường đều là những tiếng nói vi vu mà anh cần gởi trao cho cuộc sống. Trong cuộc chơi hồn hậu diệu kỳ nầy, đã bao lần anh bị đòn vọt chí tử vì lỡ trớn chọc giận ''cõi tu hành'' và các ''luồng giao thông tư tưởng độc tôn''. Tôi cũng tận mắt chứng kiến những ai đã từng nặng tay trên thân thể gầy guộc mốc meo của anh ngay ngoài đường phố. Anh đã an nhiên tự tại như thế nào khi bị một võ sư thiếu lâm tự giáng những đòn độc thủ khiến anh suýt tắt thở. Dù đã bị sứt đầu u trán, tơi tả máu me vì những trận đòn quái ác ấy, anh vẫn nói: ''Nó đá tao mấy đá quá thượng thừa, tao chưa kịp thưởng thức thì đã ngất xỉu!'' Mười năm sau anh mới tâm sự với tôi:
- Tao không sợ bị đánh, nhưng tao cảm thấy hãi hùng khiếp đảm vì những cú đánh ấy đã truyền đạt vào trong tao cái thâm ý độc hiểm của một võ sư mặc chiếc áo tu. Ðiều nầy chỉ một mình tao hiểu được mà thôi. Từ đó tao tự hỏi tại sao người thầy tu mà ác đến thế? Chỉ có Ðức Chúa Trời mới biết rõ ác tâm của con người mày ạ! Tao nghe nói mấy thằng đấu quyền Anh đánh nhau đến bể mặt téc mồm, sau đó ôm nhau thân thiết. Nhưng cái thằng võ sư HG kia đã đánh tao một trận trong đêm tối. Khi tao ngã gục, tưởng mình đến giờ tắt thở; nó bỏ tao nằm một đống và lặng lẽ ra đi!
- Nhưng anh có biết tại sao ông ta đánh anh như thế không? Tôi hỏi.
- Lúc đầu tao tưởng nó giận ai rồi đánh nhầm tao. Nhưng sau đó tao nhớ câu nói của nó: cho mày chừa cái tật phạm thượng. Nếu thế thì có lẽ nó đã nghe câu nói điên thường ngày của tao khi tao nằm sau hành lang phía dưới căn phòng của nó. Tao nói thằng PCT cho PG ăn cứt gà.
- Anh nghĩ gì về PCT mà anh nói như thế?
- Tao có nghĩ gì đâu. Cái thằng PCT là thằng tinh hoa phát tiết ra ngoài. Nó là một thằng thông minh đệ nhất thiên hạ. Nhưng nó biết cái khỉ mốc gì về ông Thích Ca, về ông Ðạt Mạ. Nó mới nhảy xổm vô nhà người ta như gà cồ nhảy vào cối xay, thế mà nó giảng oang oang hơn cả mấy ông thánh trong kinh Duy Ma Cật. Tao là thằng điên bất tử. Tao nói lung tung cho vui. Ai ngờ nó để ý và căm thù tao đến thế. Nhưng chuyện đó là tao nói thằng PCT, chớ nói gì thằng HG đâu? Tao tưởng nó đánh cho tao ngủm củ tỏi luôn đó mày!
- Anh quên rồi, anh đã bảo là PCT cho PG ăn cứt gà. Khi nghe câu nầy, ông HG cho rằng anh phạm thượng là đúng. Ông HG thuộc lớp đàn anh của tôi, ít học văn nhưng chuyên về võ, lại là người H chính cống. Vì ảnh hưởng triều đại phong kiến, là triều đại đầy dẫy sự mua quan bán tước, đầy dẫy sự thù ghét, nịnh bợ và tranh quyền, người ta quen sống với thủ đoạn từ trong hàng ngũ tộc họ vua quan quyền quý cao ngạo. HG sinh ra trong miền đất thần kinh, chắc chắn bị ảnh hưởng những đức tính và truyền thông đó, nên khi nghe sanh nói một câu xanh dờn như thế, HG đánh anh chí tử là có lý lắm. Anh nên nhớ rằng PNÂ đã đi tiểu từ trên lầu thuyền thất, rồi còn phát ngôn bậy bạ nữa; sau đó cũng bị HG nện cho một trận đòn chí tử chứ không phải một mình anh bị thôi đâu!
- Nhưng thằng PNÂ với nó là sàng sàng một lứa, cùng thầy cùng đạo với nhau. Còn tao chỉ là thằng điên khốn khổ. Nếu nó cho rằng PG của nó là cao siêu thì cần chi phải xử tử một thằng điên?
- Anh nên nhớ lại điều anh hay cà rỡn. Ấy là thông thường những người mặc chiếc áo cao siêu không phải là những người cao siêu. Những bậc cao siêu thật mới biết hạ mình. Còn chiếc áo tự nó không bao giờ là cao siêu rồi. Chính vì chiếc áo ấy không cao siêu mà anh đã lãnh một trận đòn suýt chết!
- Ừ. Chua choa, mày nói chàm goàm mà nghe có lý!
Dù anh bị hất hủi, bị nhạo cười, bị đòn vọt, nhưng tôi chưa bao giờ thấy anh thù giận riêng ai, nhưng vẫn gào kêu vì nỗi sầu cố quận. Người ta vui vẻ khi thấy anh cười đùa, người ta cũng hững hờ khi thấy anh khóc giữa đường đi. Nhưng tôi không bao giờ quên một đôi lần anh đã rưng rưng nước mắt khi nhắc đến những đứa em dâu, em ruột, và có một người tên Mỹ... gì đó mà lâu ngày anh chưa có dịp viếng thăm. Tôi vô cùng cảm kích khi được anh chia xẻ những tình cảm riêng tư của anh cho tôi. Giọt nước mắt của anh đã làm cho tôi cảm động và lấy làm vinh dự được anh chia xẻ tâm tình. Tôi lặng yên ngắm nhìn anh gầy guộc, lòng tôi kính mến quý yêu. Anh đã mỉm cười với hai hàng lệ khi mây trời lơ lửng bay qua để những dòng thơ sau đây càng thêm sống động:
''Mưa có tạnh nhưng chân trời còn mãi
Những giọt mưa là lệ ở trong mây
Dòng sông đi cho nước nói ngàn ngày
Rằng biển rộng không bến bờ em ạ. ''
''Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt
Thấy một mình người đi lại lang thang
Còn ghì giữ ân tình trong cỏ nhặt
Múa vi vu vì hẹn với truông ngàn''
''Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con''
Tôi say sưa nhìn ngắm anh mấy năm liền rồi mới đọc thơ anh. Dù chưa đọc nhiều, nhưng tôi đã nghe thơ anh chia xẻ, ủi an, tâm sự trong hồn mình thật rạt rào với những ngôn từ và âm điệu thi ca tuyệt mỹ. Lắm khi tôi không hiểu anh muốn nói gì, nhưng tôi vẫn bị ngôn ngữ thi ca của anh lôi cuốn. Càng đọc càng thấy thơ anh chứa nhiều ẩn ngữ. Bên dưới những sắc mầu vần điệu mênh mông và trò chơi ngôn ngữ trầm phù, anh chôn dấu rất nhiều ẩn ngữ đầy thiền vị vô ngôn. Càng đọc thơ anh, tôi càng thấy sự bí mật trong cách anh sống, cách anh vui, cũng như cách anh giận hờn, phẫn nộ, buồn thương và hạnh phúc trong muôn vàn điệu bộ rất riêng giữa cuộc sống vô cùng chung đụng hẹp hòi. Ðó là lý do khiến hôm nay tôi viết tập thơ nầy để gởi đến anh với đề tựa không đắn đo chọn lựa:
Ẩn Ngữ Thiền Công
Những lúc cô đơn mà lại gặp anh, tôi cảm thấy mình được sưởi ấm. Những trò chơi của anh đã nói cho tôi biết bao nhiêu điều kỳ thú tuyệt vời. Tôi trộm nghĩ đó là cách anh tìm kiếm và mời gọi chân thánh giữa cõi chân phàm trong thời đại mà sự tỉnh táo tư duy của con người đã đánh mất đức hồn nhiên một cách vô thức. Trong thời đại mà tâm tư của nhân loại bị chèn ép đến tận cùng bởi bộ óc đầy logic của họ; anh vẫn sẵn sàng mở lòng mình để giải bày tâm tình tha thiết ra giữa cuộc phù du, nhằm thức dậy mọi giềng mối ưu tư, để nhảy nhót đi tìm sự đồng cảm của trùng lai hội ngộ sơ nguyên đã trót hẹn hò trong máu thịt giữa một thế giới đáng yêu dẫy đầy lệch lạc nội tâm:
''Xin lời nói ở trên môi
Là lời ở lại bên đời quên nhau
Bụi hồng, ấy của chiêm bao
Thì còn sóng đục chìm vào nước xanh''.
''Mắt em còn lệch dấu bèo
Ðầu em huyền tuyết sương vèo vèo bay
Lá cồn thu lạc bao giờ
Hồn trong sóng phượng chia bờ trường giang!''
Nhiều khi anh nằm im một chỗ không nói một lời. Cách im lặng của anh cũng là cách anh nói rất nhiều với cuộc sống:
''Không nói nữa Sài Gòn hay Chợ Lớn
Tuần Sóc trăng thổi rộng gió Biên Hòa
Không nói nữa hồn Cửu Long máu rớm
Nước một mùa là sóng đục phôi pha. ''
Cuộc chơi của anh được bắt đầu mà không định ý, vì ở đó luôn có sẵn ngõ ban sơ kéo dài đến phù du bất tận. Con người nghệ sĩ đi qua, dù muốn hay không muốn, cũng chẳng thể nào tự xóa sạch dư vang sau gót chân mình khi nó đã vọng vào cõi vô thường sinh diệt mà sắc mầu thù tạc vốn đã bị hiểu lầm là vô thủy vô chung. Mỗi lần tâm sự, anh hay nói với tôi câu Kinh Thánh nầy:
''Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo của sự chết''. (Châm ngôn 14:12). Anh còn nhắc tôi: ''Mày nên bắt chước con người của cõi Chúng Hương để liệu mồm liệu miệng. Nếu không, mày sẽ bị chúng nó đánh rụng răng và chết trước khi có cơ hội được nói ra. Không ai có thể chịu chơi như Chúa Giê-xu đâu!''.
Quả thật bộ óc con người không đo lường hết được từ sơ nguyên đến viễn tận nên nhiều thế hệ đã tưởng lầm sử lịch là vô thủy vô chung. Khi chân lý đến, phù du biến tan. Và thơ anh đã nói:
''Ngõ ban sơ hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
Xin chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn. ''
Từ cái ngõ ban sơ ấy, nàng Thơ của anh lúc nào cũng hân hoan bước tới và vẫy chào những trang lề sử lịch để hướng về tương lai rạng rỡ và bỏ lại bóng tối đằng sau:
''Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau''
Anh đã gieo vào thế giới một niềm thông cảm qua sự đổi thay từ niệm đến hành trong kiếp người thọ tạo có ý thức, có trí tuệ nhưng chưa hề đạt đến giác ngộ toàn tri như họ từng lầm tưởng. Niềm thông cảm ấy luôn luôn còn trong con trẻ, vắng vẻ nơi người khôn, bồn chồn nơi người khổ, lỗ chỗ nơi người giầu, âu sầu nơi hiu quạnh, giá lạnh trong cô liêu, tiêu điều nơi phố chợ, man rợ giữa thị trường, đong lường trong tâm niệm nên bí hiểm nơi tâm tư để mất cái nhân từ trong tâm khảm... Và anh đi vạn dặm giữa cuộc phiêu bồng, thắp ngọn lửa hồng cho nhân loại thoải mái một nụ cười...
Chiều 30 tết năm 1974, giữa lúc quê hương yêu dấu đầy chết chóc bởi chiến tranh, tôi đã mời anh về nhà tôi ăn tết. Lúc đó tôi sợ nhất là những ngày tết. Ngày tết ai nấy đều tất bật. Còn anh, ngày tết là ngày lang thang bờ bụi nhiều hơn ngày thường. Chúng ta gặp nhau giữa hành lang đại học Vạn Hạnh. Mọi người đã vội vã về nhà chuẩn bị một ngày tết vừa hân hoan vừa lo lắng; để lại hành lang trường đại học Vạn Hạnh một cõi vắng vẻ rộng thênh... Một mình anh thản nhiên cầm trong tay sợi dây thừng, dắt theo một bầy chó 9 con xếp hàng vừa đi vừa múa hát, rồi bỗng dưng anh yên lặng. Sự yên lặng chuyển động thành hàng dọc, dẫn đầu là anh, tiếp theo là bầy chó ngoan ngoản thui thủi bước đi. Thoạt nhìn rất buồn cười, nhưng khi ngắm kỹ, lòng tôi dâng lên một niềm yêu mến, kính trọng lẫn bùi ngùi. Tối hôm đó tôi ghi lại vài câu thơ tả cảnh để tặng anh trong khi bầy chó thân yêu của anh đã đại tiểu tiện tùm lum ngõ trước, phía sau, trong và ngoài ngôi nhà lá Tân Thuận:
Chó con, chó mẹ, chó choai
Xếp hàng yên lặng theo Hài Nhi đi
Chó vàng vá, chó đen sì
Một đàn con chó bước đi bùi ngùi.
Ðường trần kẻ tới người lui
Chó con chó mẹ ngọt bùi theo nhau...
Trông mắt con chó vương sầu
Ngoắt đuôi có phải mưu cầu chi không?
Thủy chung giữa chốn tang bồng
Bên người chẳng chút mơ mòng kiêu sa
Anh bảo rằng ''chó của tao là những con chó quí, Chúa hay Phật đi ngang qua đây mà thấy chúng đều đem lòng thương mến cảm phục vì cái tính trung thành bất di bất dịch của nó''. Có lẽ đây là ''lộ ngữ''chàm goàm nhất của anh! Dù biết rõ cuộc đời đầy phản trắc, nhưng anh vẫn hạnh phúc khi còn một bầy chó chung thủy hiền lành
Trước 1975, khi mời anh về nhà tôi ăn tết bên bờ sông Tân Thuận, Nhà Bè. Thật, tôi vô cùng cảm kích vì anh đã nhận lời mời của tôi không một chút đắn đo. Ai biết lòng tôi sung sướng tới mức nào, vì cảm thấy mình mời anh Bùi Giáng như mời chính bản thân mình tham gia vài ngày tết để khỏi bị cảm giác cô đơn, lẽ loi, ngơ ngác giữa quê hương đầy dẫy hận thù ngang trái. Kể từ đó, anh đã vui sống trong nhà tôi như một người thầy, người bạn, người anh. Anh cũng là một thành viên của gia đình kỳ cục: Ông nội là một nhà thơ điên, người cha là một người vừa tu vừa tục, mẹ là một người khách ngoại quốc chứ không phải là người vợ của chủ nhà! Anh luôn luôn là ông nội tuyệt vời. Anh đã cảm thông nỗi khổ tâm của nương tử Âu Châu nên bằng lòng để tôi bỏ 8 con chó vào một cái bao, chở thẳng lên đường Hàm Nghi tặng các nhà buôn loài vật Anh năn nỉ chừa lại cho mình một con chó mầu đen tuyền có ''đôi mắt vô lượng''. Anh nói: ''Tao phải khóc nếu xa con chó này. Con chó này cũng sẽ khóc khi nó xa tao''. Khi ấy anh mới 50 tuổi, răng rụng móm mém trong câu nói, tiếng cười; còn tôi 30 tuổi mới vào đời khờ khạo, vụng về, ngu ngơ sau 15 năm mặc chiếc áo ca-sa. Kể từ đó tôi biết làm thơ. Anh là nguồn thi hứng không hề cạn trong tôi. Anh khuyến khích tôi làm thơ như một người thầy động viên đứa học trò. Sự gần gũi của chúng ta đã làm cho đời tôi vui lên một cách đặc biệt. Qua anh, tôi được biết thêm nhiều bạn bè trong giới văn nghệ. Tôi được hiểu nỗi buồn im lặng của anh trên ''thị trường thi ca nghệ thuật văn chương'' của Việt Nam hồi đó cũng như bây giờ. Hai đứa con của tôi đã được gần gũi nô đùa với anh trong những ngày thơ ấu tuyệt vời của chúng. Sau ngày đất nước bị nhuộm đỏ bởi lũ cuồng nô vô thần, chúng ta bị chia ly suốt mấy năm liền. Tôi bị tù, anh cũng từng bị bắt mấy phen. Mùa thu 1979 anh đã tìm thăm tôi trên Chợ Lớn. Anh lạy đứa con trai tôi khi nó chưa đầy 4 tháng tuổi. Một thời gian sau tôi mới hiểu ý nghĩa của hành động lạy trẻ con do anh sáng chế để vừa chọc ghẹo vừa an ủi tôi; và nhờ đó, tôi đã hiểu tại sao anh tự nhận mình là một Hài Nhi. Anh đọc thấu nỗi bi quan tuyệt vọng của tôi nên đã đem lời Chúa Jesus Christ nói cho tôi nghe: ''Nước thiên đàng thuộc về những người giống như con trẻ''. Lần đầu tiên anh khuyên tôi ''Hãy đọc Kinh Thánh''. Nhờ đọc Kinh Thánh mà cuộc đời tôi hôm nay hoàn toàn thay đổi. Tôi được gặp Ðấng Thiêng Liêng vô lượng không phải chỉ bằng chữ trên trang kinh, Ngài đã hiện ra trong tâm hồn tôi và dạy cho tôi nếm được sự sống trong Lời Ngài một cách thực tế để cuộc đời mình được đổi thay toàn bộ một cách phước hạnh ngọt ngào. Khi Chúa bước vào lòng tôi, Ngài soi thấu mọi ngõ ngách tâm can, Ngài giúp tôi thấy rõ cõi lòng mình đã từ lâu vốn là hang hố của hùm beo trú ngụ. Thế mà đã bao nhiêu năm tôi nhìn đời qua cái lăng kính chủ quan. Tự mình không bao giờ xua hết những u tối, nhầm lẫn của mình, nhưng khi tin Chúa, những suy nghĩ của tôi được Ðức Thánh Linh soi sáng thật lạ lùng. Ngài giúp tôi nhìn lại chính mình và tha nhân qua một tấm lòng mới, có chất liệu tình yêu của Ngài hiện hữu. Nhờ vậy, tâm tính hẹp hòi, tuyệt vọng, cố chấp, khốn khổ của tôi được thay đổi mà không cần phải ép xác, tu trì, ăn chay nằm đất gì cả. Lời Chúa, và tình yêu của Ngài đã cho tôi nhận ra ý nghĩa của mối liên hệ giữa bản thân mình và tha nhân trong thế giới đã được Ngài tạo dựng một cách tuyệt hảo. Tôi được Chúa Giê-Xu giải cứu. Ngài đã giải phóng tôi ra khỏi cái tâm u tối của chính tôi. Cái tâm u tối bản ngã đã bao nhiêu lần làm cho tôi khốn khổ đến nỗi muốn chết phứt đi cho rồi. Khi đã tiếp nhận đức tin của Chúa, ý định tự sát trong tôi không còn khuấy rối tâm tư tôi nữa. Bây giờ anh cứ nói anh mang ơn tôi vì tôi mời anh về nhà Tân Thuận, nhưng tôi vẫn muốn nói với anh rằng tôi mang ơn anh nhiều lắm. Vì nếu không phải anh Bùi Giáng khuyên đọc Kinh Thánh, chẳng bao giờ tôi để tâm đọc một quyển sách mà trước đây mình chẳng ưa thích. Nhờ đọc Kinh Thánh, tôi đã biết Chúa và có đức tin trong Ngài để được giải thoát khỏi cái xiềng xích thất vọng, ý muốn tự sát ám ảnh mình bấy lâu.
Những lúc tôi nghèo khó, thiếu thốn nhất trong xã hội cộng sản, anh vẫn đến thăm và bảo rằng: ''Mày đã nhận được hồng ân vô lượng, mày thật là có phước. '' Tôi im lặng nhưng rất sung sướng vì được anh nhìn thấy niềm vui của đức tin trong lòng tôi. Thời gian vất vả nhất của tôi trong chế độ cộng sản là thời gian đạp xích lô. Nhưng tôi được chở anh và nhà thơ Trần Ðới đi vòng quanh Chợ Lớn dưới những cơn mưa Sài Gòn. Ba anh em chúng ta tắm mưa ngoài đường như ba đứa trẻ. Sung sướng nhất là sau đó chính anh cũng đã cầu nguyện tiếp nhận Chúa Giê-Xu qua sự hướng dẫn của mục sư Trần Thái Sơn tại nhà anh chị Bùi Giao Thời 22 Nguyễn Thiện Thuật ngày 4. 11. 1982. Mục sư Ðinh Thiên Tứ đã chăm sóc đức tin của chúng ta từ những ngày đơn sơ quý báu ấy. Thế rồi anh nhảy lên một chiếc xe đạp cùng mục sư Ðinh Thiên Tứ và anh Bùi Giao Thời đi thăm viếng những tân tín hữu Tin Lành. Khi đã trở về trong Chúa, quả thật chúng ta đã có những ngày trời trên đất như Lời Chúa trong sách Phục Truyền 11:21.
Anh vẫn tiếp tục chơi đùa như điên như dại; có lúc quá ham chơi, anh đã rơi vào những cuộc đảo điên nguy hiểm giữa mộng và thật; anh đã cận kề với cái chết trong tay người cộng sản, nhưng rồi anh đã tìm ra lối thoát bằng những sáng kiến bất ngờ và những trò chơi cười bể bụng để tiếp tục được sống giữa đường tơ kẻ tóc éo le. (1)
Tôi có nhiều bè bạn, nhưng chỉ có ba người bạn thân cùng chia ngọt xẻ bùi với nhiều tình cảm sâu xa. Ðó là anh Bùi Giáng, bà tiến sĩ Erika Kosse, và Ðoàn Minh Du. Anh biết tôi rất buồn khi bị nhà xuất bản An Tiêm lường gạt lấy đi một số tiền khá lớn khi tôi xuất bản tập thơ đầu tiên Lá Khoai Leo Giàn mà anh đã viết đề tựa. Nhưng anh vẫn khuyên tôi: ''hãy quên đi, đừng buồn giận thằng T. T nữa. '' Anh cũng cho tôi biết những sự lường gạt như thế là bình thường trong giới văn nghệ sĩ mà chính anh cũng đã từng làm nạn nhân của họ. Nhờ vậy, tôi càng hiểu được lòng bao dung độ lượng của anh đối với bạn bè trong giới văn chương nghệ thuật.
Bà tiến sĩ Erika Kosse hiện đang ở Berlin, là một nương tử Châu Âu đã từng tranh luận với anh về Jean Paul Sartre. Bà ta đã cho tôi xem lại những tấm hình của chúng ta 25 năm về trước. Hôm nay ngồi gom lại những bài thơ mà tôi đã cảm xúc về anh, kể cả những bài thơ tôi viết khi đang chuyện trò cùng anh, hoặc do đọc thơ anh mà tôi cảm tác. Tôi rất sung sướng khi đọc lại những bài thơ của mình với nguồn thi hứng từ nơi anh Bùi Giáng. Tôi phải nói rằng nếu không gặp anh, chẳng bao giờ tôi biết làm thơ.
Anh Bùi Giáng ạ, khi anh đem một bầy chó về sống với tôi tại Tân Thuận, tôi đã có cơ hội nhìn ngắm anh để thêm lòng kính trọng quý yêu. Anh đúng là một con người độ lượng và chịu chơi rất mực. Tôi biết chắc các vị tăng lữ cao sang kia không mấy ai có được giấc ngủ an lành như anh, dù họ luôn luôn có người hầu quạt, kẻ bóp chân. Ngày nay họ coi anh như một kẻ điên khùng dơ bẩn, nhưng sau khi anh về cõi trời, họ sẽ thờ lạy anh, sẽ đua nhau viết bài để ca ngợi anh. Họ ca ngợi anh để đạt đến mục đích tôn vinh chính họ. Họ sẽ tụng những bài kinh ''cao siêu'' để cầu đảo cho anh nhưng họ không muốn nghe ai nói rằng anh đã tin Chúa và đã về trong nước Chúa.
Ðã đến lúc tôi cảm thấy chúng ta sắp từ giã cõi đất để về quê Cha trên trời, khi mà những bài thơ của anh vẫn còn quyến luyến trong hồn tôi như tình yêu níu kéo vĩnh hằng và phù du về chuyện trò một cách bí mật. Hôm nay anh còn sống, người ta bạc đãi anh. Người ta ăn cắp thơ của anh (2). Người ta rình mò từng cử chỉ của anh, nghe lén từng lời nói của anh, quan sát bầu không khí bạn bè chung quanh anh... Nhưng khi anh nhắm mắt ra đi, hàng ngàn người sẽ ca ngợi anh. Họ sẽ tổ chức đình đám và viết bài tôn vinh anh với đủ hình thức nghỉ lễ tôn giáo, văn hóa chính trị, truyền thống... đầy giả danh giả nghĩa... Người ta sẽ chất lên thi hài tro bụi của anh những thứ, mà khi còn sống, anh đã từng xa lánh! Và dĩ nhiên bên cạnh sự điêu ngoa xảo trá đó vẫn có nhiều người bình dị sẽ tiễn đưa anh với lòng đơn sơ mộc mạc chân thành. Không ai có thể che đậy được sự thật về Ðức Tin của Chúa Giê-xu trong tâm hồn Hài Nhi Bùi Giáng.
Hôm nay tôi lại đọc thơ anh, bỗng dưng nước mắt chảy theo lời anh thổ lộ. Anh bày tỏ lòng chung thủy cùng sự yếu đuối thường tình của mình trước những ba chìm bảy nổi chín lênh đênh:
''Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh''
Vâng, anh vẫn là một con người từng yếu đuối và cũng biết tủi thân. Những giọt nước mắt từ con tim khi mình đang thức cũng là những rung động rạt rào khi mình thư thái nghỉ yên, phải không anh? Tôi muốn nói đến giấc ngủ bây giờ và giấc ngủ chia tay mà chính anh đã từng quyến luyến bịn rịn:
''......
Ðêm ứa lệ phồng mi hai mắt
Bàn tay ta nhỏ như lá cây khô
Mình hoa rã đầm đìa sương meo móc
Ðỡ làm sao những cánh tiếp nhau rơi.
...
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhè nhẹ
Vào trong mơ em mộng rất êm đềm''
Anh cũng đã nói:
''Con có nghĩ: ắt là phải thế
Một đôi lần con ghì xiết hai tay
Nàng thơ đẹp của trần gian ứa lệ
Bảo con rằng: hãy nhớ lấy phút giây''
Anh vẫn thiết tha yêu từng giây phút sống, nhưng không biết mai này ai dám sống như anh, một cuộc sống mà tự nó đã lột trần tất cả cao siêu, thấp hèn kín dấu ra giữa thanh thiên bạch nhật; để ngắm xem và cô đọng lại với một tình yêu tha thiết, chân thành đến nỗi lăn lóc khóc cười thù tạc với cả cỏ cây, rơm rác, châu chấu, chuồn chuồn... Sau mỗi ngày trở về nằm gọn trong giấc chiêm bao và hét hò đùa giỡn cả trong giấc ngủ.
Cái cao siêu khó nhìn thấy đã đành, nhưng cái chân thật lại khó nhìn thấy hơn nữa. Trong anh, tôi được nhìn thấy cao siêu và chân thật ngay khi anh sống với những cái tầm thường như điên như dại. Anh đã sống một cách hồn hậu lạ lùng! Ai mà biết được trong những trò chơi say mê hồn hậu ấy, anh vẫn miệt mài nhắn gởi đến những thế hệ mai sau:
''Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên mầu ấy không
Ta đi còn gởi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?
Những thương nhớ lạnh bao giờ
Ðường thu chia ngả chân trời rộng thênh
Ðây phồn hoa của thị thành
Ðây hồn thủy thảo khóc tình ngửa ngang. ''
Ðúng là Hài Nhi thi sĩ còn nặng lòng, lo lắng, gùn ghè, han hỏi đến cả mai sau. Thi sĩ e rằng tiếng dội của ngọn lá rơi trong sương mù có thể làm sai lạc sứ điệp của nàng Thơ và làm mờ cả mầu trăng nguyên thủy. Phải chăng thi sĩ sợ mai sau không mấy ai còn nhớ đến tình yêu và sự bạc đãi của thế hệ hôm nay.
Hôm nay còn sống lây lất, có lẽ thi sĩ thấy cuộc đời tiến nhanh quá khiến ánh trăng không còn chạy theo kịp nữa, nhất là khói từ trong các ống bô phun ra ngày càng nhiều khiến cho đôi mắt của thế hệ tiếp theo bị mù lòa từng ngày một. Bụi khói máy móc đã làm tổn thương mầu xanh của lá, ánh sáng của trăng. Phải chăng thi sĩ thà chết với ánh trăng vẫn hạnh phúc hơn là sống trong bụi văn minh kỹ thuật? Dù quen say đắm cuộc đời năm lần bảy lượt, anh vẫn chung thủy với chị Hằng, và với nàng Thơ như mầu hoa chung thủy dưới ánh nắng mặt trời. Anh chung thuỷ với tình đời trăm mối tơ vương, tứ đảo tam điên triền miên lận đận, đáng giận đáng thương, đáng nhường đáng lánh, đáng quạnh đáng vui, đáng bùi ngùi như anh... Bùi Giáng. Anh đã viết:
''Tôi có một tình yêu thứ nhất
Thứ hai, ba, bốn, chín lại thêm mười
Bờ tang hải biển dâu xua lật úp
Bến phiêu bồng tôi lật đật theo đuôi''
''Sáng nay bao tử mơ mòng
Cà phê bên nớ, cháo lòng bên ni''
Tình yêu của anh thật là ngộ nghĩnh, khoan dung, không ghen tuông, không oán giận, không ích kỷ mà rất chịu chơi. Anh yêu cả người tốt lẫn người xấu. Anh yêu ngọn lá, yêu giọt sương, yêu ly cà phê, yêu tô phở tái, yêu cốc rượu đế, yêu đĩa lòng heo, yêu dấu bèo sông nước, yêu mỗi bước chân theo, yêu kiếp nghèo góc chợ, yêu của nợ lon ton, yêu trẻ con ú nụ, yêu lụ khụ hài nhi, yêu tình si luống cuống, yêu cà cuống chuồn chuồn, yêu nỗi buồn châu chấu, yêu tình bậu bất trung, yêu cả con vì trùng bé nhỏ. Anh yêu với tất cả con tim nóng hỗi của mình, anh từ bỏ cái khôn ngoan lừa lọc để chọn cái si tình ngây dại:
''Tôi đã gởi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong
. . . . .
Những người bạn xem tôi như ruột thịt
Những người em dâng hết dạ cho tôi
Những người bạn xem tôi là cà gật
Những người em không vẹn nghĩa mất rồi.
. . . . .
Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em
. . . . .
Xin yêu mãi và yêu nhau mãi mãi
Trần gian ôi cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn''.
Tôi xin tặng anh:
Tương hà cá sóng trùng yêu.
Mênh mang tiếng vọng hải triều tri âm
Chịu chơi rất mực hồng trần
Kỳ kèo với cả lần khân đoạn trường.
Anh bảo rằng Chúa Jesus Christ là con người chịu chơi nhất của nhân loại. Ngài nói ''Con cáo có hang, con chim trời có tổ nhưng Con Người không có chỗ gối đầu''(Luca 9:58). Ngài để người ta đóng đinh trên cây thập tự và chịu chết thế cho tội ác của nhân loại. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài vẫn trao cho người sắp chết bên cạnh mình một niềm hy vọng với cả tình yêu thương cốt thiết. Anh có một cái nhìn rất đặc biệt đối với Chúa Jesus, điều nầy cũng đã đem đến cho tôi một nguồn cảm hứng sâu xa về sự chết của Ngài trong khi tôi đọc Kinh Thánh:
Mồ hôi pha máu thiên đường
Trần gian treo Ðấng Yêu Thương trên đồi
Ðầu lâu lăn lóc trắng phơi
Vẫn còn nước mắt khóc người tri âm
Lời thống thiết vọng ngàn năm
Trời cao vẫy gọi bổn tâm người về
Thuyền đi bến đợi chờ ghe
Tình yêu thứ nhất trở về sau đuôi.
Bởi vì loài người chen chúc mãi mà không biết mình bất lực trong cố gắng tự tạo cho mình hằng hữu; trong khi đó, những dụ ngôn thiên thượng đã được Chúa Jesus Christ đem xuống trần gian trong Lời Tiên Tri cảnh báo: ''Có nhiều kẻ ở đầu sẽ nên rốt, và nhiều kẻ ở rốt sẽ nên đầu'' (Ma-thi-ơ 19:30) Và: ''Song ai lớn hơn trong các ngươi phải như kẻ rất nhỏ, và ai cai trị phải như kẻ hầu việc'': (Lu-ca 22:26)
Sau hơn 25 năm được biết anh, nay tôi mạo muội gởi đến anh một số bài thơ tôi đã viết bở thi hứng đến từ anh. Tôi không nặng lòng thơ hay hoặc thơ dở, nhưng tôi mong ước anh đọc những bài thơ nầy và viết cho tôi vài chữ của anh; dù anh chê hay khen, cười cợt hay la rầy, mắng chưởi cũng là anh. Vì tôi đã được nhìn ngắm anh, dẫu rằng tôi nhỏ hơn anh những 20 tuổi. Lúc đầu tôi chỉ nhìn anh qua ánh mắt tò mò khờ khạo, sau đó tôi nhìn anh bằng cả tình yêu Thiên Chúa trong chúng ta. Trong tình anh em đặc biệt nầy, tôi cũng đã từng bị anh mắng chưởi tôi tới tấp biết bao phen! Nhưng tôi luôn luôn được nhìn thẳng vào đôi mắt của anh để thấy tình yêu và lòng dộ lượng mà anh đã dành cho tôi và cho cuộc sống trần trụi nầy.
Cách sống, cách thể hiện đức tin vào Thiên Chúa ở nơi anh thật là tự do và độc đáo. Anh yêu kính các bậc thánh nhân như anh quý trọng tình yêu và trẻ thơ vậy. Nếu anh thấy trong thơ tôi có điều chi cà rỡn, cà chớn, cà chua còn thua cà pháo mà chưa thấu đáo cà phê để bị anh chê là cà gật thì tôi cũng vui mừng để nhận lấy điều anh muốn nói. Vì chính anh và thơ của anh đã gieo vào trong tôi cảm hứng trùng phùng nầy. Nếu không có thơ của anh và không có anh, chắc chắn tôi không thể nào làm thơ được.
Anh đã thể hiện chân tình những gì của chính anh giữa thế giới anh được sinh ra để sống. Thái độ sống tự do tự tại của anh đã lôi luốn tôi từ một kẻ chán đời trở nên say sưa vui sống như một kẻ nghiện sống giữa thế giới ta bà điên đảo nầy. Bây giờ tôi có ba điều nghiện:
Nghiện tình yêu Thiên Chúa trong phàm nhân.
Nghiện sự chân thật trong trắng của trẻ con.
Nghiện Bùi Giáng và thơ Bùi Giáng.
Và bây giờ tôi cũng vô cùng hạnh phúc được nói với anh rằng:
Anh ở đó vầng hồng soi mấy bận
Ngọt ngào thay tôi được uống chung dòng
Mưa nắng sớm chiều hôm bay hương phấn
Quả đất tròn quyện lấy nỗi niềm chung
Xin đa tạ ân phúc hồng vô lượng
Từng lá cây ngọn cỏ núi rừng sông
Xin đa tạ xóm làng con hẻm nhỏ
Dưới trời xanh, tôi được uống chung dòng
Tôi rất mong được anh viết cho tôi vài chữ trong tập thơ nầy để làm chứng giám cho những ngày chúng ta có nhau trên đất. Bất cứ điều chi anh muốn nói, xin viết cho tôi đôi dòng. Càng nhìn thấy nét chữ sau cùng của tay anh viết, tôi càng tâm niệm rằng đó là ân huệ của tình anh em chúng ta.
Hồn ai nặng giữa hai tay?
Hồn ai rải rác đọa đày hai chân?
Xin anh một chút phong trần
Làm duyên tao ngộ hồng ân quê nhà.
Gia Ðịnh mùa Giáng Sinh 1997
Nguyễn Huệ Nhật
(1) Một trò chơi của Bùi Giáng khi bị công an còng tay giữa đường. Sẽ viết chi tiết hơn trong một quyển sách khác.
(2) Nhà đạo diễn cộng sản tên là LT đã theo dõi BG và ăn cắp hàng ngàn bài thơ của ông. Nhưng Bùi Giáng đã tỉnh táo nhờ người ''mượn lại'' một cách rất khéo léo. LT đã phải học một bài học tế nhị của ''nhà thơ điên.''
|