NHỮNG CÂU HỎI & GIẢI ÐÁP
CÂU I
Hải Văn Hoàng thắc mắc câu thứ nhất:
"Huệ Nhật so sánh luật "cấm sát sanh" của Phật Giáo với câu nói của Thiên Chúa "ngươi chớ giết người" và cho rằng luật cấm sát sanh không thực tế như của bên Thiên Chúa Giáo."
Trước hết, tôi xin hỏi HN một câu như thế nầy: Nếu câu nói "ngươi chớ giết người " là của Thiên Chúa, vậy HN làm đúng như vậy chưa? Sự dễ dàng trong một câu nói như trên còn chưa làm được thì làm sao mà có thể theo dõi những luật lệ khác. Tôi nhận thấy rằng việc "cấm sát sanh" trong Phật Giáo là một sự giới hạn cho con người của chúng ta tránh được những QUÁ ÐỘ giữa con ngườøi với con người. Nếu chữ "người" ở trong câu nói của Thiên Chúa cũng có nghĩa là những vật nhỏ khác (vì nên nhớ Ðức Chúa Trời đã tạo ra muôn loài. Trong đó loài vật nhỏ như vi trùng... cũng là một sinh vật như người) ta cũng không được giết. Vậy nếu Thiên Chúa ám chỉ chữ "người" là cho muôn loài, dù đó là một sinh vật nhỏ đến đâu, ta cũng "chớ giết". Vậy câu nói của Thiên Chúa có giống với luật "cấm sát sanh" của Phật giáo hay không? Như vậy, luật "cấm sát sanh" kia có nói chung chung, mơ hồ như lời "phân tích" của bạn hay không?
Huệ Nhật trả lời:
Giới cấm sát sanh là một giới cấm hoàn toàn không thựïc tế, vì không một ai thựïc hiện được, kể cả đức Phật; mặc dầu giới cấm sát sanh nầy là giới đầu tiên và quan trọng nhất trong tất cả các giới cấm của luật tạng. Khi đưa ra giới cấm nầy, Ðức Phật không hiểu rằng đây là một giới cấm mà không ai giữ được. Ngay cả bản thân Ngài đã không giữ đượïc nhưng có lẽø Ngài cũng không biết. Tôi xin lặp lại, không có một người nào giữ được giới cấm nầy, kể cả thai nhi trong bụng mẹ cũng không giữ được giới cấm nầy. Vì trong hệ thống sinh lý của bà mẹ và em bé đều được dựng nên một hệ thống miễn nhiễm chống lại tất cả những vi trùng gây hại đến sức khỏe của bà mẹ và em bé. Ðức Phật cho rằng mỗi khi người ta uống một ly nước là giết chết 84000 con sanh vật, nhưng mọi ngườøi vẫn uống nước. Còn một sự sát sanh tệ hại hơn cả uống nước nữa, là trước khi uống nước, người ta đã nấu nước, nấu cơm, luộc rau...khiến hàng triệu sinh vật trong nước đã chết, tại sao Phật không ra giới cấm nấu nước, cấm nấu cơm, cấm luộc rau? Ðức Phật cho rằng đi bộ giết chết côn trùng dưới chân, nhưng Ðức Phật không có giới cấm đi bộ. Ngày nay các tu sỹ Phật Giáo lái xe hơi, các bánh xe cán chết biết bao nhiêu sinh vật? Ðạo Phật dạy ăn chay để tránh sát sanh nhưng chính Ðứùc phật ăn cá ăn thịt, vì ai cho gì Ngài cũng ăn. Nếu sát sanh là một tội trọng như giáo lý đạo Phật quan niệm thì chắc chắn không có một người tu sỹ Phật Giáo nào thành phật được chứ đừng nói đến phật tử tại gia. Ðó là những lý do khiến tôi cho rằng giới cấm nầy không thực tế.
Tôi tự hỏi: tại sao Ðức Phật ra giới cấm đầu tiên và cũng là giới quan trọng nhất, nhưng hoàn toàn không thực tế, nghĩa là không một ai giữ được?
Theo tôi nghĩ Ðức Phật vẫn là một con người bình thường đượïc sinh ra giữa thế gian nầy. Ngài đã cố gắng học tập để tìm hiểu chân lý, Ngài tự cho rằng mình đã thành Phật, nhưng Ngài chưa hiểu hết mọi căn nguyên của sự sống và sự chết. Ngài chỉ biết đến sự sống vật lý trong con người và loài vật, nhưng Ngài chưa thấu triệt sự sống vĩnh cửu trong con người mà loài vật không bao giờ có, mặc dầu Ngài có lòng tin một cách mơ hồ là có sự sống vĩnh cửu, nên ngài đã từ bỏ gia đình, quyền lợi để đi tìm chân lý ấy, nhưng vì sự cố gắng của Ngài chỉ có giới hạn; Ngài không tìm nổi chân lý hằng hữu mà chỉ thành Phật cho riêng mình và sau đó Ngài không nói đến chân lý vĩnh cửu nữa. Từ đây giáo lý Ðạo Phật có những điểm mâu thuẫn quan trọng. Khi thì nói vạn pháp không có khởi đầu và không có kết thúc, khi thì nói vì nguyên nhân đưa đến hậu quả để lập luận lý duyên khởi (hiện tượng luận), khi thì nói không gian vô biên thời gian vô tận, khi thì nói không có gì trường tồn mãi mãi. Khi thì lấy khoa học ra để ngụy trang cho niềm tin, khi thì đọc thần chú. Khi thì nói vô ngã, khi thì nói duy ngã độc tôn. Cuối cùng suốt những ngàn năm không có một người nào tu thành phật như Ngài. Tuy nhiên Ðức Phật vốn có lòng từ bi đối với mọi loài, dù Ngài chưa hiểu giá trị của sự sống khác nhau giữa loài người và loài vật, Ngài cũng chưa hiểu giá trị sự sống vĩnh cửu trong tâm linh con người khác với sự sống vật lý và bản băng được ban cho một cách bất di dịch trong loài vật, vì thế Ðức Phật tôn trọng mạng sống con người và sinh mạng con vật ngang nhau.
Sở dĩ Ðức Phật không hiểu rõ sự sống như thế bởi Ngài cũng chỉ là một chúng sinh như chúng ta. Nghĩa là Ngài cũng là một tạo vật của Ðức Chúa Trời như mỗi một cá nhân chúng ta. Ngài vẫn được sinh ra trong máu cha thịt mẹ theo quy luật của Ðức Chúa Trời. Hồi đó Ðức Phật chưa đọc Kinh Thánh Cựu Ước, vì thế Ngài không có khái niệm sáng tạo của Ðức Chúa Trời và đặc biệt là Ngài không biết rằng loài người là loài duy nhất được mặc lấy ảnh tượïng của Ðức Chúa Trời. Hầu hết những gì Thái Tử Tất Ðạt Ða học được là từ nền văn hóa Aán-Ðộ giáo và Bà-La- Môn giáo pha trộn. Giáo lý Ðạo Phật chỉ là biến thể của hai tôn giáo nầy vốn đã lưu hành trước thời đại Ðức Phật rất lâu.
Bạn Hoàng Hải cho rằng: "Vậy nếu Thiên Chúa ám chỉ chữ "người" là cho muôn loài, dù đó là một sinh vật nhỏ đến đâu, ta cũng "chớ giết". Ðây là căn bịnh lấy bụng ta suy ra bụng người của Phật Giáo mà bạn Hoàng Hải đã bị ảnh hưởng nặng. Loài người là loài thọ tạo, sự hiểu biết của loài người rất ít ỏi so với sự vật mênh mông vô tận mà loài ngườøi chưa biết hết, nhưng tối thiểu chúng ta cũng phải công nhận rằng loài người và loài vật khác nhau rất xa. Nếu ngày nay bạn Hoàng Hải và Phật Giáo còn nhầm lẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa loài người và loài vật thì quý vị còn ởû trong trình độ sơ khai trước thời tiền sử tối tăm. Nên nhớ rằng sự hiểu biết của loài người trong thời đại Ðức Phật và sự hiểu biết của loài ngườøi hôm nay đã khác xa nhau rất nhiều. Ngày xưa Ðức Phật không biết gì về computer, nhưng ngày nay đứa con nít cũng biết computer. Mặc dù computer không do con người sáng tạo ra mà do con người lấy kinh nghiệm tri thức khoa học cả ngàn năm để tìm ra nguyên tắc computer. Khoa học là khả năng của con người (được Ðức Chúa Trời ban cho) để tìm hiểu, để thực nghiệm những gì mà Ðứùc Chúa Trời đã dựng nên. Khả năng khoa học cũng chỉ có giới hạn nhất định. Loài người không làm ra bộ não của mình, và loài người cũng không chế tạo cho mình sự khôn ngoan, nhưng loài người có tự do để làm cho sự khôn ngoan của mình tiến bộ nhanh hay chậm chứ không bao giờ đứng một chỗ. Giống như người nông dân rút kinh nghiệm để làm cho đất có thêm mầu mỡ. Nhưng thực tế đất đai, mầu mỡ, thời tiết bốn mùa và sự xúc tác vật lý để tạo ra sự sống trong đó là do Ðức Chúa Trời dựng sẵn nên rồi. Tất cả sắt thép, hóa chất, điện, và các nguyên tắc cơ khí, nguyên tắùc vật lý đều đã được Ðứùc Chúa Trời sáng tạo. Loài người mò theo đó để nghiên cứu tìm tòi và ứng dụng cho đời sống của mình. Loài người chưa sáng tạo ra một cái gì mà Ðức Chúa Trời chưa dựïng nên. Tuy nhiên, nếu gom tất cả sự hiểu biết của loài người từ cổ chí kim thì cũng chưa đáng chi so với điều mà loài người chưa biết. Ðức Chúa Trời biết tất cả. Ngài dựng nên loài người và ban cho loài ngườøi một bộ óc tốt nhất so với muôn loài, nhưng nếu đem bộ óc của chúng ta ra để hiểu biết về Ðức Chúa Trời thì hoàn toàn thiếu tốn. Vì thế Ðức Chúa Trời ban cho loài người Ðức Tin để tương giao với Ngài. (Tôi sẽ nói thêm phần nầy trong câu trả lời phần hai).
Ðức Chúa Trời ban điều răn "ngươi chớ giết người" vì Ngài đã dựng nên con người và hà hơi sinh linh vào con người để con người được mang ảnh tượng giống như Ngài, để con người được tương giao với Ngài một cách thiêng liêng. (xin đọc Sáng Thế Ký đoạn 1 và đoạn 2). Tuy loài người đã phạm tội, nhưng Ðức Chúa Trời vẫn yêu loài người. Ngài vạch kế hoạch cứu rỗi loài người ra khỏi tội lỗi trong Con Một của Ngài là Cứu Chúa Jesus Christ. Vì sự sống của con người là sự sống thiêng liêng, và khi họ còn sống là còn cơ hội để trở về với Ðức Chúa Trời, vì thế Ðức Chúa Trời không cho phép con người giết con người. Thân thể vật lý của con người cũng là một thân thể thiêng liêng khác với loài vật hoàn toàn. Trong thân thể vật lý của con người, con ngườøi có trí tuệ, có tình yêu rất phong phú, có ý chí, có tự do, có lương tâm và biết tội lỗi cũng như phước lành để hướng đến sự sống thiêng liêng vĩnh cửu. Chỉ có Kinh Thánh mới nói đến giá trị tuyệt đối của con người trên hết mọi loài và con người được tương giáo với Ðức Chúa Trời.
Ðức Chúa Trời là Ðấng dựng nên vũ trụ và mọi loài, vì thế Ngài biết rõ từng loài một và Ngài ban cho con người quyền quản trị mọi loài trên đất và dưới nước để làm ích lợi cho loài người. Ðức Chúa trời là Ðấng toàn năng, toàn tri, và toàn tại. Những bổn tính của ngài đã được Ngài phán cho các tiên tri chép ra trong Kinh Thánh. Một người bình thường, khi quan sát sự hiện hữu và sự vận hành của vũ trụ vạn vật trong không gian vô biên thời gian vô tận với quy luật tinh vi tuyệt đối chính xác từng giây, từng năm, từng niên đại để phát triển và duy trì sự sống thì phải tin rằng có một bàn tay mầu nhiệm toàn năng. Dù khả năng loài người chưa hiểu hết, nhưng lương tâm và lòng tin con người có đủ để tin. Vì thế Ðức Chúa Trời đã ban Lời Ngài được mặc khải thành văn tự, đó là Kinh Thánh để hướng dẫn đức tin của con người. Kinh Thánh chưa phải là tất cả, nhưng Kinh Thánh có đầy đủ sự hướng dẫn để loài người sống với đức tin và sự thông biết thiêng liêng thích hợp với bổn tánh của Cha mình tức là Ðức Chúa Trời. Một đời người chưa đủ để hiểu hết Kinh Thánh nhưng đủ để đi theo Kinh Thánh và tin Ðức Chúa Trời là Chân Thần và thực hữu đầy quyền năng tuyệt đối. Khi một người ăn năn tội trở về trong Chúa Chúa Cứu Thế Jesus Christ, người ấy nhận được sự sống của Ðức Thánh Linh để có kinh nghiệm siêu nhiên và xác tín hơn để đức tin càng ngày càng vững chắc, và đời sống người đó không thể phạm tộâi dễ dàng như một ngườøi vô tín. Trên thực tế, lịch sử loài người cho thấy loài người vẫn quản trị thiên nhiên để làm ích cho mình giống như Kinh Thánh đã nói tự ngàn xưa. Vậy chúng ta giết hại sinh vật một cách vô ích và tàn phá thiên nhiên một cách vô ích thì chúng ta có tội với Ðức Chúa Trời và với nhân loại, nhưng chúng ta làm thịt súc vật để ăn thì điều nầy không có tội với ai cả. Phật Giáo đã hiểu sai vì họ không có Kinh Thánh. Nếu người phật tử trở về với Kinh Thánh thì họ sẽ được hưởng phước và nhận biết thế nào là từ bi, thế nào là ân điển; nhất là họ nhận được ơn tha tội trong Chúa Jesus Christ theo kế hoạch cứu rỗi của đức Chúa Trời.
Tuần tự tôi sẽ trả lời các câu kế tiếp
Thân mến chào anh Hải Văn Hoàng
Berlin lập đông 2003.
Huệ Nhật

|