Cau Xin Duc Me

Xin nhấn vào đây để nghe bài giảng (12 meg)

SỢ THỜI ĐẠI

B

ài phúc âm Chúa Nhật hôm nay là đoạn giữa của chương 10 mà trong phần mở đầu Chúa Giêsu đã chọn mười hai tông đồ, sai họ đi vào thế gian như "chiên giữa bầy sói", và Chúa cho biết là họ sẽ bị bắt bớ, bị hành hạ, "bị mọi người ghét bỏ vì danh [Chúa Giêsu], nhưng ai kiên trì thì mới được cứu độ" (c. 22).

Để giúp cho các môn đệ có thể chấp nhận được các thử thách khó khăn nói trên, Chúa Giêsu đã nhắc cho họ nhớ đến thực tại của một con người, đó là ngoài thân xác còn có linh hồn; ngoài sự sống vật chất còn có sự sống siêu nhiên mà chỉ một mình Thiên Chúa mới làm chủ thế giới siêu nhiên ấy. Bởi thế Chúa Giêsu khuyên các môn đệ "đừng sợ ai cả" và hãy can đảm tuyên xưng đức tin, loan báo Tin Mừng.

Đoạn phúc âm hôm nay tưởng như là một thách đố đối với các tín hữu Kitô đang sống ở những nơi bách hại tôn giáo, dù ngấm ngầm hay công khai. Nhưng trên thực tế, qua kinh nghiệm của các giáo hội trong các quốc gia Đông Âu thời hậu cộng sản, việc sống đạo khi con người được tự do, được sung sướng vật chất mới là vấn đề khó khăn.

Trong thời cộng sản còn cai trị ở các quốc gia Đông Âu, người ta thấy tinh thần đạo giáo của tín hữu Kitô lên rất cao dù họ phải sống đạo cách lén lút và lo sợ. Nhờ vậy, qua sự cổ vũ tinh thần của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, dân chúng Ba Lan đã vùng lên lật đổ chủ nghĩa vô thần cộng sản từng thống trị quốc gia này trên 40 năm, và sau đó đưa đến sự tan rã của chủ thuyết cộng sản ngay ở Liên Bang Sô Viết!

Tuy nhiên, ngày nay tinh thần tôn giáo ấy không còn nữa, ngay cả ở Ba Lan. Khi không còn sự đe dọa hay bách hại, khi được hưởng bầu khí tự do về mọi phương diện thì sự sung sướng vật chất và khoái lạc đã lấn át mọi giá trị tinh thần và tôn giáo. Hiện nay các quốc gia thuộc khối cộng sản trước đây cũng đang chạy theo chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa cá nhân của các quốc gia văn minh Tây Phương, và Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phải cảnh giác họ "đừng quên căn tính Kitô Giáo của mình". Nói tóm lại, sau khi thoát khỏi gông cùm của chủ nghĩa cộng sản thì nhiều tín hữu Kitô, dù là Chính Thống Giáo hay Công Giáo, đã tự ý trói buộc mình với sự nô lệ cho vật chất.

Và đó là điều Chúa Giêsu cảnh cáo trong bài phúc âm hôm nay: "Đừng sợ những người có thể giết chết thân xác chúng ta, nhưng hãy sợ người có thể tiêu diệt cả linh hồn và thể xác trong hỏa ngục" (c. 28). Nói cách khác, đừng sợ bị bắt bớ tù đầy vì danh Chúa, đừng sợ cơ cực vì đói nghèo, đừng sợ vất vả khi phục vụ người khác, nhưng hãy sợ sự nô lệ cho vật chất, cho ích kỷ, cho tham lam, cho gian dối, vì những điều đó có thể khiến chúng ta mất linh hồn trong hỏa ngục.

Chúng ta đang sống ở Hoa Kỳ, một "thiên đàng hạ giới", với đầy đủ vui sướng, tự do và khoái lạc, lời Chúa trong bài phúc âm hôm nay sẽ được áp dụng thế nào cho chúng ta? Có phải sự tự do của quốc gia văn minh này khích lệ chúng ta chu toàn bổn phận của một người theo Chúa Kitô, là loan truyền Tin Mừng trong cuộc sống, mà không phải sợ hãi gì?

Trên thực tế, nhiều tín hữu Kitô có tâm trạng sợ trách nhiệm. Họ cho rằng việc rao giảng, loan truyền Tin Mừng là trách nhiệm của tu sĩ và giáo sĩ (phó tế, linh mục, giám mục).

Cũng có người cho rằng họ sợ áp đặt tôn giáo lên người khác, kể cả con cái ở trong nhà, và hậu quả là họ im lặng khi nói đến tôn giáo với bất cứ ai.

Cũng có người sợ mang tiếng là đạo đức giả nên không dám công khai biểu lộ đức tin của mình, tỉ như làm dấu thánh giá cầu nguyện ở nhà hàng trước khi ăn, hay không dám tự nhận mình là người Công Giáo với những người cùng sở, v.v. Cũng có người sợ không biết nhiều về đạo nên không dám mạnh dạn nói về Chúa.

Chúng ta nghĩ gì về những sự sợ hãi nói trên?

Cách đây vài năm tôi được nghe một giáo sĩ nói rằng ngài không muốn mang tiếng là đạo đức giả khi giảng dậy những lý tưởng cao vời của Chúa Giêsu mà chính ngài không thể theo được. Thoạt nghe tôi thấy có lý và cho rằng đó là sự khiêm tốn, và tôi cũng muốn áp dụng trong bài giảng của chính tôi. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ và thành thật mà nói, khi không đề cao lý tưởng của Chúa Giêsu thì trước hết chính tôi sẽ trở nên người nhu nhược. Tôi tự bào chữa cho sự lười biếng của mình mà không muốn thay đổi đời sống để trở nên "hoàn thiện như Cha trên trời", như lời Chúa Giêsu khuyên bảo. Tôi tự mở cho mình một lối thoát mà con đường thênh thang ấy không phải là của Thầy Giêsu. Và chính tôi cũng không chu toàn bổn phận của một người có chức thánh, đó là phải rao giảng lời Chúa chứ không phải lời của tôi.

Tất cả mọi người chúng ta đều có giá trị ngang nhau vì "được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa", chứ chúng ta không hơn kém ở chức thánh. Cũng vậy, tất cả Kitô Hữu đều có trách nhiệm như nhau là làm chứng cho Chúa Kitô ít nhiều tùy theo ơn gọi và khả năng.

Người trong bậc gia đình vì bận rộn với sinh kế nên không có nhiều thời giờ học hỏi, nghiên cứu về đạo nên rất có thể kiến thức của họ không bằng các giáo sĩ. Tuy nhiên, khi nói đến khả năng, kiến thức để nói về Chúa, không khả năng nào có giá trị hơn một tâm hồn bừng cháy vì mến Chúa và yêu người. Không có sự giải thích nào có sức thuyết phục bằng chính đời sống chứng nhân.

Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta phải biết nhiều hiểu rộng về giáo lý, nhưng chắc chắn Người mong ước chúng ta đặt tình yêu Thiên Chúa và tha nhân lên trên tất cả. Tình yêu ấy sẽ thôi thúc chúng ta nói với người khác về Thiên Chúa. Tình yêu ấy sẽ khơi dậy trong chúng ta một hành động mà tự nó đã đầy đủ ý nghĩa.

Có câu chuyện của một nhóm thương gia Hoa Kỳ đi dự hội nghị ở Ba Tây, và tối thứ Sáu hôm đó họ vội vã ra phi trường để về nhà xum họp với gia đình sau gần một tuần lễ xa cách. Trên đường ra cổng để lên phi cơ, vô tình một người trong nhóm đã đụng phải quầy bán táo của một cô bé mù, thế là bao nhiêu trái táo đều rơi xuống đất và lăn lóc trên sàn nhà.

Vì sợ trễ chuyến bay nên hầu hết các thương gia đều vội vã xoay lưng bỏ đi trong khi cô bé thì hoảng hốt lo sợ, vì làm sao có thể nhặt lại được số táo trong một dòng người đang di chuyển mà mắt thì lại mù!

Đang khi nước mắt lăn dài trên khuôn mặt lo sợ của cô thì một thương gia đã trở lại. Ông đặt hành lý xuống bên cạnh cô bé mù và đi nhặt lại tất cả các trái táo đang vất vưởng khắp nơi rồi xếp ngay ngắn trên cái quầy nhỏ xíu cho cô ta.

Không những thế, ông còn rút ra tờ $20 đôla đưa cho cô và nói, "Chúng tôi xin lỗi. Với số tiền này hy vọng sẽ bù đắp được những thiệt hại. Cô không sao chứ?" Cô bé gật đầu qua hàng nước mắt còn dàn dụa.

Ông nói tiếp, "Hy vọng ngày hôm nay cô không bị ế hàng vì xui xẻo này." Khi người thương gia vừa xoay lưng bước đi, cô bé mù ngơ ngác gọi, "Ông ơi…". Người thương gia dừng chân và xoay lại nhìn. Cô bé hỏi, "Ông có phải là Giêsu không?"

Câu hỏi của cô bé mù cũng phải là câu hỏi của những người chưa được biết đến Chúa Giêsu khi gặp chúng ta, các tín hữu Kitô, "Ông/bà/anh/chị có phải là Giêsu không?"

Qua câu chuyện nói trên, chúng ta thấy điều quan trọng khi theo Chúa Kitô là đời sống chứng nhân chứ không phải kiến thức để biện hộ cho Chúa. Vì sự biện hộ có thể đưa đến tranh luận và trong cuộc tranh luận thì không ai thắng và cũng không ai thua. Khi làm chứng cho Chúa, chúng ta chỉ trình bầy vấn đề còn chấp nhận hay không là tùy sự tự do của người nghe. Điều này cũng trả lời cho những ai sợ áp đặt tôn giáo lên người khác. Vấn đề ở đây là chúng ta có muốn trình bầy về Chúa, muốn nói lên sự bình an và niềm vui của một người theo Chúa Kitô hay không chứ chúng ta không bắt buộc họ phải theo đạo của chúng ta.

Sống trong một xã hội đề cao tự do đến mức tối đa như ở Hoa Kỳ cũng có thể khiến chúng ta lo sợ--sợ vi phạm tự do của người khác mà không dám loan truyền Tin Mừng, không dám nói với người khác về Chúa Giêsu. Tuy nhiên, hãy nhớ đến câu nói của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay: "Ai nhìn nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ nhìn nhận người ấy trước mặt Cha Thầy... Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ từ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời".

Xin Chúa giúp chúng ta can đảm sống đức tin trong đời sống hàng ngày.

Pt. Giuse Trần Văn Nhật