ài phúc âm hôm nay đưa ra một hình ảnh khó hiểu cho chúng ta vì là những người sống trong thành thị. Khi nghe đến cái ách, chúng ta hình dung ra một khúc gỗ đặt trên cổ một con vật và được nối vào chiếc xe hay cái cầy là gánh nặng mà con vật phải kéo đi. Và khi nghe Chúa nói "anh em hãy mang lấy ách của tôi", chúng ta có cảm tưởng Chúa không tôn trọng mình, coi mình như súc vật. Nhưng trên thực tế, ở những vùng nghèo nàn, ngay cả ngày nay, chính con người cũng phải mang cái ách để kéo xe hay kéo cầy chứ không riêng gì súc vật.
Trường hợp này cũng đúng với khung cảnh xã hội thời Đức Giêsu. Vì Người là thợ mộc nên có lẽ công việc của Đức Giêsu là chế tạo những cái ách thích hợp cho những gánh nặng khác nhau. Ách to lớn được dùng cho những gánh nặng đồ sộ, và ngược lại, ách nhỏ dùng cho gánh nhẹ. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, máy xe phải phù hợp với trọng tải. Nếu xe để chở đồ nặng thì máy phải mạnh, nếu không sẽ cháy máy. Tương tự, gánh nặng đồ sộ mà dùng ách nhỏ thì ách sẽ bị gẫy.
Lời Chúa hôm nay được nói với những người Do Thái thời bấy giờ, và xã hội Do Thái có những gì được coi là gánh nặng?
Vào thời của Chúa Giêsu, dân tộc Do Thái đang trong sự cai trị của đế quốc La Mã, bởi thế họ mơ ước có được một đấng cứu tinh như ngôn sứ Giacaria nói trong bài đọc một: "Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ephraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân".
Ngoài sự đau khổ của một dân nô lệ, dân Do Thái còn phải tuân theo Luật Môsê gồm 613 điều được các luật sĩ, tư tế nghiên cứu và áp dụng luật ấy cho người dân với đủ loại cấm đoán và nghi thức. Nói cách khác, ngoài ách thống trị của đế quốc La Mã, dân Do Thái còn phải chịu cái ách của lề luật tôn giáo. Nhưng nghĩ cho cùng, lề luật hay sự cai trị tự nó không đem lại đau khổ, nhưng chính vì kiểu cách của người áp dụng hay cầm quyền mới làm cho lề luật trở nên gánh nặng.
Có những người lãnh đạo dùng quyền lực để có được những gì họ muốn theo ý riêng mà không nghĩ gì đến sự đau khổ của người dưới, và trong lịch sử nhân loại không thiếu những người lãnh đạo này. Trái lại, có những người lãnh đạo là để đem lại ích lợi cho người khác dù họ phải hy sinh nhiều, điển hình là Chúa Giêsu. Chính vì vậy, trong thời gian rao giảng, Chúa Giêsu rất thành công với "những người bé mọn", là những người bình dân, thợ thuyền lao động, những người không có học thức ở trong các làng mạc, nhưng đối với các luật sĩ, biệt phái và tư tế thì họ lại tìm cách diệt trừ Người.
Tại sao những người thông thái và đạo đức không thích Chúa Giêsu?
Điểm đầu tiên nhận thấy ngay là họ kiêu ngạo về kiến thức của mình. Họ không muốn chấp nhận sự giảng dậy từ một người "vô danh tiểu tốt" xuất xứ từ làng quê Nagiarét như Đức Giêsu. Họ lầm tưởng rằng Đức Giêsu sẽ tranh giành chiếm đoạt những gì họ đang an hưởng trong xã hội Do Thái. Họ không muốn mất uy tín, thanh danh, và thế lực bởi một người không thuộc về giai cấp của họ, bởi vậy, họ lo sợ, họ nuôi hận thù và tìm cách diệt trừ đối thủ. Nói cách khác, họ tự khoác lên người một gánh nặng mà thật sự nó không có: gánh nặng của lo sợ, gánh nặng của hận thù. Chúa Giêsu không đến để tranh giành quyền lực hay ảnh hưởng, mà Người đến để đem lại các chân lý cho loài người và chỉ những ai hiền lành và khiêm nhường mới thấy được các chân lý ấy.
Thái độ cao ngạo của giới luật sĩ, tư tế thời xưa cũng tương tự như nhiều khoa học gia ngày nay kiêu hãnh về kiến thức của mình mà không muốn tin có thế giới siêu nhiên, không tin có Thiên Chúa. Trong bản thăm dò thái độ các thành viên thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia (National Academy of Sciences--NAS), các tác giả bản thăm dò là Edward J. Larson và Larry Witham cho biết: "Số khoa học gia về sinh vật học không tin có Chúa là 65.2%, và không tin vào sự sự sống đời sau là 69%, và trong số các vật lý gia, con số đó là 79% và 76.3%... Những người có niềm tin cao nhất là các toán học gia của hàn lâm niện này (14.3% tin có Chúa, 15% tin có sự sống đời đời). Các khoa học gia về sinh vật học có tỉ lệ đức tin thấp nhất (5.5% tin có Chúa, 7.1% tin có sự sống đời sau)."
Qua bản thăm dò trên, dường như kiến thức cản trở người ta tin vào Thiên Chúa. Nhưng nhận xét này không có nghĩa chúng ta không cần trau dồi kiến thức, không cần tìm hiểu về Thiên Chúa, và cũng không có nghĩa những người tin vào Thiên Chúa thì thường ngu dốt.
Trên thực tế, các trường đại học đầu tiên trên thế giới được thành lập vào thế kỷ 12 là của Kitô Giáo. Và rất nhiều khoa học gia nổi tiếng thế giới là những tín hữu Kitô tỉ như Copernicus, Kepler, Galileo, Descartes, Boyle, Newton, Pascal, Faraday, Joule, Lavoisier, Kelvin, Ohm, Ampere, Pasteur, Mendel, v.v. Sự khác biệt của khoa học gia không có đức tin là sự kiêu ngạo. Vì sự kiêu ngạo khiến con người mù quáng, và sự mù quáng khiến người ta không nhận ra chân lý. Tương tự như các luật sĩ, tư tế, biệt phái thời Đức Giêsu, vì kiêu ngạo nên họ không nhận ra chân lý trong lời của Đức Giêsu.
Có câu chuyện vui giữa một khoa học gia và Thiên Chúa. Nhà khoa học kiêu hãnh đến gặp Chúa và nói, "Hãy nghe đây. Chúng tôi quyết định không còn cần đến ngài nữa. Bây giờ, chúng tôi có thể tạo ra được con người, có thể cấy ghép các bộ phận trong thân thể và thi hành đủ mọi việc mà trước đây cho là phép lạ."
Thiên Chúa kiên nhẫn lắng nghe và nói, "Được rồi. Để biết là các ông có còn cần đến tôi hay không, chúng ta hãy thi chế tạo con người. Ông nghĩ sao?"
Nhà khoa học trả lời, "Vậy thì tốt quá!"
Chúa nói tiếp, "Bây giờ chúng ta sẽ thi hành điều này giống như ngày xưa tôi dựng nên ADong."
"Được, không sao cả," nhà khoa học trả lời và ông ta cúi xuống bốc một nắm đất.
"Khoan!" Chúa lắc đầu không đồng ý. "Sao vội thế. Ông phải đi lấy đất của chính ông chứ."
Câu chuyện vui nói trên cho thấy chỉ một mình Thiên Chúa mới tạo ra mọi sự từ hư không, loài người dù tài giỏi đến đâu vẫn phải dựa vào những gì đã có sẵn trong thiên nhiên để chế biến.
Đức tin là một quà tặng của Thiên Chúa. Chúng ta không thể có được đức tin nhờ thuần túy học hỏi hay kiến thức phong phú nhưng còn phải cần đến sự cầu nguyện và ơn Chúa. Đức tin là điều được giấu kín khỏi những người khôn ngoan thông thái nhưng Thiên Chúa lại tiết lộ cho những người bé mọn. Nói cách khác, người bình dân ít học thì lại dễ tin tưởng vào Thượng Đế hơn là các khoa học gia.
Khi có đức tin, cuộc đời chúng ta không vô giá trị dù ngắn hay dài. Chúng ta không vất vả lao nhọc và tốn thời giờ cho những của cải vật chất chóng qua, nay còn mai mất; chúng ta không chán nản tuyệt vọng khi thất bại, nhưng nhờ đức tin, cuộc đời chúng ta có giá trị vì biết quan tâm đúng chỗ, đó là sống đẹp lòng Thiên Chúa và cố gắng gìn giữ đức tin.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta "Anh chị em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền lành và khiêm nhường." Ách của Chúa Giêsu là gì?
Ách của Chúa Giêsu được tóm lược trong Tám Mối Phúc Thật. Chúa kêu gọi chúng ta sống tinh thần nghèo khó và trong sạch, sống hiền lành và khiêm nhường, biết thương xót, biết tha thứ, biết lưu tâm giúp đỡ người khác và vui lòng chịu sỉ nhục vì danh Chúa.
Và ách của Chúa thì êm ái vì Chúa không đặt ra số lượng. Chúa không yêu cầu chúng ta phải làm đủ mọi thứ, phải tham gia đủ mọi hội đoàn, phải đóng góp cho đủ mọi hội từ thiện, v.v., nhưng Chúa chỉ mong muốn chúng ta khi thi hành bất cứ điều gì, dù nhỏ bé như cho người đói ăn hay cho người khát uống, dù chăm sóc người thân trong nhà hay người xa lạ bên đường, chúng ta phải thi hành với tình yêu, với lòng bác ái.
Và gánh của Chúa nhẹ nhàng vì ai ai cũng có thể thi hành. Dù chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào, khả năng nào, mọi người đều có thể sống Tám Mối Phúc Thật. Chúng ta không cần phải học cho cao, bằng cấp cho nhiều để khám phá ra các điều cao siêu thì mới giúp ích được cho tha nhân. Chúng ta không cần phải vất vả kiếm thật nhiều tiền cho đến khi là triệu phú thì sự giúp đỡ của chúng ta mới có giá trị. Tất cả những gì Chúa cần là một tâm hồn mến Chúa và yêu người.
Có nhiều gia đình chỉ vì tranh giành của cải mà anh chị em trở thành kẻ thù: họ trở nên gánh nặng của nhau. Có những bà mẹ chồng luôn nhìn con dâu với cặp mắt soi mói, phê bình và ngược cô con dâu lại thấy mẹ chồng cản trở sự tự do của mình, vô tình cả hai đã trở nên gánh nặng cho nhau. Một khi chưa hy sinh thay đổi cái nhìn của mình để sống chân lý của Chúa Kitô, họ sẽ mang những gánh nặng đó suốt cả đời.
Văn hào Nga Leon Tolstoi có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau. Có một người hành khất, ông ta đến trước cửa nhà của một chủ nhân giàu có để xin bố thí. Người ăn xin này không cần gì nhiều, chỉ một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn là đủ. Nhưng, mặc cho người khốn khổ van xin, ông nhà giàu vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Cho đến khi không chịu nổi những lời van xin của người hành khất ấy, thay vì bố thí, ông nhà giàu đã lấy đá ném người này.
Người hành khất lặng lẽ nhặt hòn đá cất vào túi và thầm nghĩ: "Ta sẽ mang hòn đá này cho đến ngày ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi".
Ði đến đâu, người hành khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.
Năm tháng trôi qua. Lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì gian lận, ông nhà giàu bị tước đoạt tất cả tài sản và bị giam vào ngục. Vào hôm toán lính áp tải người nhà giầu vào ngục, người hành khất cũng đi theo với sôi sục căm hờn. Tay ông nắm chặt hòn đá mà người nhà giàu đã ném ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn thẳng tay ném hòn đá ấy vào người nhà giầu để rửa sạch mối nhục còn đeo đẳng bên ông.
Nhưng khi nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ sa cơ thất thế đang bị xiềng xích, sau cùng, người hành khất buông hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: "Tại sao mình lại phải mang hòn đá nặng nề này từ bao nhiêu năm qua? Con người ấy, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ như mình", (Phỏng theo bài Hòn Đá Báo Thù của Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài).
Cuộc đời mỗi người là một chuyến xe mà tất cả đều đến cùng một đích điểm. Chuyến xe nặng hay nhẹ là tùy ý chúng ta. Khi chúng ta chồng chất những hành lý không cần thiết thì gánh nặng ấy sẽ làm chúng ta vất vả, khổ cực. Trái lại, trong chuyến xe cuộc đời nếu chúng ta chỉ có những vật dụng căn bản, chuyến xe ấy sẽ nhẹ nhàng hơn và đương nhiên chúng ta sẽ thoải mái hơn.
Gánh nhẹ thì không cần phải ách lớn, và lúc ấy chúng ta mới thấy được chân lý của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay: "Ách của tôi thì êm ái, và gánh của tôi thì nhẹ nhàng."