ào đầu tháng Bẩy vừa qua (02/07/2008), cả thế giới nói chung và người dân Colombia nói riêng, vui mừng trước tin lực lượng chính phủ Colombia đã thành công trong việc cứu thoát bà Ingrid Betancourt cùng với 14 người khác, trong đó có 3 công dân Hoa Kỳ, đã bị Lực Lượng Vũ Trang Giải Phóng Colombia (FARC) bắt làm con tin trong nhiều năm.
Bà Betancourt sinh ở Colombia nhưng lớn lên ở Pháp và kết hôn với một nhà ngoại giao Pháp. Sau đó bà trở về nước hoạt động chính trị. Bà thành lập một đảng phái với chủ trương chống tham nhũng, sau đó bà trở thành một nghị sĩ của Colombia vào năm 1998.
Vào năm 2002, bà ra tranh cử tổng thống. Trong cuộc vận động, bà thường chỉ trích Lực Lượng Vũ Trang Giải Phóng Colombia, và vào tháng Hai 2002, khi vận động tranh cử trong một vùng do lực lượng này kiểm soát, bà đã bị bắt. Trong thời gian bị giam cầm khoảng 6 năm rưỡi trong rừng, bà đã bị xiềng xích trong ba năm liền, bị tra tấn và đối xử tồi tệ, bởi đó tình trạng sức khỏe của bà ngày càng sa sút vì các bệnh do suy dinh dưỡng.
Bà Betancourt là một người Công Giáo nhưng trước khi bị bắt, đời sống đức tin của bà không có gì đáng nói. Bà chưa bao giờ đọc Kinh Thánh, chưa bao giờ lần chuỗi Mai Khôi mà bà chỉ nhớ mang máng khi thấy cha của bà lần chuỗi. Bởi đó, trong thời gian bị bắt, bà đã làm xâu chuỗi với 15 khuy áo, vì nghĩ rằng có 15 kinh Kính Mừng.
Nhưng sau khi được cứu thoát, ngay khi từ trực thăng bước xuống phần đất tự do, và sau khi ôm hôn những người thân yêu trong gia đình, bà đã xoay người làm dấu thánh giá và nhắm mắt cầu nguyện. Và bà đã lập đi lập lại cử chỉ này vài lần chỉ trong một vài phút trước hàng loạt máy quay phim của giới truyền thông. Bà còn lôi ra xâu chuỗi đặc biệt của bà để khoe với mọi người.
Khi lần đầu tiên đứng trước máy vi âm phát biểu cảm tưởng, bà cho biết cuộc cứu thoát này một phép lạ của Thiên Chúa, và bà không ngừng lập lại điều này. 1
Câu chuyện của bà Betancourt nói lên phần nào ý nghĩa của bài phúc âm hôm nay. Chúa Giêsu, sau khi làm phép lạ cho bánh và cá hóa nhiều để nuôi trên năm ngàn người, Chúa đã sai các môn đệ xuống thuyền sang bên kia bờ hồ Galilê, trong khi Người lên núi cầu nguyện. Và các môn đệ đã gặp sóng to gió lớn trong một thời gian khá lâu, từ chiều tối cho đến khoảng 3 giờ sáng. Có thể nói khi họ đã thực sự mỏi mệt vì chèo chống thì lúc bấy giờ Chúa Giêsu mới xuất hiện. Và đặc biệt hơn nữa là Người đi trên mặt nước mà đến với họ.
Trong ba phúc âm đề cập đến sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước (Mátthêu, Máccô và Gioan), chỉ có phúc âm của Thánh Mátthêu ghi lại phản ứng của ông Phêrô trước sự kiện lạ lùng này. Và phản ứng bình thường của người đọc là chúng ta nghĩ rằng ông Phêrô yếu đức tin, không tin rằng Thầy của mình có thể làm được những việc phi thường, nên, tương tự như ông Tôma không tin Chúa Giêsu phục sinh nên đòi phải sờ vào các vết thương, ông Phêrô cũng xin Chúa cho ông đi trên mặt nước để tin thật đây là Thầy của mình.
Với tâm trạng của một người đang sống trong thời đại khoa học thực nghiệm, tôi thấy dường như Thiên Chúa đã đoán trước được những suy nghĩ của chúng ta nên Người đã linh ứng cho Thánh Mátthêu để ghi lại một sự kiện mà nó thỏa mãn sự tò mò, thắc mắc của con người thời bây giờ. Nếu như ông Phêrô không xin cho được đi trên mặt nước, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ rằng sự xuất hiện của Chúa Giêsu có thể là ảo giác. Vì sau hơn sáu giờ đồng hồ chống trả với sóng gió, chắc chắn các môn đệ rất mệt mỏi và cần phải nghỉ ngơi, và trong giấc ngủ chập chờn ấy họ đã thấy Chúa Giêsu như một bóng ma—một thực thể không có quyền năng!
Hình ảnh các tông đồ mệt mỏi đến độ không nhận ra Chúa đem cho chúng ta một ý nghĩa trong cuộc sống thực tế. Nhiều khi chúng ta chìm ngập trong sinh hoạt của đời sống xã hội mà ít trau dồi kiến thức về đạo, quan niệm của chúng ta về tôn giáo, về chân lý, về Thiên Chúa, không ít thì nhiều sẽ có sự thay đổi. Một thí dụ điển hình là chúng ta thường nghe nói, "đạo nào cũng giống nhau, đạo nào cũng dậy ăn ngay ở lành". Và rồi chúng ta đi đến kết luận là "đạo của ai người ấy giữ," chúng ta không cần phải rao giảng Tin Mừng, không cần phải nói về Chúa cho những lương dân. Điều nguy hiểm ở đây là vô tình chúng ta nghĩ rằng không có đạo thật, đạo nào cũng cứu độ được con người. Nhưng thử nghĩ xem, nếu thật sự đạo nào cũng cứu độ được con người thì vai trò của Chúa Giêsu ở đâu trong lịch sử nhân loại? Chẳng lẽ tất cả biến cố lạ lùng trong cuộc đời của Chúa Giêsu đều là dàn dựng, bịa đặt? Chẳng lẽ các tông đồ và những người sống trong thời bấy giờ đều là những người dại dột và ngu dốt vì đã chịu chết cho một lý tưởng không có thật?
Nếu để ý, trong đời sống mỗi người chúng ta đều thấy có dấu vết của bàn tay Thiên Chúa. Trong cuộc phỏng vấn với tờ báo Pháp Pèlerin, bà Betancourt cho biết tại sao ngay khi được cứu thoát, hành động đầu tiên của bà là làm dấu thánh giá. Bà nói, "Vì nếu không có Chúa Giêsu ở bên cạnh thì tôi không thể nào chịu nổi sự đau khổ… Khi bạn bị bắt làm con tin trong hoàn cảnh không ngừng bị xỉ nhục thì bạn chỉ có hai con đường. Một là trở nên cay đắng, tràn ngập hận thù hoặc là theo con đường của Chúa Giêsu" mà con đường của Chúa là, "hãy chúc lành cho kẻ thù." Bà nói chính sự khôn ngoan đó đã giúp bà không bị hao tổn vì căm thù kẻ giam cầm và bực tức với hoàn cảnh khó khăn của bà.
"Chúc lành cho kẻ thù," điều đó thật không dễ. Nhưng bà cho biết, mỗi khi bà đọc Kinh Thánh, câu "hãy chúc lành cho kẻ thù" dường như lại xuất hiện ngay trong đầu, và bà có cảm tưởng như Chúa Giêsu đứng ngay trước mặt để khuyến khích bà hãy sống lời Chúa dậy. Với một kẻ thù tàn nhẫn như vậy, bà chỉ muốn chúc dữ cho họ hơn là chúc lành. Nhưng khi bà thực sự sống lời Chúa, bà cho biết lời ấy như có phép thần thông, bà nói, "Tôi cảm nhận được một loại khuây khỏa nào đó. Sự hận thù bỗng dưng tan biến… Tôi cảm thấy có sự biến đổi ngay trong tâm hồn và tôi biết sự thay đổi đó là nhờ lắng nghe điều mà Chúa muốn cho tôi. Đó là một loại đối thoại liên tục với phúc âm."
Nói về sự cứu thoát, ngay sau khi bị bắt bà Betancourt đã xin Chúa cứu thoát. Và có thể nói bà mòn mỏi chờ đợi một phép lạ. Nhiều khi bà cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng chính trong thời gian tù đầy, bà mới đọc Kinh Thánh và đã đọc hàng ngày, nhờ đó, bà thấy được ý nghĩa của điều bà xin. Bà trích lời Thánh Phaolô nói, "Bạn có thể xin bất cứ gì bạn muốn nhưng Thần Khí biết bạn thực sự cần điều gì."
Có thể rằng nếu Thiên Chúa cứu thoát bà ngay khi bị bắt thì đời sống đức tin của bà sẽ không thay đổi, vì bà chưa thực sự đau khổ, chưa thấy được sự phù du của cuộc đời, chưa có thời giờ để đọc Kinh Thánh để thấy được các chân lý, và để nhận ra được điều thực sự cần thiết trong đời sống.
Tương tự như các tông đồ chỉ được Chúa xuất hiện sau hơn sáu giờ đồng hồ vật lộn với sóng gió, Chúa Giêsu cũng chỉ đến với bà Betancourt sau gần sáu năm rưỡi với đủ mọi nhục nhã, đau khổ, và đặc biệt là sau khi bà tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Nhờ đài Radio Maria (đài phát thanh Công Giáo quốc tế) thì bà mới biết tháng Sáu là tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, và bà đã dâng lời cầu nguyện như sau: "Lậy Chúa Giêsu, con chưa bao giờ xin Chúa điều gì cả, bởi vì con quá xấu hổ trước sự vĩ đại của Ngài, con quá xấu hổ để van xin, nhưng bây giờ con xin Chúa một điều rất đặc biệt. Con không biết chính xác thế nào là tận hiến cho Thánh Tâm Chúa, nhưng nếu Chúa nhận lời con, trong tháng Sáu này, con sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa." Vào ngày 27 tháng Sáu bà được cứu thoát. Bà nói, "Tôi nghĩ Chúa thật đúng giờ… Chúa Giêsu đã giữ lời hứa. Và tôi được cảm nghiệm một phép lạ." 2
Trong bài phúc âm hôm nay ông Phêrô đã được cảm nghiệm một phép lạ: ông có thể đi trên mặt nước một cách lạ lùng như Thầy của mình mà không bị ảnh hưởng bởi các quy luật tự nhiên. Và nếu để ý, chúng ta thấy ông Phêrô có thể đi trên mặt nước khi mắt ông chỉ nhìn đến Chúa Giêsu. Khi ông để ý đến sóng to gió lớn, mắt ông không còn nhìn đến Chúa nữa thì ông đã muốn chìm.
Đức tin cũng giúp chúng ta vượt qua những sóng gió của cuộc đời nhưng với một điều kiện: con mắt đức tin phải nhìn đến Chúa Giêsu. Thực tế đời sống cho thấy đây là điều có thật. Thứ Sáu vừa qua, một tai nạn đã xảy ra cho chiếc xe buýt chở 54 người Công Giáo Việt Nam đi tham dự đại hội Thánh Mẫu ở Missouri, và đã khiến trên 15 người chết và nhiều người bị thương. Cho đến bây giờ thì người ta biết được nguyên do xe lật là vì bánh xe trước, bên phải bị nổ. Và bánh xe nổ là vì hãng xe buýt cầu thả không tuân theo các quy luật an toàn, nên thay vì dùng bánh xe đúng tiêu chuẩn, họ đã dùng bánh xe đã được biến chế lại.
Qua biến cố này, người không có đức tin cười nhạo chúng ta. Họ cho rằng nếu có Thiên Chúa thì tại sao những người đạo đức này lại phải chết khi đi tham dự một sinh hoạt đạo đức? Đức tin dậy chúng ta rằng cái chết không chấm dứt sự sống của chúng ta, mà nó chỉ là sự thay đổi. Qua ngưỡng cửa sự chết, chúng ta đi vào một thế giới hoàn toàn khác biệt mà chỉ có một mình Đức Giêsu, là người đã chết đi và đã sống lại, mới biết được thế giới ấy là gì, ai làm chủ thế giới ấy. Đối với chúng ta, là những người có đức tin, qua biến cố này, chúng ta thấy vì sự thiếu trách nhiệm của một người mà đã gây đau khổ cho nhiều người. Vì tội lỗi của một người mà nhiều người phải gánh chịu hậu quả. Điều quan trọng ở đây là nhờ đức tin, chúng ta không hận thù, không cay đắng, không giận dữ, nhưng chấp nhận tất cả những bất hạnh xảy ra vì các quy luật tự nhiên, và tin rằng đức tin không làm mất đi những sóng gió cuộc đời, nhưng đức tin đã đem lại một ý nghĩa cho sự đau khổ, và chính ý nghĩa đó đã giúp chúng ta có một hướng đi, có một lối sống thuận lợi và nhất là giúp chúng ta chỗi dậy mau hơn sau những bất hạnh trong đời sống.
Điểm sau cùng, chúng ta học được nơi Thánh Phêrô là ngay khi vừa bị chìm thánh nhân đã vội kêu cầu Chúa, "Chúa ơi cứu con!" và Chúa đã đưa tay kéo ông lên. Nên nhớ rằng ông Phêrô là người thuyền chài, không dễ bị chết đuối như những người không biết bơi, nhưng vừa bị chìm, ông đã biết kêu cầu đến Chúa. Chúng ta cũng phải khiêm tốn, đừng ỷ vào sức của mình mà ngụp lặn trong sóng gió cuộc đời, vì rất có thể vào lúc chúng ta cần đến ai đó để bám víu thì hình ảnh của Chúa Giêsu không còn rõ ràng nữa mà tất cả chỉ là ảo ảnh.
Xin Thánh Phêrô cầu bầu cho chúng ta để luôn vững tin vào Chúa Kitô, Người “thực sự là Con Thiên Chúa.”