BÌNH DÂN & THỰC TẾ
âu chuyện trong bài Phúc Âm hôm nay xảy ra ở một thời điểm mà đa số dân chúng Do Thái thời bấy giờ sống về nghề chăn nuôi và trồng trọt. Do đó, chúng ta, là những người sống ở thành thị ở thế kỷ 21, không thể mường tượng ra được thế nào là nghề chăn chiên, và vì vậy hình ảnh mục tử--người chăn chiên--cũng khó tạo được một ấn tượng trong đầu óc chúng ta, đó là chưa kể ở Việt Nam, người ta thường nuôi bò, nuôi heo, hơn là nuôi chiên như ở các nước Trung Đông.
Tổng quát, đàn chiên phải có người chăn và tối đến các mục tử lùa chiên về các chuồng: chuồng riêng hay chuồng công cộng. Chuồng công cộng được thiết lập trong mỗi làng để đề phòng trộm cướp và thú dữ, dĩ nhiên có người gác cổng. Người này biết ai là mục tử, do đó chúng ta mới hiểu được câu nói của Chúa Giêsu: "Ai không đi qua cổng mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Còn ai đi qua cổng mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cổng mở cho anh ta vào".
Thế nhưng trong phần thứ hai của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu lại nói rằng "Tôi là cổng chuồng chiên. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu vớt. Kẻ ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ ...". Chúng ta phải hiểu câu này như thế nào?
Khi nói câu này, Chúa Giêsu muốn đề cập đến loại chuồng riêng, đó là khi mục tử đưa chiên đi ăn xa và không kịp về làng khi trời tối thì họ lùa chiên vào một khoảng đất kín được bao bọc bởi tường hay vách đá hay bụi cây, và cổng chỉ là các bụi cây ở hai bên, nên người chăn chiên phải nằm chắn lối vào ban đêm để chiên không ra được và trộm cũng không vào được. Nói cách khác, người chăn chiên vừa là mục tử và vừa là cổng chuồng chiên, và đó là hình ảnh trọn vẹn của Chúa Giêsu: Người là "cổng" của Nước Trời, và trong chuồng chiên--hình ảnh của Giáo Hội--Chúa dẫn dắt chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng lời Chúa và các bí tích, nhất là bí tích Mình Máu Thánh Chúa.
Bài phúc âm hôm nay cho thấy có hai hình ảnh có vẻ mâu thuẫn: thứ nhất là về Chúa Giêsu. Chúa dùng câu chuyện này để ám chỉ về chính Chúa Giêsu, vừa là người chăn chiên, vừa là cổng chuồng chiên. Mâu thuẫn ở điểm, người chăn chiên thì sống động, nhân bản trong khi cổng chuồng chiên là vật chất không có hồn và cố định.
Chúng ta cũng có thể hiểu cổng ở đây là những điều răn, nghi thức (rửa tội, thêm sức, rước lễ, v.v.), là những gì hoàn toàn hình thức, mà nhiều khi chúng ta cảm thấy ngột ngạt vì bị đóng khung trong khuôn khổ đến độ nhiều khi vô nghĩa.
Khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, nhiều người cũng không thích các nghi thức này nọ. Nhiều người cho rằng tại sao "tôi phải đến nhà thờ vì Chúa ở khắp mọi nơi?" "Tại sao tôi phải đi xưng tội với một ông cha, tôi xưng tội với Chúa được rồi?" "Tại sao tôi lại phải xin Giáo Hội cho vô hiệu hóa hôn nhân trong khi chúng tôi đã ly dị theo tòa đời?" v.v.
Ngược lại, một số người khác lại cho rằng để được ơn cứu độ thì chỉ cần tuân theo một số lề luật, một số nghi thức, đủ để "lọt vào" chuồng chiên là được. Tuy nhiên, khi "giữ đạo" như thế chúng ta đã mất đi cơ hội tốt đẹp để biết đến Vị Mục Tử, để thấy được ý nghĩa cuộc đời, và để gặp được "đồng cỏ xanh tươi" ban cho chúng ta "sức sống dồi dào." Nói cách khác, khi "giữ đạo" như thế, chúng ta sẽ thấy tôn giáo là một cái gì khô khan, vô hồn, thiếu nhân bản, không còn là sự gặp gỡ đầy thân tình giữa con người và Thiên Chúa, mà đại diện là Chúa Giêsu, qua sự cầu nguyện, tâm tình hàng ngày.
Ngoài ra chúng ta nên nhớ rằng Chúa tự đồng hóa với "cổng chuồng chiên", điều đó có nghĩa Chúa không xoá bỏ các hình thức căn bản cần thiết mà qua các hình thức đó chúng ta mới gặp được Vị Mục Tử Nhân Lành, là một con người có sức sống, có sự cảm thông, và muốn được giao tiếp với chúng ta là "đàn chiên."
Mâu thuẫn thứ hai là về giới thính giả: thành phần bình dân, mù chữ, đa số sống về nghề chăn nuôi hay trồng trọt, thì lại hiểu lời Chúa dễ dàng hơn là những người có học thức, tiêu biểu là giới biệt phái, luật sĩ và tư tế (*).
Sự mâu thuẫn này rất phổ thông trong Phúc Âm. Chúng ta thấy hầu hết các tông đồ là những người ít học. Những người theo Chúa Giêsu thời bấy giờ nhiều nhất là những người bình dân chứ không phải giới luật sĩ, biệt phái hay tư tế. Điều gì khiến người bình dân lại tin tưởng vào Chúa Giêsu dễ dàng hơn người có học thức?
Đoạn phúc âm hôm nay tiếp nối ngay sau đoạn Chúa Giêsu chữa lành cho một người mù bẩm sinh, và rồi sau đó anh ta bị chất vấn kịch liệt bởi người Pharisiêu như chúng ta được nghe trong Chúa Nhật IV mùa Chay vừa qua (Gioan 9), vì vậy chúng ta có thể dùng trường hợp của anh mù để giải thích cho thái độ của người bình dân ít học.
Trước hết, người bình dân là những người chất phác, bảo sao nghe vậy. Sau khi Chúa Giêsu lấy nước miếng trộn với đất xức vào mắt anh rồi nói anh đến hồ Silôam mà rửa, anh đã nghe theo và được sáng mắt. Anh không lý luận về giá trị của nước hồ Silôam, "tại sao phải đến đó? Dùng nước ở nhà không được hay sao?" Người chất phác thì bảo sao nghe vậy.
Kế đến, đối với người bình dân, thực tế có giá trị hơn lý thuyết. Anh mù tin tưởng vào Chúa Giêsu là vì chính anh đã cảm nghiệm một thực tế lạ lùng mà không có một lý lẽ nào có thể giải thích được. Người bình dân tin vào những gì có thật chứ không tin vào lý thuyết suông. Họ theo Chúa Giêsu là vì những gì Người làm hay nói đều có một giá trị thực tế. Chúng ta thấy các phép lạ của Chúa Giêsu đều va chạm đến thực tế đời sống con người, tỉ như các phép lạ chữa lành, phép lạ bánh và cá hóa nhiều để nuôi hàng ngàn người ăn. Không những thế, ngay cả phép lạ Thánh Thể, nhiều người tưởng rằng đó chỉ có giá trị biểu tượng, nhưng sự thật bánh và rượu trở thành Thực Phẩm cụ thể để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.
Trong phúc âm chúng ta cũng thường thấy Chúa Giêsu đụng chạm với giới biệt phái, tư tế, luật sĩ chỉ vì Người rất thực tế. Có lẽ, giống như Chúa Giêsu, người bình dân thời xưa cũng thắc mắc: tại sao lại phải tuân giữ một lề luật cứng ngắc mà không có lợi gì cho đời sống con người? Tại sao không được làm việc xác ngày Sabát trong khi có người đau bệnh, cần được cứu chữa? Chẳng lẽ lòng thương người không thể vượt lên trên được lề luật hay sao? Chính vì vậy, mà Chúa Giêsu thường bị giới biệt phái lên án là không tuân giữ luật Môsê khi cứu chữa người ta vào ngày Sabát.
Ngày nay chúng ta cũng thấy người bình dân ít học thì dễ dàng tin Chúa và theo Chúa hơn là những bậc thông thái mà chúng ta thường gọi là khoa học gia.
Có câu chuyện giữa một người bình dân mới trở lại đạo và một người bạn--ông này không tin vào Chúa. Ông này hỏi: "Vậy anh đã trở lại với ông Giêsu à?" – "Phải." – "Chắc là anh phải biết nhiều về ông Giêsu, vậy anh nói cho tôi biết ông ấy sinh ra ở đâu?" – "Tôi không biết." – "Ông Giêsu chết khi bao nhiêu tuổi?" – "Tôi không biết." – "Ông Giêsu giảng bao nhiêu bài?" – "Tôi không biết." – "Anh không biết nhiều về ông Giêsu, tại sao anh lại đi theo ông ấy?" Người tân tòng trả lời: "Anh nói đúng. Tôi thật xấu hổ vì không biết nhiều về Chúa Giêsu. Nhưng tôi thấy rằng, ba năm trước tôi là người nghiện rượu. Gia đình tôi mang nợ đến độ sắp đổ vỡ. Mỗi khi tôi đi làm về, vợ con tôi đều sợ hãi. Nhưng bây giờ, Chúa bảo sao tôi làm vậy. Tôi không còn uống rượu nữa, vì vậy tôi không còn mắc nợ nữa, và bây giờ gia đình chúng tôi rất hạnh phúc. Tất cả những điều này là Chúa Giêsu làm cho tôi. Tôi chỉ biết có thế." (phỏng theo Anthony de Mello, The Song of the Bird, 112).
Tâm trạng của người tân tòng này tiêu biểu cho tâm trạng của nhiều người trong chúng ta hôm nay. Có lẽ chúng ta cũng không thể giải thích một cách rành mạch về Kitô Giáo, về mầu nhiệm nhập thể, về sự hiện hữu của Thiên Chúa, v.v. nhưng chúng ta theo Chúa là vì cảm nhận được những ơn lành có thực trong đời sống. Nếu chúng ta nhìn lại cuộc đời của mình với những biến cố được gọi là lạ lùng, có lẽ ai ai trong chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng có bàn tay quan phòng của Thiên Chúa để giúp đỡ chúng ta. Đó là những ơn lành có thực trong đời sống.
Nói như thế cũng có nghĩa, nếu cho đến ngày nay, sau một thời gian theo Chúa--dù ngắn hay dài--mà chúng ta vẫn chưa có hạnh phúc, vẫn chưa có bình an trong tâm hồn, trong gia đình, trong xã hội hay ngoài thương trường, có lẽ chúng ta cần nhìn lại đời sống đức tin của mình.
Có một nông dân ở bên Úc bị cảnh sát bắt vì bị tố cáo là đã ăn cắp một con chiên, nhưng ông ta nói rằng đó là con chiên ông bị lạc mất mấy ngày. Khi ra toà, quan tòa bối rối vì không biết phải xử như thế nào. Sau cùng, ông tòa yêu cầu đem con chiên vào phòng, rồi ông ra lệnh cho nguyên cáo đi ra khỏi phòng xử và đứng ở đó mà gọi con chiên xem nó có theo ông ta không. Thế nhưng con chiên không phản ứng gì cả, mà lại dường như có vẻ sợ hãi. Sau đó ông tòa ra lệnh cho bị cáo (người nông dân) đi ra ngoài sân và gọi con chiên. Khi nghe tiếng gọi, con chiên vểnh tai lên nghe ngóng và từ từ đi ra khỏi tòa. Hiển nhiên là nó đã nhận ra tiếng chủ. Quan tòa phán "Con chiên của ông ta biết ông ta. Vụ án được bãi bỏ!"
Câu chuyện trên giúp chúng ta hiểu thêm về bài phúc âm hôm nay. Nếu chúng ta thực sự là người theo Chúa thì chúng ta phải nghe được tiếng Chúa, phải nhận ra được tiếng nói của Người. Và đó là lý do chúng ta tham dự các lớp giáo lý, đọc Phúc Âm, đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ hàng tuần. Tuy nhiên, để cảm nhận được ơn Chúa trong đời sống, mỗi người chúng ta còn phải trở nên đơn sơ và chất phác trong ý nghĩa "Chúa bảo sao thì hãy làm như vậy" (Gioan 2:5).
Chúa Nhật hôm nay, Giáo Hội cũng kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho ơn thiên triệu, nghĩa là cầu xin cho có thêm nhiều người hy sinh để phục vụ Chúa và Giáo Hội qua chức thánh hay qua đời sống tu sĩ nam nữ. Và chúng ta không chỉ xin cho có thêm nhiều người đi tu mà hàng tuần, trong phần Lời Nguyện Giáo Dân, chúng ta cũng phải tiếp tục cầu nguyện cho hàng giáo sĩ ở khắp nơi trên thế giới để họ cố gắng trở nên mục tử nhân lành theo gương Chúa Giêsu.
Đối với hàng giáo sĩ, có một điều quan trọng chúng ta cần nhớ: các giáo sĩ vẫn là con người, họ vẫn bị cám dỗ như chúng ta. Đừng nghĩ rằng họ là thánh sống và quá tôn sùng họ đến độ chúng ta không dám gần gũi, không dám trò chuyện, và kể cả không dám cầu nguyện cho hàng giáo sĩ!
Tôi để ý thấy trong phần Lời Nguyện Giáo Dân của người Việt, ít khi chúng ta "dám" cầu cho hàng giáo sĩ được vững đức tin, được tâm hồn quảng đại, được tinh thần học hỏi, thực sự khiêm tốn, v.v., vì hình như chúng ta cho rằng các giáo sĩ đã đầy đủ, đã trọn vẹn! Nhưng trong tiếp xúc thực tế, hay trên báo chí hay internet, chúng ta thấy có những tin tức thật buồn về hàng giáo sĩ. Điều đó cho thấy họ chỉ là con người như chúng ta, và rất cần đến sự cầu nguyện của chúng ta để trở nên một người đơn sơ và chất phác.
Nói cách khác, chúng ta nên có một cái nhìn quân bình về hàng giáo sĩ. Nếu không, chúng ta dễ mất đức tin, dễ thất vọng khi thấy những giáo sĩ, tu sĩ nam nữ bê bối bị đưa ra tòa, hay bị vạch trần trên báo.
Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin để mỗi người chúng ta trung thành lắng nghe Chúa Giêsu, là Mục Tử duy nhất, và xin cho Giáo Hội có thêm những giáo sĩ, tu sĩ thực sự yêu mến Chúa và tha nhân để can đảm hy sinh cho Nước Trời.
Pt Giuse Trần Văn Nhật
* Theo trang web của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đoạn này viết như sau: "Although Jesus used this figure of speech, the Pharisees did not realize what he was trying to tell them" (http://www.usccb.org/nab/readings/041308.shtml). Trong khi bản dịch tiếng Việt không nói rõ là người biệt phái.