LỜI HY VỌNG
ôm nay là chúa nhật cuối cùng trong mùa Phục Sinh, và tuần tới chúng ta sẽ mừng lễ Thăng Thiên, có nghĩa Chúa Giêsu sẽ không còn hiện diện với chúng ta trong một thân xác có thể thấy được, bởi vậy, ngay từ tuần qua, Giáo Hội đã dùng các đoạn phúc âm có tính cách từ giã được trích từ Phúc Âm Gioan viết về bữa Tiệc Ly, thay vì các bài nói về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể tạm gọi các đoạn phúc âm đó là "di chúc" của Chúa Giêsu.
Nói về di chúc, có câu chuyện thú vị của anh Eduardo Sierra. Theo tin của tờ báo Bild, anh Eduardo, 35 tuổi, là người Công Giáo Tây Ban nha, nhân chuyến du lịch sang Thụy Điển, anh đã ghé thăm một nhà thờ bỏ hoang trong thành phố Stockholm. Điều đặc biệt trong nhà thờ này là có một bình đựng hài cốt của một người quá cố nào đó, và trước bình hài cốt có một cuốn sổ với dòng chữ: "Ai cầu nguyện cho người quá cố này xin ghi tên và địa chỉ vào cuốn sổ".
Đã bao nhiêu người đến đây, đã bao nhiêu người đọc dòng chữ này nhưng không một ai muốn cầu nguyện cho người quá cố xa lạ ấy bởi thế cuốn sổ vẫn trắng tinh. Nhưng anh Eduardo động lòng thương và quyết định cầu nguyện cho người quá cố này. Anh là người đầu tiên ghi tên cũng như địa chỉ vào cuốn sổ.
Hai tuần sau khi trở về Tây Ban Nha, anh nhận được một lá thư từ Thụy Điển cho biết anh được hưởng trọn gia tài của ông Jens Svenson, khoảng 2 triệu Mỹ kim. Ông này chính là người quá cố mà hài cốt được đặt trong ngôi nhà thờ bỏ hoang ấy. Ông là một nhà địa ốc từ trần khi 73 tuổi và không có thân nhân nên ông đã viết trong di chúc rằng: "Bất cứ ai cầu nguyện cho linh hồn tôi thì sẽ được thừa hưởng tất cả gia tài của tôi".
(Theo lời kể của Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài [Nhật báo Bild tại thành phố Hamburg, số ra ngày 3 tháng 10 năm 1996])
Số tiền hai triệu đô la không phải nhỏ, và nó nói lên khát vọng của một người sắp từ trần là có ai đó nhớ đến mình và cầu nguyện cho mình. Có lẽ đó cũng là tâm trạng bình thường của mọi người ở trần gian trước khi chết. Chúng ta muốn được người thân yêu: vợ/chồng con cháu, và bạn hữu còn nhớ đến chúng ta để cầu nguyện cho chúng ta sau khi chết. Và nếu chúng ta có thiếu nợ ai, hay đối xử bất công với ai thì có lẽ chúng ta sẽ dặn dò người thân yêu là hãy tìm cách trả nợ, đền bù cho sự bất công ấy. Bởi vì sau khi chết rồi, chúng ta không còn làm gì được nữa, không còn cơ hội để chuộc lại lỗi lầm của mình và sẽ phải đối diện với một Thiên Chúa vô cùng công bằng. Điều đó có nghĩa chúng ta phải đền bù cho sự bất công của mình bằng một hình thức luận phạt nào đó.
Với tâm trạng ấy, chúng ta thử nhìn lại "di chúc" của Chúa Giêsu, được ghi lại rất chi tiết trong Phúc Âm Gioan (từ chương 14 đến chương 17) mà chúng ta được nghe các đoạn trích trong chúa nhật tuần trước và tuần này.
Điều đầu tiên chúng ta thấy ngay là di chúc của Chúa Giêsu không phải là di chúc của một người chết, mà là của người sống.
Trong Phúc Âm tuần trước Chúa Giêsu cho biết Người "sẽ đi dọn chỗ" cho các môn đệ vì "trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không có chỗ thì Thầy bảo đi dọn chỗ cho anh em để làm gì? Và nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó" (Gioan 14: 2-4).
Trong lịch sử nhân loại, không có người nào biết mình sắp chết mà dám nói những câu này, trừ phi người điên. Loài người vẫn còn bất lực trước cái chết và mãi mãi bị khuất phục bởi cái chết. Tuy nhiên, đối với Chúa Giêsu cái chết không phải là một kết thúc bi thảm, mà là một cửa ngõ, một lối mở ra để mọi người đi vào một thế giới mới, mà trong đó họ phải đối diện với định mệnh của mình để trả lời cho cuộc sống trần gian của mình.
Điểm đặc biệt thứ hai của "di chúc" Chúa Giêsu là tình thương vô bờ bến của Người.
Để thấy điểm này, chúng ta phải nhìn lại lời "di chúc" trong khung cảnh của nó. Chính trong bữa Tiệc Ly vào đêm thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu đã báo trước là sẽ có "một người trong anh em phản bội Thầy", và Chúa cũng bảo với Phêrô là "Đêm nay, gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần", và quả thật khi Chúa Giêsu bị bắt thì tất cả mọi môn đệ đều bỏ chạy tán loạn, và Phêrô đã chối bỏ thầy mình không những một lần mà ba lần!
Giả như một lãnh tụ bình thường biết trước được các phản ứng tệ hại của các môn đệ khi gặp nguy nan thì ông ta sẽ nói gì trước khi bị bắt? Tôi nghĩ lời trăn trối của ông sẽ có nhiều cay đắng, nhiều trách móc, nhiều hận thù. Thế nhưng, Chúa Giêsu không phải là một người lãnh đạo bình thường, vì dẫu biết các môn đệ sẽ phản bội, sẽ bỏ rơi mình, trước khi bị bắt Chúa vẫn nói, "Thầy không để anh em mồ côi, Thầy sẽ đến với anh em. Trong một ít lâu, thế gian sẽ không còn thấy Thầy, nhưng anh em sẽ thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sống." Chúa Giêsu an ủi ngay cả những người phản bội mình, và không những thế, Người còn minh chứng bằng hành động. Điển hình là sau khi sống lại, lần đầu tiên hiện ra với các tông đồ thì Chúa Giêsu hoàn toàn không nhắc lại câu chuyện đau buồn vì bị phản bội đêm thứ Năm, Người không trách mắng ai, không cay đắng ai, mà Chúa chỉ nói "Bình an cho anh em." Lời chúc bình an có quá nhiều ý nghĩa! Ý nghĩa của sự tha thứ, ý nghĩa của sự cảm thông tính yếu đuối con người, và ý nghĩa của một Thiên Chúa giầu lòng thương xót.
Tôi thấy Giáo Hội có lý khi đưa những lời "di chúc" của Chúa Giêsu trong bữa Tiệc Ly vào giai đoạn trước khi Chúa về trời. Vì bây giờ, chỉ sau khi Chúa Giêsu phục sinh, sau khi Người chiến thắng được sự chết thì chúng ta mới thấy được ý nghĩa các câu nói đó. Hay nói cách khác, nếu không có biến cố Phục Sinh, nếu Đức Giêsu không chiến thắng được sự chết thì "lời di chúc" trong bữa Tiệc Ly hoàn toàn không có giá trị.
Có thể nói, nhờ biến cố phục sinh, "lời di chúc" đã trở thành "lời hy vọng", tràn đầy hy vọng cho những ai theo Chúa Kitô. "Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không Thầy bảo đi dọn chỗ cho anh em để làm gì? Và nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó" (Gioan 14: 2-4). "Thầy không để anh em mồ côi, Thầy sẽ đến với anh em" (Gioan 14:18).
Vì tình yêu, Chúa Giêsu luôn muốn ở với chúng ta. Trong khi chờ đợi sự xum họp với chúng ta, Chúa Giêsu đã ở lại với chúng ta trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, để thêm sức cho chúng ta, để nhắc nhở về tình yêu của Người đã dành cho chúng ta.
Qua phần trình bầy ở trên, hy vọng ông bà và anh chị em thấy được tình yêu vô bờ của Thiên Chúa. Để đáp trả tình yêu ấy, chúng ta phải làm gì? Câu trả lời ai cũng thấy là chỉ có tình cảm mới đền đáp được tình cảm. Và làm thế nào để chúng ta yêu mến Thiên Chúa? Người Việt chúng ta có câu nói rất đúng, "vô tri bất mộ", không biết thì không thể yêu mến. Muốn yêu Chúa thì chúng ta phải biết Chúa. Biết Chúa qua phúc âm, qua sách báo thiêng liêng, và qua các bài giảng hàng tuần. Các giáo sĩ chúng tôi được Giáo Hội khuyên bảo là phải chuẩn bị bài giảng ít nhất là một tuần lễ để người nghe có thể hiểu biết về Thiên Chúa nhiều hơn. Trong tuần trước, qua màn ảnh truyền hình chúng ta thấy ĐGH Bênêđíctô, một cụ già 81 tuổi nhưng vẫn chưa được nghỉ ngơi, chưa được "dưỡng lão" nhưng nhiều người trong chúng ta, mà vẫn phải hoạt động, vẫn phải đi đây đó để nói cho nhân loại biết về Thiên Chúa qua lời của Chúa Giêsu Kitô.
Yêu mến Thiên Chúa, nói cho cùng, có lẽ không khó lắm, nhưng bài phúc âm hôm nay được mở đầu và kết thúc bằng một lời khuyên có thể tóm lược là nếu chúng ta yêu mến Chúa, chúng ta phải giữ các giới răn của Người. Trong giới răn của Chúa—có thể tóm lược là "mến Chúa và yêu người"—thì phần tình yêu đối với tha nhân quả thật khó khăn, dù là đối với những người trong cùng một gia đình.
Tôi làm thông dịch viên cho khu học chánh Houston và thứ Sáu tuần qua có trường hợp của một học sinh Việt Nam lớp 9, cô ta đến nói với cảnh sát nhà trường là cô có ý định tự tử. Và nhà trường đã mời phụ huynh của cô đến dự phiên họp ngay vào sáng hôm sau. Trong phiên họp thì có cả chuyên gia tâm lý và chỉ có người mẹ của cô đến tham dự. Và sau khi được biết sự kiện về con của mình, bà đã khóc cho biết hoàn cảnh gia đình hiện tại là ông chồng đang có tình nhân, nên trong nhà không còn êm ấp như trước, cha mẹ không còn dành thời giờ cho con cái, và có lẽ đó là lý do chính mà cô học sinh này muốn tự tử.
Cách đây chừng 3 tháng, tôi cũng đi thông dịch cho trường hợp của một học sinh lớp 6 (12 tuổi). Em lấy vật nhọn và cứa vào tay mình cho đến chảy máu. Chúng bạn thấy và báo với thầy cô. Phụ huynh cũng được mời lên tham dự phiên họp với chuyên gia tâm lý để nhà trường tìm hiểu thêm lý do. Qua phiên họp, tôi thấy học sinh này cắt tay là vì uất ức với cha mẹ. Gia đình họ có một cơ sở làm ăn mà bận rộn đến độ không còn thời giờ cho con cái. Bởi đó họ đã làm một cái phòng ngay trong tiệm ở phía đằng sau. Con cái sau giờ học là sống trong phòng ấy với tất cả tiện nghi, máy truyền hình, computer, v.v. Ngoài ra chúng không được đi chơi với bạn, không được tham dự các sinh hoạt, dù là lành mạnh và chính đáng, bởi vì cha mẹ không muốn mất thời giờ.
Hai trường hợp nói trên có lẽ tiêu biểu cho rất nhiều trường hợp tương tự đang xảy ra trong xã hội Hoa Kỳ hiện nay. Vật chất và lạc thú bất chính đang phá vỡ nhiều gia đình, đang gây ra đau khổ cho mọi tầng lớp.
Hai trường hợp tôi vừa kể đều là người bên lương. Chúng ta may mắn là những người Công Giáo, hàng tuần đến nhà thờ để được nghe lời Chúa nhắc nhở để kiểm điểm lại đời sống của mình. Tuy nhiên, điều khó khăn vẫn là sống lời Chúa, thay đổi nếp sống cũ của mình, nếu không, không bao giờ chúng ta thấy được ý nghĩa của "lời hy vọng" của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.
Xin Thiên Chúa giúp sức cho mọi người chúng ta vượt qua được những yếu đuối con người để tình yêu Thiên Chúa có sức mạnh giúp chúng ta yêu thương tha nhân như chính mình.
Pt Giuse Trần Văn Nhật