rong tuần qua tôi được gặp lại một người quen, trước đây là một thầy sáu trông coi Nhà Ơn Gọi Thánh Giuse ở Houston, và bây giờ là linh mục Việt Nam làm việc ở Đài Loan đã trên 20 năm. Khi được hỏi về tình hình Công Giáo của nước Đài Loan như thế nào thì ngài cho biết số người Công Giáo ở Đài Loan rất ít, chỉ có 1.2% dân số với khoảng 700 linh mục phục vụ trên 300,000 giáo dân (http://www.catholic-hierarchy.org/country/sctw1.html). Riêng giáo xứ của ngài thì chỉ khoảng 150 giáo dân. Lý do đạo Công Giáo không phát triển nhiều ở Đài Loan là vì người Trung Hoa nói chung chịu ảnh hưởng nhiều của Khổng giáo và Lão giáo, bởi thế họ rất mê tín dị đoan. Cha cho biết ngay cả người Công Giáo mà đến ngày giỗ họ cũng còn đốt vàng mã để người chết tiêu xài ở bên kia thế giới!
Cũng theo lời ngài kể, ở Đài Loan có một ngày để các tôn giáo giới thiệu về đạo của mình, và trong ngày hội ấy, có đến hơn 60 tôn giáo và giáo phái khác nhau và họ thờ đủ mọi thứ thần. Trong khi Công Giáo đưa ra hình ảnh của Chúa Giêsu hy sinh trên thập giá thì các giáo phái khác đưa ra các thần, tỉ như thần tài, thần Quan Công, ông địa v.v., và họ thu hút được nhiều người vì ai cũng muốn giầu, muốn sung sướng. Hình ảnh Chúa Giêsu chết trên thập giá đối với họ là một hình ảnh ghê sợ đem lại xui xẻo, bởi thế ít có người muốn theo Kitô Giáo.
Qua sinh hoạt tôn giáo của người ngoài Kitô Giáo, tỉ như ở Ấn Độ hay ở Trung Hoa, chúng ta có thể thấy được một hai điểm quan trọng về tôn giáo. Thứ nhất, nếu để tự ý con người đi tìm tôn giáo thì không khác gì câu chuyện ngụ ngôn các người mù sờ voi. Người thì cho rằng con voi giống như cái ống (của vòi voi), hay giống cái quạt phe phẩy (của tai voi), hay giống như cái cột đình to lớn (của chân voi), v.v. Cũng vậy, nếu để tự ý con người đi tìm tôn giáo thì họ sẽ tưởng tượng ra đủ loại thần thánh giống như loài người để đáp ứng với nhu cầu của con người, tỉ như người Hy Lạp xưa đặt ra nữ thần sinh đẻ để phù hộ cho những bà mẹ hiếm muộn, và nhiều người Ấn Độ, dù đói nghèo vì không có thực phẩm nhưng lại không dám giết bò vì cho rằng chúng là hiện thân của thần thánh! Nhưng vấn đề là điều đó có đúng hay không, và các thần thánh ấy có đem lại hạnh phúc thực sự hay không, đó là chưa kể bản chất siêu nhiên của những người họ thờ: thần tốt hay thần dữ? Là Thiên Chúa hay ma qủy? Vả lại, là con người tự nhiên thì làm sao biết được thế giới siêu nhiên?
Chính vì vậy Thiên Chúa phải tiết lộ cho loài người biết về Thiên Chúa, đó là điểm thứ hai của tôn giáo. Tôn giáo không thể là một sản phẩm của con người mà là một chân lý được Thiên Chúa mặc khải. Đây là điểm quan trọng và là điểm phân biệt giữa các tôn giáo lớn trên thế giới.
Từ sự mặc khải của Thiên Chúa có ba tôn giáo, đó là Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo với ông tổ chung là Abraham. Nhưng ba tôn giáo này chỉ giống nhau ở phần Kinh Thánh Cựu Ước. Khi đi vào Tân Ước hay Phúc Âm thì cả Do Thái Giáo và Hồi Giáo đều không công nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, chỉ vì Đức Giêsu Kitô—một người nghèo, không quyền hành, không làm cách mạng để giải thoát dân Do Thái khỏi sự nô lệ cho đế quốc La Mã, nhưng lại chịu chết một cách tủi nhục trên thập giá—là điều mà người Do Thái cũng như Hồi Giáo không thể chấp nhận được. Đối với họ, Thiên Chúa là quyền lực chứ không phải là tình yêu. Tôn giáo đối với họ phải có sự trừng phạt ngay tự đời này, vì thế Do Thái Giáo có tục lệ ném đá người phụ nữ ngoại tình, hoặc Hồi Giáo sẵn sàng chém đầu những người bội giáo. Ở điểm này chúng ta thấy người Do Thái và Hồi Giáo lại muốn tôn giáo theo như quan điểm của loài người.
Qua hai nhận xét trên chúng ta thấy bổn phận của Kitô Hữu là tìm hiểu ý nghĩa của sự mặc khải hơn là áp đặt quan điểm của loài người lên các mặc khải. Trong bài phúc âm hôm nay, điểm chính để hiểu được lời Chúa là chúng ta phải xác định được thế nào là Nước Trời.
Nước Trời hay Vương Quốc Thiên Chúa là điều khó hiểu, bởi thế Chúa Giêsu đã đề cập đến Nước Trời gần một trăm lần trong Phúc Âm, và Người còn dùng các dụ ngôn để giải thích. Tuy vậy, ngay cả các thần học gia nổi tiếng ngày nay cũng không thể định nghĩa được một cách rõ ràng thế nào là Nước Trời, và qua lời của Chúa Giêsu, họ cho rằng Nước Trời đã khởi sự từ khi Chúa Giêsu xuống thế làm người, và Vương Quốc Thiên Chúa sẽ tiếp tục ở đời sau. Điểm cần lưu ý là chúng ta chỉ có thể hiểu Nước Trời bằng trực giác, bằng cảm nghiệm hơn là bằng trí óc.
Trong thư gửi tín hữu Rôma (14:17) Thánh Phaolô đã đưa ra ba đặc điểm của Nước Trời, đó là "chính trực, bình an và niềm vui trong Thánh Thần".
Sự chính trực, theo tiếng Hy Lạp là "dikaios", có nghĩa là vô tội và thánh thiện. Sống cho Nước Trời là sống trong sự vô tội và thánh thiện. Khi chúng ta cố gắng sống trong sạch và thánh thiện, chúng ta sẽ có được sự bình an. Và đó là đặc tính thứ hai của Nước Trời.
Bình an, tiếng Do Thái là "Shalom", có nghĩa là sự no thỏa của tâm hồn, của trí óc và thân xác. Khi chúng ta bình an là khi chúng ta no thỏa, không còn thèm khát bất cứ gì: tiền tài, danh vọng, vật chất, khoái lạc, v.v. Một người có bình an thì ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù nghèo hèn, khổ cực họ vẫn có bình an. Đây không phải là lý thuyết mà trong thực tế chúng ta thấy có những người dám đi truyền giáo ở những vùng xa xôi, nghèo khổ, tuy thiếu tiện nghi vật chất nhưng họ vẫn có bình an, và từ đó đưa đến niềm vui, đó là đặc tính thứ ba của Nước Trời.
Niềm vui trong Thánh Thần không phải là một cảm xúc chóng qua, tỉ như vui khi thấy mình giầu có hay được lợi lộc theo ý muốn, nhưng niềm vui trong Thánh Thần là một trạng thái hoan lạc của nội tâm mà không bị ảnh hưởng bởi ngoại giới nhờ ở đức tin. Một người có đức tin vững mạnh thì dù đang bệnh hoạn tật nguyền, đang trong hoàn cảnh cơ cực, đang trong thử thách lớn lao, họ vẫn có niềm vui.
Qua ba đặc điểm nêu trên, chúng ta thấy Nước Trời hệ tại ở lối sống hơn là kiểu cách thờ phượng bề ngoài. Nếu chỉ thờ phượng (đọc kinh nhiều, xem lễ nhiều) mà không cố gắng sống trong sạch và thánh thiện, chúng ta sẽ không có bình an, chúng ta vẫn còn thèm khát những gì mà người đời coi là cùng đích của cuộc đời, và rồi khi bị mất tiền, mất danh vọng, mất người thân yêu, hay bị bệnh tật, chúng ta sẽ tuyệt vọng không biết bám víu vào đâu—tương tự như một căn nhà xây trên cát, nó sẽ xụp đổ khi gặp phong ba bão táp. Và Chúa Giêsu gọi đó là những người ngu dại—những người không thực hành lời Chúa.
Tệ hơn những người ngu dại là những người lạm dụng danh Chúa, vì ngay trong phần đầu bài phúc âm hôm nay (Mt 7:21-27), Chúa Giêsu nói, "Vào ngày ấy, sẽ có nhiều người nói với Ta rằng, 'Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri? Nhân danh Chúa mà trừ quỷ? Nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?' Và rồi Ta sẽ tuyên bố với họ: 'Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!'"
Đây là đoạn phúc âm đáng để ý cho những theo Chúa Kitô. Tại sao những người nhân danh Chúa nói tiên tri, trừ qủy, làm phép lạ mà lại bị Chúa khiển trách? Chúa Giêsu có mâu thuẫn hay không khi xua đuổi những người thuộc về Chúa? Câu trả lời ở đây hệ tại ở ý định khi hành động. Ý định ấy là của ai--của riêng (cá nhân, tập thể) hay của Thiên Chúa? Hay nói cách khác, các hoạt động nhân danh Chúa để xây dựng Nước Trời hay để mưu cầu ích lợi cho riêng mình?
Ở Hoa Kỳ có nhiều mục sư Tin Lành rất nổi tiếng trên truyền hình, được gọi là "televangelist", họ đứng đầu các giáo đoàn thật lớn và thật giầu, muốn mời họ đến địa phương nào đó để diễn giảng thì không phải dễ. Theo một bài báo của ông J. Lee Grady, chủ bút của tờ Charisma, các mục sư này đòi phải được đối đãi như một siêu sao nhạc rock thì mới đến diễn thuyết, và các điều kiện ấy như sau: "Tiền thù lao phải là năm con số (>$10,000); phải đặt cọc $10,000 cho tiền xăng máy bay riêng; một chuyên viên làm móng tay móng chân và làm tóc cho mục sư; một phòng trong khách sạn hạng sang năm sao; một chiếc xe sang trọng để di chuyển từ phi trường đến khách sạn; và nước suối Perrier"1. Với các điều kiện này, chúng ta thấy những giáo đoàn nghèo thì làm sao mời được các đấng "televangelist"!
Ở Georgia Hoa Kỳ có mục sư Creflo Dollar, sáng lập giáo đoàn Christian World Changers Ministries với trên 40,000 thành viên và có văn phòng ở sáu lục địa, ông rao giảng "thần học về sự thịnh vượng" mà nhiều tín hữu Kitô thấy chướng tai. Mục sư này nói "Chúng ta thường coi sự thịnh vượng tài chánh như một điều xấu xa. Vì thế chúng ta tự động cho rằng Chúa Giêsu thì nghèo." Trong một cuộc phỏng vấn ông nói rằng, "Khi đọc Kinh Thánh, qúy vị sẽ thấy ông Abraham giầu có. Isaac và Giacóp cũng giầu. Ông Giuse cũng giầu. Vua Salomôn là một trong những người giầu có nhất thế giới. Tất cả họ là tôi tớ của Thiên Chúa. Vậy tại sao Thiên Chúa lại để cho con của Người đến thế gian mà tối thiểu không ở mức độ những tôi tớ ấy?" Ông kết luận, "Chúa Giêsu không nghèo và Chúa muốn mọi người giầu có."
Mục sư Dollar có đất đai ở Atlanta, một chung cư ở thành phố Nữu Ước trị giá $2.4 triệu và một máy bay riêng.
Ngoài mục sư Creflo Dollar, ở Hoa Kỳ còn có một vài mục sư "televangelist" khác mà hồ sơ tài chánh của họ có nhiều điều mơ hồ khiến Thượng Viện Hoa Kỳ đã phải mở cuộc điều tra trong năm qua. 2
Trong Công Giáo không phải là không có các giáo sĩ đi ngược với đường lối phúc âm. Gần đây nhất là Linh Mục Michael Jude Fay, 56 tuổi, mà năm 2006 đã phải từ chức cha sở của giáo xứ Thánh Gioan thuộc giáo phận Bridgeport, sau khi bị kết tội là thành lập các trương mục ma để chuyển số tiền đã gian lận được từ giáo xứ. Công tố viện nói rằng Cha Fay đã lấy cắp từ $1 triệu đến $2.5 triệu trong thời gian trên bẩy năm. Cuộc điều tra cho thấy cha mua sắm ở các siêu thị nổi tiếng như Saks Fifth Avenue và Nordstrom; cha lái chiếc Jaguar; mua kim hoàn ở tiệm Cartier; thuê xe limo và tài xế để chở cha và bà cố đi chơi tốn $130,000; cha ở trong các khách sạn sang trọng như Ritz Carlton, Hotel De Paris và Four Seasons Hotel. Cha xài hàng chục ngàn đô la để mua sắm bàn ghế và trả tiền các bữa ăn, và cha đã chi tiêu trên $25,000 nhân dịp kỷ niệm ngân khánh linh mục! 3
Một vài thí dụ trên cho thấy lời Chúa Giêsu tuyên bố trong bài Phúc Âm hôm nay không phải là không có lý do. Người ta sẽ lạm dụng và gây tai tiếng cho Chúa Giêsu để mưu cầu lợi ích cho riêng mình, dù là cá nhân hay cộng đoàn. Đó là tội "buôn thần bán thánh." Trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, đôi khi chúng ta cũng được nghe có các cha xứ kêu gọi giáo dân "lì xì cho Chúa Giêsu" vào ngày Tết, hay "dâng hoa cho Đức Mẹ" nhân ngày Hiền Mẫu và hoa được bán ngay trong giáo xứ.. Ở cấp giáo dân, hình thức buôn thần bán thánh phổ thông nhất là "xin lễ đời đời" để bảo đảm lên thiên đàng—chúng ta muốn dùng đồng tiền để mua ơn cứu độ thay vì sống lời Chúa và cố gắng xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian này.
Trong bài đọc một hôm nay, (Đnl 11:18, 26-28, 32), ông Môsê đã đặt trước dân Israel một sự lựa chọn: giữa sự chúc phúc và lời nguyền. Ông nói: "Anh chị em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của Thiên Chúa… Anh chị em sẽ bị nguyền rủa, nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của Thiên Chúa." Đây cũng là sự lựa chọn của chúng ta, những người theo Chúa Kitô.
Xin Thánh Justin, quan thầy của giáo xứ chúng ta, là người đã cam chịu tử vì đạo mà không thờ cúng tà thần, cầu bầu cho chúng ta được ơn can đảm khi đi theo con đường chân thật của Chúa Giêsu Kitô.