Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 10: Các Giám Mục và Đức Giáo Hoàng

M

ột vài năm trước đây khi khai giảng lớp học về chức giám mục tôi hỏi các sinh viên rằng họ nghĩ đức giám mục là ai. Sau một chút im lặng, một sinh viên giơ tay và trả lời, giám mục là người cao hơn linh mục. Cả lớp gật đồng tán thành; câu trả lời dường như bắt được ý tưởng của họ.

Là một giáo sư, tôi có nhiều cách để nói về giám mục. Tôi có thể nói về lịch sử của chức giám mục, về vị trí của các ngài trong cơ cấu giáo hội, và về bản chất cũng như giới hạn thẩm quyền của các giám mục. Tuy nhiên, sau khi trải qua các lớp nghiên cứu thần học, tôi quên đi trực giác của một người Công Giáo bình thường. Giám mục là người cao hơn linh mục. Tại sao tôi không nghĩ như thế?

Thật quan trọng để nhớ đến quan niệm này khi chúng ta khảo sát chức giám mục trong một phương cách có cơ cấu và có tính cách thần học. Đối với người Công Giáo, các giám mục hành xử như một người "đứng trên bậc thang" quyền hành, uy thế và tín nhiệm. Họ là các vị lãnh đạo của giáo hội; nhiều người giữ các vai trò lãnh đạo khác nhau, nhưng chính các giám mục, cùng với đức giáo hoàng, vị giám mục Rôma, có quyền hạn chính thức để dẫn dắt và có tiếng nói sau cùng trong những vấn đề ảnh hưởng đến toàn thể giáo hội.

Trong Chương Này

Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận về tập quyền của các giám mục, vai trò của các ngài trong giáo hội, quyền tối cao và tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng, những tranh luận mới đây, và việc nhấn mạnh đến sự khiêm tốn và phục vụ. Chương này phù hợp với chương 3 của văn kiện Lumen Gentium. Cũng có liên quan là sắc lệnh của Công Đồng Vatican II Về Văn Phòng Mục Vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội. Theo cách kết cấu của Lumen Gentium, tôi có ý trì hoãn mọi khảo sát sâu xa về cơ cấu của giáo hội Công Giáo cho đến khi chúng ta có thể thực sự cảm kích cơ cấu ấy trong khung cảnh tổng quát hơn về mầu nhiệm của giáo hội và sự liên hệ của chúng ta với các tín hữu Kitô Giáo khác. Tôi hy vọng rằng giờ đây chúng ta đã sẵn sàng.

Thẩm Quyền Đối Với Các Giám Mục

Một điều tiên quyết trong chương trình nghị sự của Công Đồng Vatican II là làm sáng tỏ vai trò của các giám mục. Công Đồng Vatican I đã tuyên bố tính cách tối cao và tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng, nhưng công đồng này không thể hoàn tất việc bàn thảo về các giám mục vì cuộc chiến Pháp-Phổ đã buộc công đồng phải chấm dứt cách vội vã. Đây là một lý do tại sao sự hiểu biết về thẩm quyền đức giáo hoàng dường như bị người Công Giáo thổi phồng quá đáng: Vì không có sự hiểu biết nào về thẩm quyền chức giám mục để quân bình lại sự tương quan này. Công Đồng Vatican II cần đặt lại sự tương quan một cách đúng đắn.

Trong khi tái xác định giáo huấn của Công Đồng Vatican I về quyền tối cao và tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng, Lumen Gentium đưa ra ý niệm về tập đoàn tính. Các giám mục tạo thành một nhóm kiên định hoặc một tập đoàn. Tập đoàn giám mục này là sự tiếp nối với mười hai tông đồ mà Đức Giêsu đã sai đi rao giảng Tin Mừng. Sự tiếp nối này còn được gọi là sự kế thừa các tông đồ. Đức giáo hoàng là một giám mục anh em, người đứng đầu tập đoàn này. Chức giáo hoàng được thừa hưởng từ Thánh Phêrô, là người mà Đức Giêsu đã chọn đứng đầu các tông đồ. Hiện nay có các cuộc tranh luận thần học bàn về chức giáo hoàng, liệu rằng chức vụ này phải luôn luôn đi đôi với tập đoàn giám mục hay cũng có thể, trong một ý nghĩa nào đó, hành xử cách độc lập. Tuy nhiên, những người diễn dịch văn kiện Lumen Gentium đồng ý rằng văn kiện này nhấn mạnh đến cả hai, vừa thẩm quyền tông đồ của các giám mục và vừa quyền tối cao của đức giáo hoàng.

Ngày nay "tập đoàn tính" hành xử với hai ý nghĩa. Trong nghĩa hẹp, chữ này có nghĩa là chia sẻ quyền bính giữa các giám mục và đức giáo hoàng như được chi tiết hóa trong Lumen Gentium. Trong nghĩa rộng, "tập đoàn tính" ám chỉ một chiều hướng tổng quát trong giáo hội hướng đến việc chia sẻ quyền bính trên mọi lãnh vực.

Kiểu cách của các lá thư mục vụ về hòa bình và về công bằng kinh tế mà các giám mục Hoa Kỳ mới viết trong những năm gần đây phản ánh ý nghĩa thứ hai của "tập đoàn tính." Các giám mục thành lập một ủy ban soạn thảo mà ủy ban này phỏng vấn nhiều nhà chuyên môn. Bản dự thảo đầu tiên được phân phối rộng rãi trong các giáo phận và trường đại học để xin ý kiến các người Công Giáo cũng như bất cứ ai lưu tâm. Bản dự thảo thứ hai được hình thành để đáp ứng với các đề nghị và phê bình. Bản thứ hai cũng được phổ biến như bản thứ nhất. Sau khi được sửa đổi, bản sau cùng được đưa lên các giám mục phê chuẩn. Nhiều người Công Giáo Hoa Kỳ nghĩ rằng tinh thần tập đoàn phản ánh trong tiến trình này phải trở nên một khuôn mẫu cho cách hành xử quyền bính trong toàn thể giáo hội.

Tập đoàn tính thì khác với dân chủ tính và quân chủ tính. Một ông vua độc đoán có thể hỏi ý kiến người khác nhưng không buộc phải nghe theo ý kiến ấy. Trong chế độ dân chủ đại nghị, tiếng nói của dân là tiếng nói sau cùng, và bất cứ đại biểu nào không phản ảnh ý muốn của đa số thì đều có thể bị bỏ phiếu cách chức. Trong tập đoàn tính của Công Giáo, vị đứng đầu một tập đoàn hay tập thể nắm quyền phải chịu trách nhiệm sau cùng về những gì họ đã quyết định, nhưng được cho rằng họ đã tham khảo ý kiến người khác để những gì được bày tỏ thì không còn là ý kiến cá nhân nhưng là đức tin của giáo hội. Khi một vị lãnh đạo được bảo rằng họ không hành động theo phương cách tập đoàn, điều đó có nghĩa họ không tôn trọng ý kiến của người khác.

Giám Mục như Tư Tế, Ngôn Sứ, Vua

Chương Dân Chúa của Lumen Gentium công bố rằng mọi Kitô Hữu được dự phần trong ba sứ vụ của Đức Kitô là Tư Tế, Ngôn Sứ, và Vua. Phương cách đặc biệt mà các giám mục dự phần trong sứ vụ này thì qua việc thánh hóa, giảng dạy và lãnh đạo. Như Đức Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể để tưởng nhớ sự sống, sự chết và sự sống lại của Người, thì vị giám mục cũng thay thế Đức Kitô trong giáo phận và có trách nhiệm ban phát Thánh Thể và các bí tích khác. Như Đức Giêsu giảng dạy trong các dụ ngôn và rao giảng về sự ngự đến của nước trời, thì vị giám mục cũng có trách nhiệm giảng dạy và rao giảng phúc âm. Như Đức Giêsu hướng dẫn các môn đệ và hình thành một cộng đoàn để tiếp tục cho đến ngày nay, thì vị giám mục cũng có trách nhiệm là người lãnh đạo chính thức của giáo phận.

Thừa Tác Vụ của Giám Mục

  • Tư Tế ===> thánh hóa, ban bí tích
  • Ngôn Sứ ===> giảng dậy, loan truyền tin mừng phúc âm
  • Vua ====> cai quản, hướng dẫn

Cùng với đức giáo hoàng là đầu, tập đoàn giám mục có thẩm quyền trên toàn thể giáo hội Công Giáo. Khi các giám mục được đề cập đến một cách đặc biệt về quyền giảng dạy của họ, cũng cùng với đức giáo hoàng, các ngài được coi là huấn quyền (magisterium). Như vậy, huấn quyền là thẩm quyền được hành xử bởi những người có trách nhiệm giảng dạy chính thức của giáo hội. Hình thức phát biểu cao nhất của huấn quyền là các tuyên bố ex cathedra (từ ngai tòa) của đức giáo hoàng và các xác định chính thức của các công đồng chung. Huấn quyền cũng được thấy trong các trường hợp sau: Khi có sự thoả thuận chung của các giám mục ngay cả khi các ngài không tụ họp trong công đồng; trong các giáo huấn của công đồng biểu trưng cho các giám mục; và trong các văn kiện của các văn phòng Tòa Thánh sau khi được đức giáo hoàng phê chuẩn.

Đứng riêng rẽ, vị giám mục là đầu của một giáo phận. (Vị tổng giám mục là đầu của một tổng giáo phận, được coi như trung tâm cho các giáo phận trong vùng). Không một giám mục nào (ngoại trừ đức giáo hoàng) có thẩm quyền trên toàn thể giáo hội hoặc trên bất cứ giáo phận nào khác với giáo phận của chính ngài. Tuy nhiên, vị giám mục có toàn quyền trong giáo phận của ngài. Thẩm quyền này thì thích hợp với chức vụ là một người kế vị các tông đồ, và bởi thế vị giám mục không chỉ là người đại diện cho đức giáo hoàng.

Thẩm Quyền Đối Với Đức Giáo Hoàng

Quyền tối cao của đức giáo hoàng có nghĩa, vì chức vụ của ngài, đức giáo hoàng là đầu của giáo hội. Trong lịch sử giáo hội, đã có sự tranh luận rằng, không lẽ một công đồng đại kết đại diện cho toàn thể giám mục cũng không tạo thành thẩm quyền tối cao của giáo hội hay sao. Trong Công Giáo La Mã, vấn đề này đã được ổn định với đặc ân dành cho đức giáo hoàng. Để bênh vực cho lập trường này, người ta thường đưa ra đoạn Kinh Thánh mà trong đó Đức Giêsu chọn Thánh Phêrô đứng đầu mười hai tông đồ, cũng như truyền thống lâu đời và phức tạp của vai trò lãnh đạo của vị giám mục ở Rôma. Một trong những mục đích chính của chức vụ giáo hoàng là để hành xử như nguồn hợp nhất của mọi Kitô Hữu; không may, thật cay đắng, đối với nhiều người Tin Lành, giáo triều lại là một trở ngại lớn cho sự hợp nhất.

Các thần học gia đương thời không đồng ý về mức độ sâu rộng mà một giáo hoàng buộc phải hỏi ý kiến của các giám mục và của toàn thể giáo dân khi ngài quyết định, nhưng văn kiện Lumen Gentium nói rõ rằng đức giáo hoàng không phải là một nhà độc tài không bị giới hạn về thẩm quyền. Thí dụ, học thuyết về tính bất khả ngộ. Nói rằng đức giáo hoàng bất khả ngộ điều đó không có nghĩa đức giáo hoàng không bao giờ sai lầm trên phương diện cá nhân. Tính bất khả ngộ chỉ đề cập đến khả năng chính thức của đức giáo hoàng để khẳng định một giáo huấn là chân lý và như vậy, đối với người tín hữu Công Giáo, vấn đề coi như đã ổn định. Trên thực tế, rất ít giáo huấn được một vị giáo hoàng chính thức xác định là không thể sai lầm.

Ơn bất khả ngộ của giáo hội được dùng như một dụng cụ khi đức tin của các tín hữu cần sự hỗ trợ đặc biệt hay khi các điều tin tưởng sai lầm đang làm nguy hại đến giáo huấn căn bản của giáo hội. Ai sẽ là người quyết định về các vấn đề khẩn trương đang đe dọa sự hiệp nhất của giáo hội? Người Công Giáo nói rằng, chính đức giáo hoàng là người có thẩm quyền chính thức, dựa trên nền tảng Kinh Thánh, để quyết định những vấn đề như vậy. Một cách căn bản, tất cả những gì về tính bất khả ngộ thì chỉ có thế.

Khi Lumen Gentium nhấn mạnh rằng các xác định không thể sai lầm của đức giáo hoàng thì đúng sự thật vì đức giáo hoàng đã nói như vậy, chứ không phải vì sự chấp thuận của những người khác, điều đó có nghĩa, chính chức vụ của đức giáo hoàng là thẩm quyền tối cao của giáo hội Công Giáo. Nếu bởi giáo luật, đức giáo hoàng cần có sự phê chuẩn của người khác thì những người ấy sẽ tạo thành một thẩm quyền cao hơn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa sự tán thành của người khác thì hoàn toàn bị coi thường.

Cha Francis Sullivan, S.J., một chuyên gia về cơ cấu thẩm quyền trong giáo hội, đã đưa ra một giải thích về vấn đề này trong cuốn Magisterium của ngài. Giả như ngày mai, đức giáo hoàng xuất hiện với một công bố về đức tin mà ngài cho là không thể sai lầm, nhưng phần lớn người Công Giáo trên toàn thế giới đều tẩy chay. Liệu văn kiện Lumen Gentium có nói rằng đức giáo hoàng thì đúng và những người bất đồng ý phải thay đổi ý kiến hay không? Cha Sullivan cho rằng hai trường hợp có thể xảy ra.

Trường hợp thứ nhất là đức giáo hoàng đúng và như thế các giáo dân phải thay đổi lập trường để hài hòa với ngài. Cha Sullivan đưa ra một thí dụ mà phải mất đến năm mươi năm thì giáo huấn của công đồng Nicea--trong đó nói rằng Đức Giêsu "làm một với Đức Chúa Cha"--mới được mọi người chấp nhận như một phương cách để chống với lạc giáo Arian là những người từ chối thiên tính của Đức Kitô. Như thế, nếu ngày nay người ta chấp nhận giá trị của công đồng Nicea thì người ta cũng phải chấp nhận điều có thể xảy ra là vị lãnh đạo giáo hội thì đúng trong khi phần lớn giáo dân thì sai.

Trường hợp thứ hai là rất có thể đức giáo hoàng thì sai, không phải vì ngài cần sự tán đồng của người khác, nhưng vì khinh suất trong tiến trình đi đến quyết định. Có một vài điều kiện được coi như hạn chế khả năng chính thức của đức giáo hoàng khi khẳng định một điều không thể sai lầm. Đức giáo hoàng phải phát biểu ex cathedra, đó là, với tư cách vị thủ lãnh chính thức của giáo hội. Ngài rõ ràng không phải là lạc giáo hay ly giáo; ngài phải có tâm trí lành mạnh và không bị ép buộc. Ngài phải xác định một vấn đề đức tin và luân lý cần thiết cho ơn cứu độ, và như thế hoặc đó là một phần trong những mặc khải của Thiên Chúa hoặc là một giáo huấn cần thiết để giải thích hoặc bảo vệ mặc khải. Cha Sullivan cũng đề cập đến các điều kiện buộc đức giáo hoàng phải quan tâm đến đức tin của giáo hội, tuy rằng các điều kiện ấy không định rõ là đức giáo hoàng phải thi hành điều này như thế nào. Như vậy, rất có thể là nếu phần đông tín hữu tẩy chay một giáo huấn mà đức giáo hoàng cho là bất khả ngộ, thì tiến trình phải xảy ra là xét xem đức giáo hoàng ấy có lạc giáo hay không, có lành mạnh không, có bị ép buộc không, hoặc có lưu ý đầy đủ đến đức tin của giáo hội hay không. Tuy nhiên, khi một giáo huấn được xác định là đúng, về phương diện kỹ thuật nó coi như được xác định bởi đức giáo hoàng, giáo huấn ấy không cần được giáo dân thị thực như thể họ tạo thành một thẩm quyền cao hơn.

Lumen Gentium chống với những nhận định quá đáng về tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng không chỉ qua việc nói lên các giới hạn nhưng còn đưa đặc tính ấy vào khung cảnh bất khả ngộ của toàn thể giáo hội. Đặc tính bất khả ngộ trước hết thuộc về giáo hội. Nó được thể hiện trong nhiều phương cách khác nhau, qua đức giáo hoàng, qua các giám mục và qua toàn thể người tín hữu. Bởi đó, Lumen Gentium nói rằng các giám mục giảng dạy không thể sai lầm khi "các ngài đồng ý về một lập trường cần được bày tỏ dứt khoát" (LG, 25). Điều này thật hiển nhiên khi các giám mục tụ họp trong một công đồng chung. Văn kiện cũng nói là "toàn thể người tín hữu, được xức dầu bởi Đấng Thánh, cũng không thể sai lầm trong vấn đề đức tin" (L G, 12). Đặc tính này của thành phần dân Chúa được gọi là sensus fidei hoặc "cảm thức đức tin."

Tính bất khả ngộ là một đặc tính quan trọng của giáo hội cũng như một phương tiện hữu dụng nhằm giúp giáo hội duy trì sự toàn vẹn của các giáo huấn căn bản. Tuy nhiên, nó cũng là một nguồn xáo trộn cho những người Công Giáo cũng như ngoài Công Giáo. Nhiều thần học gia Công Giáo đồng tâm nhất trí với giáo thuyết bất khả ngộ thì họ ao ước rằng phải chi đặc tính ấy được gọi khác đi. Với dân chúng trong thời đại chúng ta, "bất khả ngộ" dường như ám chỉ sự kiêu ngạo. Sự thật thì tính bất ngộ liên hệ đến điều tin tưởng của người Công Giáo, đó là giáo hội thì không thể sai sót một khi còn được Chúa Thánh Thần dẫn dắt. Tính bất khả ngộ không đảm bảo rằng giáo hội sẽ không bao giờ lầm lỗi. Đúng hơn, tính bất khả ngộ đảm bảo chúng ta rằng Chúa Thánh Thần sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta về những vấn đề căn bản liên hệ đến căn tính của chúng ta.

Hai Tranh Luận Mới Đây

Thẩm quyền của đức giám mục trong chính giáo phận của mình đã trở thành một đề tài được nhiều người biết đến trong trường hợp của Đức GM Raymond Hunthausen, xảy ra vào tháng Mười 1986 ở tổng giáo phận Seattle. Trường hợp của ngài cho thấy trong giáo hội cũng nhiều sự phức tạp chính trị. Đức Hunthausen bị Tòa Thánh chỉ trích vì lập trường phóng khoáng của ngài trong nhiều vấn đề, kể cả việc cho phép những điều không theo quy tắc phụng vụ tỉ như ban phép xá giải chung mà cá nhân không phải xưng tội riêng vì thiếu linh mục, được rước lễ lần đầu trước khi xưng tội lần đầu, và cử hành một Thánh Lễ trong vương cung thánh đường cho tổ chức Dignity, một tổ chức người Công Giáo đồng tính luyến ái. Đức tổng giám mục còn nổi tiếng về việc từ chối không chịu nộp thuế cho chính phủ để phản đối chương trình vũ khí hạch tâm, nhưng Tòa Thánh nói rằng đây không phải lý do mà Vatican hành động.

Phản ứng của Vatican đối với hoàn cảnh này là bổ nhiệm một đức giám mục phụ tá, Đức Donald Wuerl, là người được giao cho các trách nhiệm sau: việc phụng vụ, dậy bảo luân lý về các vấn đề liên hệ đến tính dục, việc rèn luyện các linh mục, và một toà án của tổng giáo phận về vấn đề tiêu hôn. Điểm được nêu ra ở đây là Đức GM Hunthausen đã có thể phản đối mệnh lệnh của đức giáo hoàng vì đức giám mục phải từ bỏ quyền hành thuộc về chức vụ của ngài. Vì tôn trọng đức giáo hoàng, Đức GM Hunthausen không phản đối quyết định này, một khi ngài vẫn là tổng giám mục của Seattle. Dĩ nhiên, nếu đức giáo hoàng muốn, ngài có thể thuyên chuyển Đức GM Hunthausen đến Nam Cực. Sự căng thẳng là giữa thẩm quyền của đức giám mục trong chính giáo phận của mình và bổn phận phải phục tùng quyền bính của đức giáo hoàng; Đức Hunthausen coi phần thứ hai thì quan trọng hơn. Sau những phản đối của giáo dân Seattle và sự điều đình của vài vị giám mục Hoa Kỳ với Rôma, Đức GM Hunthausen được phục hồi thẩm quyền một cách trọn vẹn vào tháng Sáu 1987.

Một tương tranh khác nói lên tính cách phức tạp chính trị của cơ cấu giáo hội đã xảy ra vào tháng Giêng 1989, khi 163 thần học gia người Đức cho công bố bản Tuyên Ngôn Cologne. Trong những người ký tên, có cả các khuôn mặt nổi tiếng như Bernard Haring, Heinrich Fries, Hans Kung, Johann Baptist Metz, và Edward Schillebeeckx. Các thần học gia than phiền là ở những nơi như CologneSalzburg, đức giáo hoàng bổ nhiệm các giám mục theo một kiểu cách không giống như truyền thống của bao thế kỷ là các giáo phận đưa ra một vài ứng viên mà trong số đó đức giáo hoàng sẽ chọn lấy một người. Thay vào đó, đức giáo hoàng đã "đơn phương lấp đầy các ngai tòa còn trống trên khắp thế giới mà không đếm xỉa đến các đề nghị của giáo hội địa phương và không tôn trọng quyền bính của các giám mục." Cũng trong bản tuyên ngôn này, các thần học gia than phiền về việc không cho phép một thần học gia được giảng dạy tại một đại học chính thức của Công Giáo một khi lập trường của vị này khác với lập trường của Vatican, tỉ như về vấn đề ngừa thai, và điều than phiền khác là khuynh hướng thổi phồng quyền bính của đức giáo hoàng một cách tổng quát. Vì chủ đề của bài viết, chúng ta chỉ chú ý đến hai điểm nổi bật của biến cố này, đó là thẩm quyền tối cao của đức giáo hoàng cũng như sự mong đợi rằng đức giáo hoàng sẽ hành động theo phương cách tập đoàn. Mặc dù Công Đồng Vatican II đã làm sáng tỏ nhiều điểm liên hệ đến sự tương giao giữa đức giáo hoàng và các giám mục, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Nói cho đúng, đức giáo hoàng buộc phải có điều gì để được coi là ngài đã hành động theo phương cách tập đoàn?

Sự Khiêm Tốn và Phục Vụ

Giữa những tranh luận có từ bao thế kỷ về người nắm quyền và mức độ thẩm quyền, còn có một phong trào đặc biệt phát sinh từ Công Đồng Vatican II chú trọng đến sự liên hệ giữa các vị lãnh đạo và sự phục vụ trong giáo hội. Đức Giêsu nói ai muốn là người lớn nhất phải trở nên bé nhất. Đức Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly. Đức Giêsu nói Người đến không để được phục vụ nhưng để phục vụ. Người hy sinh mạng sống để người khác được sống. Lumen Gentium nói rằng "Cũng như Đức Kitô thi hành công việc cứu chuộc trong sự nghèo nàn và sự bách hại, thì giáo hội cũng được mời gọi đi theo cùng một con đường để có thể chia sẻ kết quả của ơn cứu độ" (LG 8). Đặc biệt về các giám mục, văn kiện nói rằng trong việc sử dụng quyền bính của mình, các giám mục cần nhớ rằng "người lớn hơn phải trở nên người kém hơn và ai là đầu thì phải trở nên như người tôi tớ."

Trong các thế kỷ đầu của giáo hội, các giám mục thực sự hoạt động như các thừa tác viên mục vụ, cung ứng sự lãnh đạo tinh thần cho giáo hội của mình. Qua sự phát triển, giáo hội trở nên rộng lớn và phức tạp, các giám mục dần dà trở nên các người quản lý hơn là thừa tác viên. Một giám mục ngày nay có thể sánh với một ông giám đốc của công ty to lớn chứ không còn là một linh mục làm việc trực tiếp với giáo dân. Vì vấn đề đó, một số linh mục ngày nay than phiền rằng họ đi tu làm linh mục là để hoạt động với giáo dân mà bây giờ công việc của họ ngày càng giống như người quản lý.

Trong những năm gần đây, đức giáo hoàng và các giám mục đi theo chiều hướng của một kiểu cách đơn giản hơn. Đức giáo hoàng được nhậm chức thay vì được tôn vương; việc hôn nhẫn của ngài là một nhiệm ý; ngài không còn ngồi trên kiệu có bốn người khiêng trong các nghi lễ. Đức Gioan Phaolô II có thói quen hôn đất của quốc gia ngài thăm viếng khi mới bước xuống máy bay. Chiều hướng căn bản này có thể nhận thấy nơi kiểu cách của các giám mục. Các giám mục đi làm bằng xe buýt quả thật là một ngoại lệ đáng kể, nhưng các giám mục nào vẫn còn tự coi mình như vua chúa thì đó cũng là một biệt lệ. Việc coi các vị lãnh đạo giáo hội như vua chúa có nguồn gốc cao thượng trong một tôn giáo mà sự đối xử ấy tiêu biểu cho vương vị của Đức Kitô. Tuy nhiên, tinh thần Cải Cách mà người Công Giáo cố gắng lắng nghe một cách nghiêm trọng cho thấy sự nguy hiểm của tính cách tiêu biểu này khi đưa con người lên ngang hàng với Thiên Chúa. Không ai chối cãi rằng các giám mục ngày nay không ngừng giữ vai trò mục vụ quan trọng trong giáo phận, và người ta phải công nhận là các giám mục ngày nay đã đi xa hơn vai trò quản lý để trực tiếp phục vụ giáo dân. Một gương mẫu tuyệt vời là cố Hồng Y John O'Connor của Nữu Ước, ngài đã tận tụy hoạt động cho những người bị bệnh AIDS.

Vai trò của một giám mục thì đầy những khó khăn của quyền bính và sự phục vụ. Lumen Gentium đã trích lời Thánh Augustine như sau:

Tôi là gì cho anh em thì đó là điều làm tôi khiếp sợ; tôi là gì với anh em thì đó là điều an ủi cho tôi. Cho anh em, tôi là một giám mục; nhưng với anh em tôi là một Kitô Hữu. Giám mục là một nhiệm vụ; Kitô Hữu là một ơn sủng. Giám mục là một sự nguy hiểm; Kitô Hữu, sự cứu độ. (LG, 32).

Các giám mục là con người và là Kitô Hữu. Chức vụ của họ là điều nguy hiểm vì khiến họ xa cách giáo dân. Tuy nhiên qua chức vụ đó, các giám mục được mời gọi để lấp đầy khoảng trống ấy bằng một tinh thần khiêm tốn, họ đem lại một cơ cấu thẩm quyền và có tính cách liên tục nhằm liên kết đức tin và sự sống đạo của người Công Giáo ngày nay với sứ vụ của Đức Giêsu Kitô.

Tóm Lược

Trong chương này, chúng ta vừa khảo sát tính cách tập thể và thẩm quyền của các giám mục, quyền tối thượng và tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng, một số tương tranh nhằm nói lên sự phức tạp của nội bộ giáo hội, và khuynh hướng mới nhấn mạnh đến sự khiêm tốn và phục vụ. Người Công Giáo thường cảm thấy một giám mục thì cao hơn một linh mục. Theo một quan điểm có hệ thống, các giám mục là những vị lãnh đạo của Giáo Hội Công Giáo, họ kế vị các tông đồ và chịu trách nhiệm giảng dạy, thánh hóa và lãnh đạo.

Trong chương tới, chúng ta sẽ chú ý đến chức linh mục.

Câu Hỏi Suy Tư

  1. Khi nhìn về phẩm trật Công Giáo ngày nay, bạn có hình ảnh gì?
  2. Bạn thích Giáo Hội Công Giáo có tính cách tập thể hơn hay dân chủ hơn?
  3. Bạn nghĩ đa số dân chúng hiểu thế nào về tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng? Sự hiểu biết phổ thông ấy có liên quan gì với các kiến thức trong chương này?
  4. Bạn nghĩ các tranh chấp trong hàng giáo phẩm Công Giáo là điều tự nhiên phải xảy ra trong một tổ chức quá lớn hay bạn cho đó là một vết mờ đối với tin mừng của Đức Kitô?
  5. Bạn có cho đó là điều quan trọng về phương diện cá nhân khi các giám mục ngày càng theo đuổi một kiểu cách đơn giản hơn?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com