|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 11: Các Linh Mục
ôi có một kỷ niệm khó quên trong những tuần đầu tiên theo chương trình cao học tại Đại Học Công Giáo ở Hoa Thịnh Đốn vào cuối thập niên 1970. Các giáo sư của tôi, nhiều người là linh mục, muốn được gọi bằng tên. Vào lúc ấy, tôi khó có thể gọi một linh mục bằng bất cứ tên nào khác, ngoại trừ tên "Cha." Nhưng sau đó không lâu, tôi đã quen đi.
Vấn đề xưng hô lại xảy đến với tôi trong tuần lễ đầu tiên khi tôi gọi tên một sinh viên cùng lớp, là linh mục cùng quê với tôi ở Philadelphia. Vị linh mục này gắt gỏng trả lời: "Trong lớp giáo lý họ không dạy anh phải gọi một linh mục là 'Cha' hay sao?" Thật bối rối, tôi ấp úng xin lỗi. Tuy nhiên, có hai linh mục khác đứng đấy và một vị thông cảm với trường hợp của tôi. Ngài lý luận rằng, ở giáo xứ giáo dân phải xưng hô với linh mục một cách chính thức, nhưng trường hợp chúng tôi là sinh viên với nhau thì mọi người đều ngang hàng. Vị linh mục thứ ba cũng đồng ý. Vị linh mục ở Philadelphia hậm hực im lặng. Vấn đề vẫn không được ổn thoả. Sau đó, mỗi khi gặp vị linh mục ở Philadelphia thì tôi đều gọi là "Cha", dù rằng giọng nói của tôi không được tự nhiên. Từ đó trở đi, không bao giờ chúng tôi thực sự nói chuyện với nhau.
Trong những năm trước thời Công Đồng Vatican II, không hồ nghi gì rằng các linh mục được coi cao trọng hơn giáo dân rất nhiều. Chưa kể đời sống bình thường của một linh mục đã quá khó khăn, các linh mục còn phải học hỏi nhiều, và được huấn luyện về tu đức. Hơn thế nữa, họ có trách nhiệm giúp Đức Kitô hiện diện giữa cộng đoàn qua Thánh Lễ. Trong lứa tuổi thanh niên, gia đình tôi và trường Công Giáo dạy tôi rằng ơn gọi cao nhất đối với các thanh niên là đi tu làm linh mục. Các thanh niên Công Giáo thông minh và tốt lành đều ước ao trở thành linh mục.
Sau Công Đồng Vatican II, vì nhiều lý do, vị thế của các linh mục trong cộng đồng Công Giáo đã thay đổi. Gọi sự thay đổi này là "tụt dốc" có lẽ không chính xác. Những ai còn gắn bó với quan điểm tôn trọng linh mục như trước thời Công Đồng Vatican II thì có thể coi sự thay đổi này là tụt dốc, nhưng khi đọc kỹ lại các văn kiện của Công Đồng Vatican II cũng như các văn bản bây giờ chúng ta thấy một hoàn cảnh rất phức tạp. Tuy nhiên, rõ ràng là có sự sút giảm đột ngột về số người đi tu làm linh mục.
Trong Chương Này
Trong chương này, đầu tiên chúng ta sẽ thảo luận về sự khó khăn hiện nay về hình ảnh của chức linh mục, sau đó là ý nghĩa của chức linh mục như đã được Công Đồng Vatican II đề ra, và sau cùng tình trạng thiếu hụt linh mục cũng như các giải pháp đề nghị. Hai văn kiện của Công Đồng Vatican II có liên hệ là: Sắc Lệnh về Huấn Luyện Linh Mục và Sắc Lệnh về Thừa Tác Vụ và Đời Sống Linh Mục. Một thắc mắc có liên can là việc phong chức phụ nữ, sẽ được đề cập trong chương 27.
Những Khó Khăn Về Hình Ảnh Chức Linh Mục
Nhà thần học đương thời là Lawrence Cunningham nói về giai đoạn hậu Công Đồng Vatican II rằng: "Trước đây đã có một hình ảnh rõ ràng về đạo Công Giáo và những gì mong đợi; ngày nay chúng ta lại phải lần mò tìm lại hình ảnh đó, nhưng chưa có thể nói rõ đó là hình ảnh gì." Có lẽ điều này rất đúng với chức linh mục. Trong thập niên 1950, người Công Giáo biết rõ thế nào là một linh mục: ban phát các bí tích, truyền phép bánh thánh, người linh hướng đại diện cho giáo hội, một người thánh thiện tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.
Trong giai đoạn hậu Công Đồng Vatican II các linh mục phải chịu thiệt thòi vì vấn đề hình ảnh của chức linh mục. Không hiểu đó có phải vì nhận thức của một thời đại đặt nặng tình dục nên coi sự độc thân là khác thường, vì sự di chuyển lớn lao số nam giới trong thập niên 1960 và 1970, vì công luận thổi phồng quá đáng những trường hợp lạm dụng tình dục trẻ em, vì chức linh mục không bao gồm các phụ nữ, vì tin đồn rằng phần lớn các linh mục là người đồng tính luyến ái, hoặc vì phim ảnh và truyền hình thường miêu tả các tu sĩ là những người khờ khạo, lệch lạc, hay thèm khát tình dục, nên hình ảnh của chức linh mục không còn giống như xưa.
Tôi thường nghĩ rằng trong tương lai người ta sẽ coi vấn đề hình ảnh linh mục là một sản phẩm của giai đoạn chuyển đổi tạm thời mà trong đó ý nghĩa của chức linh mục đã bị mất mát và chưa được thay thế bằng một ý nghĩa đầy đủ hơn đã được Công Đồng Vatican II đề cập đến. Hiện đã có những dấu hiệu trong truyền thông, tỉ như nhân vật Cha Murphy của thập niên 1980 có nhiều đức tính hơn Cha Mulcahey dễ tin trong bộ phim M*A*S*H. Các cuốn phim như The Mission và cuốn Romero rõ ràng đã trưng ra chức linh mục và giám mục như phản ánh một phẩm giá không liên hệ gì đến địa vị xã hội, nhưng có liên hệ đến việc phục vụ người nghèo. Một số linh mục nói với tôi rằng, giờ đây họ cảm thấy như thoát khỏi bầu khí huyền bí của quá khứ và ngày càng dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với Kitô hữu trong một phương cách thực sự mục vụ.
Công Đồng Vatican II đã làm đảo lộn quan niệm cổ truyền về chức linh mục trong một vài phương cách. Đầu tiên, trong văn kiện Lumen Gentium, chức giám mục đã được nhấn mạnh quá đáng đến nỗi các linh mục chỉ còn là "người phụ giúp các giám mục", ít có nét đặc trưng. Mặc dù Công Đồng Vatican II cũng đã công bố một văn kiện xác nhận tầm quan trọng của các linh mục, đó là Sắc Lệnh về Thừa Tác Vụ và Đời Sống Linh Mục, nhưng văn kiện này chưa ảnh hưởng trọn vẹn đến giáo hội nói chung.
Thứ hai, Công Đồng Vatican II có khuynh hướng tương đối hóa chức linh mục bằng cách đưa chức vụ này vào một khung cảnh mà trong đó nhấn mạnh đến thừa tác vụ của mọi Kitô Hữu qua việc dự phần vào chức tư tế của Đức Kitô. Văn kiện Lumen Gentium nhấn mạnh rằng chức linh mục thì hiển nhiên khác với chức tư tế chung của người tín hữu, nhưng bản chất tự nhiên của sự khác biệt này không được đề cập đến một cách rõ ràng. Sau cùng, vai trò của chức linh mục càng được coi giống với vai trò của giáo dân hơn trước.
Ý Nghĩa Chức Linh Mục trong Công Đồng Vatican II
Trong một công trình đáng kể, thần học gia Kenan Osborne đã truy tìm lịch sử của chức linh mục Công Giáo từ xa xưa cho đến giáo huấn của Công Đồng Vatican II. Trong các văn kiện của công đồng này, Osborne tìm thấy một quan điểm mạch lạc và uyên thâm có thể vừa làm sống lại việc quý trọng chức linh mục và vừa thúc đẩy tiến trình đại kết. Osborne thấy ý niệm về chức linh mục trong giai đoạn Phản Cải Cách (thời gian 400 năm từ Công Đồng Trentô cho đến Công Đồng Vatican II) được tiếp tục và biến đổi trong một quan điểm rộng lớn hơn. Quan điểm này được phát sinh là nhờ Công Đồng Vatican II hội nhập các viễn ảnh mới về phúc âm và lịch sử qua công trình nghiên cứu của các học giả. Osborne thận trọng nhấn mạnh rằng quan điểm mới này không trái ngược với quan điểm cũ, nhưng đúng hơn nó bao gồm quan điểm cũ trong một hiểu biết đầy đủ hơn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thận trọng này, Osborne nói rõ về các khuyết điểm của ý niệm chức linh mục trong thời Phản Cải Cách. Khuyết điểm chính yếu là khi liên kết định nghĩa "linh mục" với độc quyền thánh hiến Mình Thánh. Osborne cho rằng định nghĩa này thì hạn hẹp và đơn phương. Nó đã củng cố cho một ý niệm về linh mục quá độc lập, có tính cách cá nhân, và thuộc về thế giới bên kia. Linh mục được tách khỏi người thường. Qua việc truyền chức, linh mục được nghĩ là người sở hữu thẩm quyền và đặc tính của chức linh mục, thay vì hành xử một chức vụ mà trước hết nó thuộc về cộng đồng giáo hội. Vai trò của linh mục là đọc kinh Nhật Tụng và ban phát bí tích, chứ không dính dáng đến những sự kiện nhất thời, hão huyền của thế giới đời này.
Osborne kể ra một vài phát triển đáng kể về ý nghĩa chức linh mục trong các văn kiện của Công Đồng Vatican II. Công đồng đã đặt nguồn gốc thừa tác vụ linh mục trong thừa tác vụ của Chúa Giêsu là ngôn sứ, tư tế, và vua, chứ không chỉ trong thẩm quyền thánh hiến Mình Thánh. Từ đó, có một nhấn mạnh mới về nhiệm vụ của linh mục là rao giảng Phúc Âm. Có một nhấn mạnh tương xứng về vai trò phục vụ của linh mục là lãnh đạo cộng đồng. Vai trò chủ tế của linh mục trong phụng vụ vẫn rõ rệt, nhưng được nằm trong khung cảnh của các vai trò ngôn sứ và vương đế. Chức linh mục được trình bày trong một phương cách có liên hệ nhiều hơn với các thừa tác vụ khác trong giáo hội, và do đó ít tách biệt hơn. Chức linh mục có liên hệ nhiều với cơ cấu của giáo hội, do đó sẽ ít đi tính cách cá nhân hoặc ít đặc biệt hơn. Chức linh mục có liên hệ nhiều với cộng đồng, do đó sẽ bớt thuộc về thế giới bên kia.
Trong khi trước thời Công Đồng Vatican II, các linh mục "làm lễ" cho giáo đoàn, ngày nay các linh mục hướng dẫn giáo đoàn cử hành Thánh Lễ. Linh mục chủ trì giáo đoàn, mỗi một phần tử của cộng đồng dự phần một cách tích cực. Văn kiện Lumen Gentium đề cập đến phương cách mà giáo dân đem theo vào Thánh Lễ những hy sinh tinh thần của cuộc sống hàng ngày, mà những hy sinh ấy "thích hợp nhất để dâng lên Thiên Chúa khi cử hành bí tích Thánh Thể. Do đó, như những người ở khắp nơi thờ phượng trong một sinh hoạt linh thiêng, chính người tín hữu Kitô đã thánh hiến thế giới cho Thiên Chúa" (LG, 34). Sự nhấn mạnh truyền thống về sự hiện diện thực của Đức Kitô trong bánh và rượu được bổ sung bằng một cái nhìn mới nhắm đến sự hiện diện của Đức Kitô trong toàn thể cộng đồng. Khi cử hành Thánh Lễ, có một nhấn mạnh mới đến chức tư tế của giáo dân, đến tầm quan trọng của cộng đồng, đến giá trị tinh thần của cuộc sống đời thường, đến việc rao giảng Ngôi Lời, và đến sự liên kết giữa Thánh Thể và công bằng xã hội. Hình ảnh của linh mục theo đó cũng biến đổi.
Sự thay đổi ý nghĩa này một phần được tiêu biểu bằng việc đưa bàn thờ tách xa khỏi bức tường và linh mục đối diện với giáo đoàn. Ngày nay, vị linh mục bớt đi tính cách trung gian giữa Thiên Chúa và giáo dân, và nhiều hơn tính cách đại diện của một dân tư tế đang cảm nghiệm sự hiện diện của Đức Kitô ở giữa họ.
Trong ngôn ngữ thực tế hơn, quan niệm về chức linh mục của Công Đồng Vatican II có liên hệ nhiều hơn với thừa tác vụ của Chúa Giêsu, có liên quan hơn với giáo dân, với căn bản linh đạo đặt nền tảng trên phúc âm, và với vấn đề công bằng của cộng đồng. Hy vọng rằng quan điểm mới về chức linh mục sẽ thu hút được nhiều người muốn làm linh mục.
Sự Thiếu Hụt Linh Mục
Dean Hoge, một nhà xã hội học Tin Lành ở Đại Học Công Giáo Mỹ Châu, từng nghiên cứu về vấn đề thiếu hụt linh mục và các giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề này. Trong khi số linh mục đến tuổi về hưu ngày càng tăng thì số chủng sinh ngày càng giảm. Như ông Hoge cho thấy, một số nhà lãnh đạo giáo hội coi vấn đề thiếu hụt linh mục như tiêu biểu cho sự khủng hoảng đức tin, do đó giải pháp cuối cùng là canh tân Kitô Giáo. Chính ông Hoge thì lại đưa ra một quan điểm khác: Vấn đề thực sự có tính cách tổ chức nhiều hơn để từ đó cần có những quyết định sáng suốt khi đương đầu với những thay đổi mau chóng của xã hội. Mặc dù ông Hoge không nhận thức rõ là người Công Giáo không muốn hoàn toàn tách biệt vấn đề đức tin với vấn đề tổ chức, nhưng con số thống kê cũng như những quan điểm mà ông đưa ra thì đáng được lưu tâm.
Ông Hoge đưa ra mười một lựa chọn dưới bốn loại căn bản. Ông dùng sự phân tích thống kê để biết xem ảnh hưởng đáng kể của mỗi một lựa chọn. Một số lựa chọn, tỉ như linh mục kết hôn hay phong chức cho phụ nữ, sẽ đề ra các khó khăn về thần học. Ông Hoge chỉ muốn đưa ra các dữ kiện về xã hội học. Sau đây là các lựa chọn của ông:
Giải Pháp của Hoge về sự Thiếu Hụt Linh Mục
Loại A: Giảm Bớt Nhu Cầu cho Các Linh Mục
- 1. Tổng hợp hoặc sắp xếp lại các giáo xứ, hoặc tái giáo dục người Công Giáo để họ đừng kỳ vọng quá nhiều vào sự phục vụ của linh mục.
Loại B: Có Thêm Các Linh Mục, với Tiêu Chuẩn Hiện Hành
- 2. Tái bổ nhiệm hoặc tái phân phối các linh mục hiện có để vai trò lãnh đạo giáo xứ được hữu dụng hơn.
- 3. Lấy thêm linh mục từ các dòng tu.
- 4. Có thêm các linh mục từ nước ngoài.
- 5. Tuyển mộ thêm các chủng sinh.
Loại C: Có Thêm Các Linh Mục, với Tiêu Chuẩn Rộng Rãi Hơn
- 6. Tấn phong người có gia đình cũng như độc thân.
- 7. Phong chức cho phụ nữ.
- 8. Thiết lập một thời hạn phục vụ cho linh mục, hoặc thiết lập một vinh dự khi mãn nhiệm.
- 9. Dùng một số linh mục hồi hưu như các thừa tác viên bí tích.
Loại D: Nới Rộng Chức Phó Tế và Thừa Tác Vụ Giáo Dân
- 10. Mở rộng và phát triển chức phó tế vĩnh viễn.
- 11. Mở rộng và phát triển thừa tác vụ giáo dân.
Ông Hoge lý luận rằng, khi không thi hành gì cả thì điều đó có nghĩa điều 11 được chọn, đó là mở rộng thừa tác vụ giáo dân. Những lựa chọn trong loại D thì đã xảy ra. Theo sự tìm hiểu của ông Hoge, đây cũng là sự lựa chọn duy nhất trong những giới hạn hiện nay mà sẽ có ảnh hưởng nhiều đến vấn đề.
Sự lựa chọn khác trong loại D, mở rộng chức phó tế, thì cũng đã xảy ra, nhưng không trong ý định nhằm ảnh hưởng nhiều đến vấn đề thiếu hụt linh mục. Trong nhiều thế kỷ trước thời Công Đồng Vatican II, chức phó tế chỉ là tình trạng tạm thời trước khi tấn phong một linh mục. Công Đồng Vatican II đề nghị rằng chức phó tế vĩnh viễn, là một trong những thừa tác vụ chức thánh của giáo hội tiên khởi, phải được phục hồi và mở rộng cho các ông đã lập gia đình. Chức phó tế vĩnh viễn tái thiết lập ba thừa tác vụ chức thánh khác nhau là giám mục, linh mục và phó tế, như đã được thiết lập trong thế kỷ thứ hai và thứ ba. Nhiều giáo xứ ngày nay có một hoặc hai phó tế phụ giúp việc loan truyền phúc âm và phục vụ giáo xứ trong nhiều phương cách khác nhau. Ông Hoge cho rằng chức phó tế hiện nay chỉ hoạt động bán thời gian, bị giới hạn về phạm vi, không được xác định rõ ràng, và thiếu địa vị cần được công nhận để bù đắp cho sự thiếu hụt linh mục trong bất cứ phương cách nào được coi là chính yếu.
Dựa trên thống kê, ông Hoge cho rằng các lựa chọn của loại A hoặc B dường như không có ảnh hưởng đáng kể. Đó là vì phần lớn nguyên do của sự thiếu hụt linh mục bao gồm những thay đổi giá trị văn hóa liên hệ đến việc chọn lựa nghề nghiệp, hôn nhân, tình dục, và kiểu quyền lực. Giáo hội không ảnh hưởng nhiều đến những thay đổi này. Chỉ những chọn lựa trong loại C sẽ có ảnh hưởng lớn hoặc trung bình, tất cả những lựa chọn này sẽ bao gồm những thay đổi trầm trọng trong chính sách của giáo hội hiện nay.
Về các chọn lựa loại C, việc xử dụng các linh mục hồi hưu sẽ có ít ảnh hưởng. Giới hạn thời gian phục vụ sẽ có ảnh hưởng trung bình, nhưng sẽ phải từ bỏ sự hiểu biết truyền thống Công Giáo về đặc tính bí tích thường xuyên của chức linh mục như một ơn gọi suốt đời. Theo sự tiên đoán có tính cách thống kê của ông Hoge, việc tấn phong phụ nữ làm linh mục sẽ có ảnh hưởng giới hạn, tối thiểu từ lúc đầu. Ngày nay có nhiều lý do để hỗ trợ cũng như chống đối việc tấn phong phụ nữ, nhưng sự lựa chọn này sẽ đòi hỏi phải từ bỏ một truyền thống lâu dài của giáo hội Công Giáo.
Sự lựa chọn sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự thiếu hụt số linh mục và không phải thay đổi nhiều trong truyền thống là việc tấn phong những ông đã có gia đình. Ông Hoge tìm thấy rằng nếu sự độc thân là một tùy ý khi gia nhập chủng viện thì con số chủng sinh sẽ gia tăng gấp bốn. Mặc dù sự độc thân là một truyền thống lâu đời trong giáo hội Công Giáo, nó được coi là một vấn đề kỷ luật của giáo hội và không phải là điều kiện thiết yếu để loan truyền Tin Mừng.
Quan điểm của ông Hoge có tính cách xã hội thuần tuý. Chính ông cũng nói rõ là ông không muốn giải quyết vấn đề về phương diện thần học hay tín lý. Ông chỉ muốn cung ứng các dữ kiện nhằm giúp các nhà lãnh đạo giáo hội quyết định. Ông muốn đề cập đến vấn đề có tính cách tổ chức, chứ không phải vấn đề đức tin.
Tuy nhiên, như ông Philip Murnion đã vạch ra, đức tin Công Giáo không cho phép một tách biệt hoàn toàn giữa vấn đề đức tin và tổ chức. Vì với người Công Giáo, tổ chức giáo hội và căn bản đức tin có liên hệ mật thiết với nhau. Chính ông Hoge cũng đồng ý rằng bất cứ giải pháp nào cũng cần phải được duyệt xét, không về phương diện khả thi có tính cách thống kê, nhưng về sự hài hòa với quan điểm của Công Giáo.
Có nhiều lý lẽ muốn giữ điều kiện độc thân cho chức linh mục. Mặc dù sự độc thân thường được công nhận là một quy tắc của giáo hội, một số người cho rằng đó là một quy tắc tốt đẹp cần được duy trì. Hầu hết những người bảo vệ điều kiện độc thân lý luận tương tự như sau: Vì truyền thống Công Giáo cho rằng chính Chúa Giêsu sống độc thân và vì chức linh mục là một phương cách đặc biệt để theo Chúa, nên hy sinh sống độc thân là điều thích hợp. Một số đoạn Kinh Thánh có thể hỗ trợ cho điều này. Sự độc thân được coi như một dấu chỉ cho sự tận hiến trong việc xây dựng nước trời. Sự độc thân cho phép các linh mục không bị ràng buộc bởi những trách nhiệm gia đình. Với các linh mục ở giáo xứ, tình yêu đầu tiên của họ là tình yêu Thiên Chúa, và gia đình của họ là giáo xứ. Ngoài ra, độc thân còn được coi như một chứng từ rằng sinh hoạt tính dục, dù tốt đẹp và quan trọng, vẫn không phải là điều thiết yếu tuyệt đối như xã hội chủ trương. Thay đổi điều kiện độc thân sẽ không khác gì đầu hàng xã hội mà nó cần được thách đố qua chứng từ ấy.
Có nhiều lý lẽ bênh vực việc bãi bỏ điều kiện độc thân. Sau đây là những lý lẽ thông thường.
Thống kê cho thấy nhiều người Công Giáo đã sẵn sàng chấp nhận ý tưởng này. Một số thay đổi trong văn hóa về giá trị của tình dục là những thay đổi tốt đẹp; người ta không còn cho rằng linh mục phải tránh xa tình dục thì mới được coi là "thanh khiết." Dù rằng sự độc thân có thể được coi như một dấu chỉ của nước trời và là chứng từ đối với vấn đề tình dục, không có lý do gì lại không coi đó như một lựa chọn thay vì một bó buộc. Dù rằng Chúa Giêsu không lập gia đình, nhiều tông đồ là những người có vợ con. Để theo Chúa Giêsu, người ta có phải để râu dài hoặc phải trở nên người thợ mộc không? Ngoài ra, không lẽ các linh mục có gia đình lại không bén nhậy hơn với nhu cầu mục vụ của gia đình và của vợ chồng hay sao? Hơn thế nữa, không lẽ không thể nào vừa yêu Chúa đồng thời vừa yêu gia đình sao? Có gì xung khắc giữa việc yêu Chúa và yêu vợ? Sau cùng, không lẽ nhiệm vụ cung ứng thừa tác viên của giáo hội lại không nặng ký hơn điều kiện độc thân hay sao?
Đây là một vấn đề khó khăn với các lý lẽ mạnh mẽ của cả đôi bên. Điều không thể tránh khỏi là cuộc tranh luận về vấn đề như vậy sẽ đưa người ta đến việc duyệt xét lại những giả định về Thiên Chúa, truyền thống, văn hóa và giáo hội.
Một Phúc Lành Ẩn Giấu?
Ông Hoge nêu lên điểm là một số giáo dân coi sự thiết hụt linh mục như một cơ hội để tham dự và tiếp tay trong việc thay đổi đời sống giáo xứ. Những người này sẽ coi đó là một vấn đề tệ hại nếu hàng linh mục vẫn tiếp tục như một tập thể tinh thần ưu tú có khuynh hướng xa rời với các vấn nạn và khát vọng của một người bình thường. Ông Hoge đưa ra số thống kê chứng minh rằng người Công Giáo muốn trở nên tích cực hơn. Tôi cũng từng nghe nói rằng Chúa Thánh Thần gây nên sự thiếu hụt linh mục để người giáo dân trở nên tích cực.
Không phải ai ai cũng nghĩ như vậy. Hầu hết người Công Giáo đều ao ước có thêm linh mục. Có thể nói thêm rằng, sự gia tăng số linh mục ngày nay sẽ không nhất thiết làm giảm bớt số lượng hay phẩm chất các cơ hội để giáo dân tham gia vào sinh hoạt giáo xứ. Quan trọng hơn, khi số linh mục gia tăng, giáo dân sẽ rảnh rang trong công việc giáo xứ và như thế họ sẽ có thời giờ để sinh hoạt xã hội chính trị mà đó mới là sứ vụ của một Kitô Hữu. Hầu hết những người Công Giáo tôi quen biết, có con cái ở tuổi trung học, đều khiếp sợ khi được yêu cầu tham gia một ủy ban hay đảm nhận một chức vụ. Như ông Hoge nhận xét, người Công Giáo muốn các linh mục không chỉ chủ tế Thánh Lễ mà còn chủ sự các nghi thức khác, như rửa tội, hôn phối và giảng. Với người Công Giáo, chức linh mục là một điều gì đặc biệt và linh thiêng. Bất kể ý nghĩa hay vai trò của linh mục có thay đổi thế nào theo thời gian, chúng ta không thể làm mất đi tính cách linh thiêng từng có trước đây. Bất cứ thay đổi nào trong chính sách của giáo hội cần được đi kèm theo với một cái nhìn đổi mới của người Công Giáo về giá trị chức linh mục, đồng thời, tôi hy vọng, có sự khuyến khích mới về ơn gọi của bậc cha mẹ, thầy cô, giáo dân và của chính các linh mục.
Tóm Lược
Trong chương này chúng ta vừa mới khảo sát sự lưu tâm hiện nay về sự thiếu hụt linh mục dựa trên sự thay đổi cái nhìn và sự hiểu biết về chức linh mục. Dường như chức linh mục đang trong giai đoạn chuyển tiếp khó khăn khi một viễn ảnh đang mờ dần trong khi viễn ảnh khác chưa thực sự hoàn tất. Trong phương cách này, những gì đang xảy ra cho linh mục biểu tượng cho những gì đang xảy ra trong giáo hội.
Trong chương tới, chúng ta sẽ khảo sát về sự tương giao giữa giáo huấn chính thức của giáo hội và niềm tin của người Công Giáo.
Câu Hỏi Suy Tư
- Bạn cảm thấy hình ảnh của linh mục bị biến đổi trong các phương cách nào?
- Bạn có nghĩ là khi Công Đồng Vatican II được hiểu biết rõ hơn, chức linh mục sẽ được quý trọng hơn?
- Trong những lựa chọn của ông Hoge để giải quyết vấn đề thiếu hụt linh mục, bạn thích giải pháp nào nhất? Giải pháp nào bạn ít thích nhất?
- Bạn có nghĩ là điều kiện độc thân phải được thay đổi?
- Sự thiếu hụt linh mục có nhất thiết là một điều xấu không?

|