|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 15: MỘT TINH THẦN TRONG CÔNG VIỆC
ột sinh viên năm thứ nhất trong lớp tôi dạy đã đến gặp tôi. Anh khoảng mười chín tuổi. Anh cho biết anh quyết định chọn môn Sinh Thái Học. Tôi hỏi tại sao anh lại quyết định như vậy. Anh trả lời là một người bạn cho biết công việc của một Nhân Viên Bảo Vệ Môi Sinh (E.P.A.) được trả lương cao. Và với khuynh hướng hiện nay đó là một tương lai bảo đảm.
Tôi hỏi ngoài ra còn có lý do nào khác mà anh chọn môn này. Anh suy nghĩ đôi chút và trả lời là có. Anh thường mong ước trở nên một cảnh sát viên. Duy trì luật lệ là điều hấp dẫn anh. Khi xem các chương trình cảnh sát trên truyền hình, anh cảm thấy đó là điều anh muốn. Công việc làm mà anh sẽ nhận là E.P.A. sẽ giúp anh bao gồm việc duy trì luật lệ với khả năng kỹ thuật. Anh sẽ có một công việc lương cao và vẫn có thể thi hành điều anh muốn.
Tôi hỏi cá nhân anh có lưu tâm gì đến môi sinh hoặc ảnh hưởng của sự suy thoái môi sinh đối với cộng đồng nhân loại không. Anh cho biết chưa bao giờ anh nghĩ về điều đó, nhưng anh không có trở ngại gì khi phải để ý đến điều đó.
Một số người có khuynh hướng nghĩ rằng câu trả lời của anh sinh viên này là một dấu hiệu đáng buồn của thời đại khi các sinh viên chỉ thích làm tiền mà không để ý gì đến lợi ích của xã hội. Nếu người sinh viên đang ở năm chót đại học, câu trả lời của anh quả thật tượng trưng cho một vấn nạn; tuy nhiên, với sinh viên năm thứ nhất, họ có nhiều điều mơ ước để thố lộ. Thật vậy, đắn đo suy nghĩ các điều thảo luận sau đây với ba mục đích chính yếu của công việc mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề ra, câu trả lời của anh sinh viên này chứng tỏ hai điều đầu tiên và anh sẵn sàng chấp nhận điều thứ ba.
Trong Chương Này
Như đã được thảo luận trong một chương trước đây, các lãnh vực chính để giáo dân hoạt động được vạch ra trong văn kiện Lumen Gentium là công việc, gia đình, và thay đổi xã hội. Trong chương này chúng ta sẽ xem xét đến vị trí công việc trong đời sống Kitô Hữu; đó là, chúng ta sẽ tìm hiểu một tinh thần trong công việc. Để thi hành điều này, chúng ta sẽ dựa vào các chủ đề trong thông điệp Laborem Exercens của Đức Gioan Phaolô II về công việc.
Ba Mục Đích của Công Việc
Tôi nhớ đến một chức vụ hợm hĩnh mà tôi đảm trách ở trường đại học trong đầu thập niên 1970, mà thời đại ấy vẫn còn ảnh hưởng của thập niên 1960--cuộc chiến Việt Nam, nhạc rock, tự do luyến ái, và cách mạng văn hóa. Tôi nghĩ để trở nên một con người đích thực, người ta phải giỏi về các bộ môn như văn chương Anh, Triết hoặc Công Tác Xã Hội. Tôi có khuynh hướng coi thường các sinh viên nào chọn môn thương mãi hay kỹ thuật vì cho rằng họ tiếp tay với sự thối nát của quân đội và kỹ nghệ. Tôi chia thế giới làm hai loại người: những người lưu tâm đến đời sống, tình cảm, hòa bình và tình nghĩa huynh đệ, và những người chỉ biết kiếm tiền.
Từ đó đến giờ tôi học được nhiều điều. Tôi không còn chia thế giới làm hai loại người. Tôi cũng không chống đối việc kiếm tiền. Tôi nhận ra được rằng thế giới rất cần đến những người có tâm hồn xã hội đi vào lãnh vực thương mại và kỹ thuật. Chúng ta không cần đến một thế giới đầy những thầy cô dạy văn chương Anh và cán sự xã hội. Chúng ta cần thương gia, thầy cô, chuyên viên kỹ thuật, và cán sự xã hội biết hy sinh lưu tâm đến thế giới và tận tụy cho một xã hội công bằng hơn.
Tôi thấy điều suy nghĩ của Đức Gioan Phaolô II về ba mục đích của công việc thì thật thích hợp về phương diện này. Ngài không nói rằng một đời sống tươm tất là tội lỗi. Ngài không nói rằng chỉ nghĩ đến thành đạt cá nhân là ích kỷ. Đúng hơn, ngài đưa ra một quan điểm mà trong đó cả ba điều lưu tâm này được quân bình bởi sự lưu tâm đến tha nhân.
Ba Mục Đích của Công Việc theo Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II:
Kiếm Sống,
Tự Biểu Hiện / Thành Đạt,
Góp Phần cho Xã Hội.
Mục đích thứ nhất của công việc là kiếm tiền để nuôi bản thân và gia đình. Điều này không thể là sự lưu tâm độc nhất, quan trọng hơn tất cả, nhưng nó có một vị thế quan trọng. Mục đích thứ hai là để biểu lộ cá thể và khả năng hoàn thành. Công việc là điều đa số chúng ta thi hành mà phần lớn vì đời sống náo nhiệt. Những gì chúng ta làm nói lên con người của chúng ta. Mục đích thứ ba là để góp phần vào xã hội rộng lớn. Chúng ta không chỉ làm việc cho chính mình nhưng còn cho lợi ích của người khác. Chúng ta đem hết khả năng và sức lực để phục vụ cho những ai có nhu cầu.
Điều tôi thấy quan trọng về ba mục đích này là chúng không trái ngược nhau. Chúng có thể hòa hợp với nhau. Đức Gioan Phaolô II đề nghị rằng cả ba đều rất quan trọng, và nếu thiếu một trong ba mục đích này, ý nghĩa công việc sẽ có trở ngại.
Ba mục đích này dường như lý tưởng khi áp dụng vào đời sống thực tế. Tôi biết có nhiều người chán ghét công việc của họ. Tôi biết nhiều người coi công việc chỉ là phương tiện sinh nhai. Tôi biết có nhiều người ngượng ngùng với công việc vì vị thế thấp kém trong xã hội. Tôi biết nhiều người không bao giờ nghĩ đến sự phục vụ mà luôn bực dọc với khách hàng nên càng tránh né càng tốt. Với nhiều người, công việc chẳng có gì vui. Thay vì là một phương tiện để nói lên con người của mình và để góp phần vào xã hội, công việc được coi như một nhà tù mà người ta tìm cách trốn tránh khi có dịp.
Đức Gioan Phaolô II không phải là không ý thức về tính cách mơ hồ của công việc. Trong Laborem Exercens, ngài viết:
Đời sống nhân loại được tích tụ hàng ngày bởi công việc, từ công việc nó phát sinh giá trị đặc biệt của nó, nhưng đồng thời công việc cũng bao gồm biết bao lao nhọc và đau khổ của con người và còn có sự bất công và thiệt hại ăn sâu vào đời sống xã hội… (đoạn 1)
Đối diện với sự mơ hồ của công việc, thật quan trọng để xem xét các chiều kích khác của điều mà đức giáo hoàng đã đưa ra để suy nghĩ về ý nghĩa công việc.
Giá Trị của Công Việc
Điều gì đem lại giá trị cho công việc? Đề cập đến vấn đề này, Đức Gioan Phaolô II phân biệt giữa các chiều kích chủ quan và khách quan của công việc. Trong ý nghĩa khách quan, công việc liên quan đến các kỹ thuật mà con người dùng để thao túng thế giới nhằm thỏa đáp nhu cầu của con người. Đức giáo hoàng nhắc đến nông nghiệp, kỹ nghệ, dịch vụ, và nghiên cứu như các thí dụ cho các ngành hoạt động kinh tế trong ý nghĩa khách quan. Đó là, trong ý nghĩa khách quan, công việc ám chỉ đến loại việc làm phải được thi hành.
Trong ý nghĩa chủ quan, công việc liên quan đến hoạt động của người thi hành trong một phương cách mà nó độc lập với loại công việc. Đó là, bất cứ khi nào công việc được thi hành, nó bao gồm một con người, được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, được mời gọi để thể hiện cá thể của mình, thi hành các công việc và hoạt động nào đó. Điều này thật đúng bất kể loại hoạt động gì. Công việc trong ý nghĩa chủ quan liên quan đến sự kiện là bất kể công việc gì, người thi hành công việc là một con người.
Từ sự phân biệt này, Đức Gioan Phaolô II vạch ra 2 điểm quan trọng để thảo luận về một tâm linh cho công việc. Trước hết, ngài tuyên bố rằng, hầu như mọi người đều là công nhân. Dù đó là người nội trợ, học sinh, thợ nề, nghệ nhân, quản lý, người đầu tư, chủ nhân, hay một giáo sư, tất cả là công nhân. Họ thi hành công việc vừa để biểu lộ cá thể của mình và vừa để phục vụ người khác. Đức giáo hoàng đã dành một chương nhỏ để giải thích làm thế nào người tật nguyền cũng được coi là công nhân và cũng có cơ hội để góp phần.
Trong khu xóm tôi ở, tôi nhận thấy có sự căng thẳng giữa các bà mẹ đi làm và các bà mẹ ở nhà nuôi con. Mỗi nhóm đều có kiểu cách bực bội và khinh miệt nhóm kia. Mỗi nhóm dường như cũng nhận thấy sự nực cười này và tìm cách khắc phục. Qua định nghĩa của đức giáo hoàng, cả hai nhóm đều là công nhân. Được trả lương không phải là điều để phân biệt giữa người đi làm hoặc người không đi làm. Tối thiểu ở điểm đó các bà mẹ phải đoàn kết với nhau.
Ý tưởng rằng mọi người là công nhân cũng có liên quan đến các lãnh vực kinh tế và xã hội. Mặc dù có những khác biệt giai cấp về phương diện kinh tế và xã hội, trong ý nghĩa chủ quan, tất cả chúng ta là người lao động. Sự đầu tư chỉ là một dụng cụ; công việc thì có liên quan đến con người. Công việc phải được coi là để phục vụ con người, vì con người quan trọng hơn đồ vật. Sức lao động có ưu thế hơn tiền vốn. Tuy nhiên, khi nói như vậy, Đức Gioan Phaolô II không muốn đưa giới lao động lên trên giới tư sản; đúng hơn ngài kêu gọi mọi người hãy nhận thức rằng chúng ta đều đứng về một phía đó là người lao động. Như vậy, Đức Gioan Phaolô II đã phá đổ ý niệm giai cấp khi đề cao giá trị con người. Người giầu không tốt hơn người nghèo hay giới lao động; ý tưởng "mọi người đều là một công nhân" mời gọi chúng ta đóng góp cho xã hội và biểu lộ cá thể.
Điểm thứ hai mà Đức Gioan Phaolô II rút ra từ sự phân biệt giữa chiều kích khách quan và chủ quan của công việc, đó là phẩm giá của công việc phát xuất từ chiều kích chủ quan. Nói cách khác, điều đem lại phẩm giá cho công việc không phải là loại công việc nhưng chính là con người thi hành công việc. Qua sự cân nhắc này, một nông gia di dân, một nhân viên sở vệ sinh, một thợ rửa xe không kém giá trị hơn một bác sĩ, một kỹ sư hay một quản lý. Trong Laborem Exercens, đức giáo hoàng nói rất rõ về điểm này và sự liên hệ của nó với ý niệm giai cấp:
… căn bản để xác định giá trị công việc thì chính yếu không phải là loại công việc thi hành, nhưng sự thật là chính con người thi hành công việc đó. Các nguồn giá trị của công việc thì được tìm thấy trong chiều kích chủ quan, chứ không phải khách quan.
Một quan điểm như thế trên thực tế thật khác xa với sự phân biệt giai cấp cổ xưa của loài người theo công việc được thi hành. Điều này không có nghĩa, theo quan điểm khách quan, công việc loài người không thể và không nên định giá theo bất cứ cách nào. Nó chỉ có nghĩa: căn bản chính yếu của công việc chính là con người, là chủ thể của công việc. (đoạn 6)
Đức giáo hoàng không nói mọi công nhân đều được hưởng như nhau; ngài không nói không được có giai cấp về phương diện khách quan. Đúng ra, ngài nói phẩm giá căn bản của con người có liên hệ với công việc thì không xuất phát từ địa vị xã hội.
Lập trường của đức giáo hoàng có nhiều áp dụng thực tế. Mọi người đều lao động. Mọi người lao động phải nhớ rằng công việc là để phục vụ con người. Mọi người làm việc có cùng một phẩm giá mà nó không xuất phát từ loại công việc được thi hành. Mọi người làm việc đều có các quyền lợi, kể cả quyền được trả lương cũng như phúc lợi xứng đáng và quyền thành lập nghiệp đoàn để bảo vệ các phúc lợi quan trọng. Nói cho cùng, giới công nhân phải được chia sẻ trong việc quyết định cũng như quyền làm chủ công ty nơi họ làm việc. Những điểm thực tế này từng được nhấn mạnh trong giáo huấn Công Giáo về xã hội.
Thế giới thực tế dường như xa vời với quan điểm của đức giáo hoàng. Có thể nào đó là sự thật khi chúng ta coi mọi người đều bình đẳng về phẩm giá tinh thần theo một phương cách độc lập với địa vị xã hội của chúng ta hay không? Tác giả G.K. Chesterton diễn tả khả năng này như một trong các đặc tính độc đáo của Thánh Phanxicô Assisi:
Thánh Phanxicô tôn kính mọi người; đó là, ngài không chỉ yêu mến nhưng còn tôn trọng mọi người. Điều đã đem cho ngài sức mạnh lạ lùng này là; từ đức giáo hoàng cho đến người ăn xin, từ ông vua sang trọng trong sảnh đường đến kẻ trộm rách rưới trong rừng, không một ai khi nhìn vào đôi mắt nâu của Phanxicô mà không thấy rằng ngài thực sự quan tâm đến họ; trong đời sống nội tâm riêng tư từ chiếc nôi cho đến mộ phần; là chính họ được coi trọng và lưu tâm… ngài đối xử với đám đông quần chúng như với đám đông các vua.
Đối với đa số chúng ta, một khả năng như thế thì thật xa vời.
Thập Giá và Sự Phục Sinh
Chúng ta vẫn còn mơ hồ với công việc. Đức Gioan Phaolô II trở lại với vấn đề này trong đoạn sau cùng của Laborem Exercens. Một đằng, công việc là chia sẻ sự tạo dựng của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn tích cực hoạt động trong thế giới, và khi làm việc chúng ta dự phần trong hoạt động sáng tạo này một cách giới hạn trong khả năng chúng ta. Chính Đức Giêsu là một người lao động, một thợ mộc, là người quen thuộc với thế giới làm việc và là người thường đề cập đến giới lao động trong các dụ ngôn và giảng dậy của người.
Tuy nhiên, đằng khác, công việc thì vất vả và đau khổ, mồ hôi và nước mắt. Điều này có nghĩa gì?
Đức giáo hoàng đưa chúng ta về với thập giá của Đức Kitô. Công trình cứu chuộc của Đức Giêsu bao gồm nhiều đau khổ. Qua công việc, chúng ta chia sẻ trong thập giá Đức Kitô và ngay cả trong công trình cứu độ của Người. "Người ta chứng tỏ mình là môn đệ đích thật của Đức Kitô bằng cách vác thập của mình hằng ngày trong sinh hoạt mà họ được kêu gọi để thi hành" (đoạn 27).
Đức giáo hoàng cũng nhắc nhở chúng ta rằng thập giá dẫn đến sự cứu độ. Công việc chúng ta làm góp phần thực hiện một trái đất mới đang trông chờ sự cứu độ sau cùng qua sự ngự đến của vương quốc Thiên Chúa. Các kết quả tốt đẹp của công việc chúng ta làm thì phải kiên cường hy vọng đích thực của chúng ta qua sự hé mở một "tia sáng của đời sống mới."
Nói cách khác, trong chương sau cùng này đức giáo hoàng dùng ngôn ngữ tôn giáo để nhắc nhở chúng ta rằng công việc là một trong những phương cách chính yếu mà Kitô Hữu dự phần trong mầu nhiệm của Đức Kitô. Sự đau khổ trong công việc thì không thể từ chối, nhưng đúng hơn được xếp trong khung cảnh của mầu nhiệm này. Chúng ta không biết trả lời sao cho lý do của sự vất vả, nhưng chúng ta có thể nhìn đến thập giá và tin rằng, qua sự đau khổ của Đức Kitô, sự vất vả của chúng ta nói cho cùng cũng có một ý nghĩa nào đó.
Làm Việc và Nghỉ Ngơi
Trong Laborem Exercens đức giáo hoàng nói rằng làm việc và nghỉ ngơi cũng được chia sẻ trong sự sáng tạo của Thiên Chúa. Khi Sáng Thế Ký viết Thiên Chúa nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, chúng ta giải thích điều này như một nhận xét về sự thích hợp và ngay cả thánh thiện để nghỉ ngơi.
Đây là một điểm quan trọng phải nghĩ đến trong một xã hội mà sự mải mê làm việc đang gia tăng. Một người mải mê làm việc là người có xu hướng tìm một lối thoát qua công việc. Điều mà người mải mê làm việc thường tìm cách thoát khỏi là thiếu tự tin, không có nhiều giao tiếp với người khác, và một đời sống tinh thần bị cắt cụt. Sự mải mê làm việc có thể tạo địa vị xã hội và kiếm được nhiều tiền nhưng nó tiêu hủy đời sống của cá nhân cũng như gia đình.
Đức Giêsu không phải là người mải mê làm việc. Đức Giêsu không yêu cầu các bệnh nhân đau yếu, người bị qủy ám đứng xếp hàng dài để Người chữa trị từ sáng đến tối. Trong Phúc Âm, Đức Giêsu thường dành thời giờ để cầu nguyện và nghỉ ngơi.
Nghỉ ngơi và rảnh rỗi cũng quan trọng như công việc. Việc phát triển cũng như vui hưởng các giao tế nhân sự là một phần thiết yếu trong mục đích của chúng ta ở trên mặt đất này cũng như bất cứ sự góp phần xã hội nào. Đức Gioan Phaolô II nói rằng nhịp độ công việc và nghỉ ngơi "phải dành chỗ để con người chuẩn bị chính mình, bằng cách ngày càng trở nên giống với ý định của Thiên Chúa, vì sự 'nghỉ ngơi' mà Thiên Chúa dành cho các tôi tớ và bạn hữu của Người" (đoạn 25).
Tóm Lược
Trong chương này, chúng ta vừa thảo luận vài chiều kích về tinh thần cho công việc: mục đích của công việc, nguồn gốc giá trị của công việc, ý nghĩa của sự lao nhọc và thành đạt, và nhu cầu phải quân bình giữa lao động và nghỉ ngơi.
Tôi vẫn nghĩ rằng người thanh niên cho tôi biết về quyết định của anh khi chọn môn Sinh Thái Học là một khởi đầu tốt đẹp. Anh nhìn thấy một phương cách để sinh sống. Anh bị lôi cuốn đến một nghề nghiệp mà nó sẽ cho phép anh biểu lộ chính cá thể mình. Anh chưa nghĩ đến rằng công việc sẽ giúp anh góp phần cần thiết cho xã hội.
Anh sẽ thấy chính anh tương giao với các công nhân khác như thế nào? Từ đâu anh có được một cảm nhận về phẩm giá của chính anh trong công việc? Anh sẽ giải thích thế nào về sự lao nhọc và cực khổ không thể tránh của công việc? Anh có bị vùi lấp trong công việc không, hay anh vẫn còn một cảm nhận mạnh mẽ về các giao tế nhân sự và một tinh thần riêng tư?
Trong chương kế tới chúng ta sẽ bàn về những thay đổi căn bản trong cái nhìn và sự tương giao của người Công Giáo đối với Thiên Chúa.
Câu Hỏi Suy Tư Thêm
- Bạn có những cảm nghiệm tích cực hay tiêu cực về công việc đối với việc nuôi dưỡng các giao tế nhân sự tốt đẹp?
- Có phải các sinh viên ngày nay quá chú trọng đến việc kiếm tiền?
- Bạn có nghĩ đó là điều phổ thông khi người trẻ nghĩ đến sự góp phần cho xã hội khi họ chọn nghề nghiệp?
- Sự mải mê làm việc có phải là vấn đề lớn, hay đó chỉ là một khuynh hướng khi nói đến những người làm việc quá nhiều?
- Nghe có vẻ gượng gạo hay không khi đề nghị rằng người ta phải liên kết công việc làm với sự chết và sự sống lại của Đức Kitô?

|