Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 17: PHÁ VỠ MỘT SỰ TUẦN HOÀN

V

ợ chồng tôi có bốn đứa con trai. Hai đứa lớn dường như lúc nào cũng xung đột. Chúng chơi với nhau chỉ được giây lát, sau đó là những tiếng cãi cọ, "nó lấy ghế của con", "tao đâu có làm đâu," v.v.

Hôm qua cũng vậy. Hai đứa lớn chơi bóng rổ. Đứa tám tuổi thẩy banh vào rổ và bị hụt, thay vì đến phiên đứa sáu tuổi, nó vội vàng thẩy tiếp trái thứ hai. Thế là cãi nhau. Phải mất một thời gian để hai đứa có thể nói chuyện với nhau cách ôn tồn. Mặc dù cả hai hiểu rằng đây chỉ là trò chơi nhưng mỗi đứa đều bảo vệ lập trường của mình một cách hăng say và phun ra những lời lẽ xấu xa với đối phương.

Tôi tách rời hai đứa và vội vàng dỗ dành đứa sáu tuổi. Sau đó tôi sang nói chuyện với đứa tám tuổi. Khi không có thằng em ở bên cạnh thì nó như thể một đứa trẻ thật khác biệt.  Nó hết giận và sẵn sàng nói chuyện. Tôi nói với nó về kiểu cách gia đình mà chúng tôi phải có: một gia đình mà mọi người thương yêu nhau, không ai phải sợ ai, sẵn sàng tha thứ cho nhau. Nó đồng ý. Sau đó chúng tôi nói về sự tương giao của nó với thằng em sáu tuổi. Tôi gợi ra một khẩu hiệu rất hữu ích cho sự thảo luận về sau: tôi hỏi, "ai sẽ phá vỡ sự tuần hoàn này?"

Nó hiểu tôi muốn gì. Nó và đứa em bị kẹt trong một tương tranh với các nguồn gốc phức tạp từ trong quá khứ mà không phải lỗi của đứa nào cả. Chúng được sinh ra trong sự ganh đua. Đó là một tình trạng không-ai-thắng một khi chúng muốn bảo vệ. Một trong hai phải phá vỡ một thói quen ganh đua bằng cách thôi không bảo vệ nữa và thông cảm với người khác. Ai đó phải sẵn sàng khởi đầu một chu kỳ mới của sự tha thứ và yêu thương.

Đứa sáu tuổi sang nhà bạn nó chơi. Đứa tám tuổi đọc sách, học đàn, và xem đấu banh trên truyền hình. Chiều tối hôm đó, cả gia đình chúng tôi đi bơi và chúng lại thân thiện với nhau. Tất cả đều tốt đẹp--cho đến lần xung đột sắp tới.

Trong Chương Này

Trong chương này, chúng ta sẽ để ý đến sứ vụ của Đức Giêsu đối với các xung đột loài người. Sau khi thảo luận về ý nghĩa của tội nguyên tổ, chúng ta sẽ xem xét lời giảng dậy của Đức Giêsu về nước Trời. Bài này liên hệ với chương 5 của văn kiện Lumen Gentium.

Một Thói Quen Toàn Cầu

Trên mức độ toàn cầu, xã hội loài người có thể sánh với sự tương giao của mấy đứa con tôi. Có quá nhiều xung đột về giai cấp, phái tính, sắc tộc, quốc gia, và tín điều, với những phức tạp ăn sâu trong quá khứ đến độ không ai dám mơ ước sẽ tìm cách phân loại nó. Tất cả chúng ta được sinh ra trong một thế giới liên tục xung đột mà chính chúng ta không chịu trách nhiệm, nhưng chúng ta phải thừa hưởng và các điều kiện của thế giới đó lại dệt nên đời sống chúng ta. Nhiều người được hưởng lợi từ các tổ chức và hệ thống xã hội mà tự nó có những bất công. Nhiều người bị thiệt thòi vì sống trong một xã hội có những đặc điểm đối nghịch với họ. Khi sống trong thế giới, chúng ta trở nên các cộng tác viên bất đắc dĩ trong các cơ cấu mà nó góp phần gây nên sự đau khổ của nhân loại.

Chân lý sâu xa này là một phần của điều mà học thuyết Công Giáo cố gắng đối phó trong sự giảng dậy về tội nguyên tổ. Các hậu quả của tội lỗi trong quá khứ kết thành một thế giới mà chúng ta được sinh ra. Khi lớn lên, chúng ta tiếp thu các cơ cấu này. Chúng trở nên một phần của chúng ta. Dần dà chúng đưa dẫn chúng ta đến những quyết định sai lầm, tội lỗi.

Một thí dụ hiển nhiên là kỳ thị chủng tộc. Nếu một người sinh trong một gia đình và làng xóm vô cùng kỳ thị chủng tộc thì cho đến thời điểm nào người ấy phải chịu trách nhiệm về sự kỳ thị của chính họ? Đây là một vấn đề khó khăn để phân loại. Điều càng làm vấn đề khó khăn hơn là vì có nhiều cơ cấu tội lỗi mà chúng ta không cho đó là xấu xa chỉ vì chúng đã ăn sâu vào con người chúng ta. Một số người "thành công" về phương diện xã hội lại không thấy có vấn đề gì trong các cơ cấu xã hội và kinh tế, và họ nghĩ rằng nếu ai cũng như họ thì thế giới sẽ là một nơi tuyệt hảo. Một số người bị thiệt thòi thì nghĩ rằng không có gì sai lầm khi họ lừa đảo bởi vì chưa bao giờ chính họ được đối xử công bằng.

Thế giới thì tốt lành về cơ bản, và xã hội loài người tượng trưng cho một thành đạt đáng kể. Nhưng thế giới cũng còn khó khăn vì nghèo đói, thiếu phương tiện y học, chiến tranh, và sự hủy hoại môi sinh trên phương diện rộng lớn. Thế giới thứ nhất thì đổ lỗi cho thế giới thứ hai và thế giới thứ ba. Thế giới thứ hai và thứ ba lại đổ lỗi cho thế giới thứ nhất. Các vũ khí nguyên tử ở vị thế sẵn sàng khi các cuộc khủng bố quốc tế gia tăng. Ai sẽ là người phá vỡ sự tuần hoàn này?

Tôi không muốn đưa ra bất cứ giải pháp nào có tính cách mơ hồ hay không tưởng đối với các nan đề phức tạp của thế giới. Đức tin Công Giáo của tôi kêu gọi đừng trở nên người mơ mộng điên rồ, nhưng tốt hơn hãy có một hy vọng thực tiễn là sự cộng tác với Thiên Chúa có thể giúp chúng ta đi đúng hướng. Nhưng ai là người sẽ phá vỡ sự tuần hoàn này?

Có nhiều kiểu cách uyên thâm để giải thích về Đức Giêsu. Tôi nghĩ một cách hữu ích để nhìn đến Đức Giêsu là coi việc giáng thế của Người là để phá vỡ sự tuần hoàn. Người soi sáng con đường và chỉ lối cho chúng ta. Con đường là hành trình đến nước Trời. Phương cách để theo con đường này là qua tình yêu tự hiến. Trong chương này chúng ta sẽ chú ý đến sự giảng dậy của Đức Giêsu về nước Trời.

Vương Quốc Tình Yêu

Khi tôi chia sẻ với con tôi về hình ảnh tương lai của gia đình, điều đó chỉ là một phần nhỏ so với những gì mà Đức Giêsu đang thực hiện khi Người giảng dậy về nước Trời và tương lai của gia đình nhân loại. Dĩ nhiên, sự giảng dậy của Đức Giêsu thì mạnh mẽ hơn và bí ẩn hơn nhiều. Khi được diễn tả trong các phúc âm, Đức Giêsu không đưa ra một hình ảnh rõ ràng với các giá trị được xác định; thay vào đó, Người giảng dậy qua sự rao giảng, các dụ ngôn, chữa lành và thí dụ.

Việc ngự đến của nước Trời là tâm điểm của tất cả những giảng dậy của Đức Giêsu. Trong Phúc Âm Máccô, mà hầu hết các học giả nghĩ rằng phúc âm đầu tiên, điều đầu tiên Đức Giêsu nói là: "Đây là thời điểm hoàn mãn. Vương quốc Thiên Chúa đã cận kề. Hãy thay đổi đời sống và tin vào phúc âm" (Mc 1:15). Vương quốc Thiên Chúa đang đến; nó ngay trong tầm tay của chúng ta; nó ở trong chúng ta. Điều giúp chúng ta có được vương quốc này là thiện ý của chúng ta và nỗ lực thay đổi đời sống.

Đức Giêsu nhấn mạnh rằng chúng ta phải luôn sẵn sàng khi nước Trời đến. Người kể câu chuyện của các đầy tớ không chuẩn bị khi ông chủ về, và các trinh nữ không chuẩn bị đèn cháy sáng khi chàng rể đến. Người nói, "Hãy luôn luôn canh chừng! Hãy tỉnh thức! Các con không biết khi nào thời điểm định trước sẽ đến" (Mc 13:33).

Kinh Lạy Cha là kinh nói về sự ngự đến của vương quốc này:

Nước Cha trị đến
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời

Người ta có thể diễn giải câu này khi nói rằng vương quốc Thiên Chúa hiện diện ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào mà thánh ý của Thiên Chúa được thể hiện. Đức Giêsu đã minh họa điều này qua lời cầu nguyện của Người trong Vườn Giệtsimani, khi Người suy nghĩ về cái chết cận kề: "Cha ơi, Cha có quyền thi hành mọi sự. Xin hãy cất đi chén này cho con. Nhưng hãy để điều đó xảy ra như ý Cha muốn, chứ không phải ý con" (Mc 14:36). Cũng như Đức Giêsu đưa nước Trời ngự đến qua sự vâng phục thánh ý Chúa Cha, Người cũng kêu gọi chúng ta đến với nước Trời qua sự tìm kiếm và vâng phục ý Chúa.

Nói cho cùng, thánh ý của Thiên Chúa là chúng ta yêu thương nhau. Khi được hỏi điều răn nào cao trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:

Người phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi

hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi.

Đây là điều răn đầu tiên và cao trọng nhất. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu thương tha nhân như chính mình. (Mt 22:37-39)

Khi Đức Giêsu nói lời giã biệt trong bữa Tiệc Ly, Người nói:

Như Chúa Cha yêu mến Thầy thì Thầy cũng yêu mến các con. Hãy sống trong tình yêu của Thầy. Các con sẽ sống trong tình yêu của Thầy nếu các con giữ các điều răn của Thầy, cũng như Thầy từng giữ các giới răn của Cha Thầy, và sống trong tình yêu của Người.

Thầy nói với các con tất cả những điều này để niềm vui của Thầy sẽ là của các con và niềm vui các con sẽ được trọn vẹn. Đây là giới răn của Thầy: hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con (Gioan 15:9-12).

Đã có sự cay đắng trong điều răn yêu thương nhau. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ về điều răn như các bó buộc cứng ngắc. Được ra lệnh yêu thương nhau là giới răn tốt nhất mà chúng ta hy vọng; đó chính là điều chúng ta thực sự muốn xảy ra cho chính mình.

Phúc Cho Người Nghèo Khó

Việc yêu thương lẫn nhau dẫn đến sự lưu tâm người nghèo và người bên lề xã hội cách đặc biệt. Đức Giêsu đến với những người mà người khác không thể chấp nhận. Người ăn tối tại nhà ông Giakêu, một người thu thuế chẳng ai ưa (Luca 19:1-10). Người kể câu chuyện về những người ăn xin, và người què được mời vào dự tiệc (Luca 14:12-24). Người phá vỡ truyền thống khi trò chuyện với phụ nữ Samari ở giếng nước, và ngay cả đưa người Samari bị ghét bỏ trở thành anh hùng trong dụ ngôn khi giúp đỡ một người Do Thái bị bọn cướp bóc lột và đánh đập trong khi những người Do Thái đáng kính khác thì lại bỏ qua (Luca 10:25-36). Đức Giêsu còn bao gồm trong gia đình của Người tất cả những ai chia sẻ tình yêu và quan điểm của Người, và không nhất thiết chỉ những ai có liên hệ máu mủ với Người. Khi được cho biết mẹ và anh em Người ở bên ngoài, Người trả lời: "Ai là mẹ tôi và anh em tôi?" Và nhìn đến những người ở chung quanh, Người nói tiếp: "Đây là mẹ tôi và anh em tôi. Bất cứ ai thi hành ý Chúa là anh chị em tôi và mẹ tôi" (Mc 3:33-35).

Đức Giêsu dậy rằng chúng ta không được chọn lựa hay loại trừ những người mình yêu thương. Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giêsu nói:

Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? (Mt 5:44-46)

Bài Giảng Trên Núi thì đầy những giảng dậy có tính cách khiêu khích và thách đố để cho thấy không ai có thể sống đúng lề luật một cách tuyệt hảo. Bởi đó chúng ta phải liên hệ với người khác một cách khiêm tốn vì chính chúng ta cũng có những khuyết điểm và sai lầm. Chúng ta không ngồi đó mà phán đoán kẻ khác; nếu không, chính chúng ta có thể bị xét xử.

Tân Ước cho thấy Đức Giêsu nhấn mạnh đến sự nguy hiểm của giầu sang vật chất khi muốn vào nước Trời. Người nói, "Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa" (Mt 19:23-24). Nhưng Đức Giêsu nói thêm, tuy điều đó đối với con người thì không thể nào được, nhưng với Thiên Chúa mọi sự đều có thể. Trong tám mối phúc thật, Đức Giêsu công bố, "Phúc cho người có tinh thần nghèo khó; vì nước Trời là của họ" (Mt 5:3). Trong Luca Người còn nói rõ ràng hơn, "Phúc cho người nghèo," mà không thêm chữ "tinh thần" (Luca 6:20).

Hơn các tác giả phúc âm khác, Luca trình bầy Đức Giêsu như quở trách người giầu, điều này khiến các học giả suy đoán rằng vấn đề giầu nghèo là mối quan tâm hàng đầu đối với cộng đoàn mà Luca đề cập đến. Trong Luca, Đức Giêsu kể câu chuyện của một người giầu dại dột muốn tích trữ thêm nhiều của cải mà không biết rằng chính đêm hôm đó ông ta sẽ chết và chẳng đem theo được gì (Luca 12:16-21). Chính trong Phúc Âm Luca mà Đức Giêsu nói rằng người nghèo và người tàn tật được mời vào dự tiệc; rồi không ai có thể làm tôi hai chủ, là Thiên Chúa và tiền của; rồi người phú hộ không lưu tâm gì đến ông Lagiarô nghèo hèn sẽ bị thiêu đốt trong hỏa ngục; rồi người thanh niên giầu có không muốn từ bỏ của cải để theo Đức Kitô; rồi bà goá nghèo tuy đóng góp phần nhỏ nhưng lại cho nhiều hơn người giầu vì bà đã cho đi những gì cần thiết; và rồi người lớn nhất phải là người phục vụ.

Các câu truyện trong các Phúc Âm khác dường như làm nhẹ bớt hay tối thiểu đưa các khuyến cáo người giầu có của Đức Giêsu vào một văn mạch đặc biệt. Thí dụ, trong Phúc Âm Gioan, khi Giuđa than phiền là về sự phí phạm dầu được xức cho Đức Giêsu và lẽ ra phải được đem bán để lấy tiền cho người nghèo, thì Đức Giêsu trả lời, "Người nghèo thì anh em lúc nào cũng có. Nhưng không phải lúc nào anh em cũng có Thầy" (Gioan 12:8). Tuy nhiên, bất kể chúng ta có giải thích hay diễn giảng cách nào đi nữa, các khuyến cáo của Đức Giêsu thì quá hiển nhiên không thể bỏ qua được.

Các Câu Chuyện về Nước Trời

Điều hiển nhiên trong Tân Ước là Đức Giêsu dùng nhiều dụ ngôn để giảng dậy. Dụ ngôn là các câu chuyện cô đọng đầy ý nghĩa. Cho đến bây giờ thì bạn không thể ngạc nhiên khi biết các dụ ngôn của Đức Giêsu là những câu chuyện về Nước Trời.

Các dụ ngôn hay có các đặc tính tương tự. Hầu hết chất liệu của dụ ngôn được rút ra từ các biến cố thường ngày. Qua đó chúng đề ra một vài điều mà người ta phải mong đợi. Sau đó chúng phô bầy các mong đợi này. Vì vậy chúng lại đổi hướng người nghe đến một mức độ hiểu biết mới.

Các đặc tính của Dụ Ngôn

  • Sự lưu tâm về nước Trời
  • Rút các dữ kiện từ cuộc sống hàng ngày
  • Đề ra những trông đợi thông thường
  • Ngăn cản các mong đợi đó
  • Đổi hướng người nghe
  • Mở ra nhiều sự dẫn giải

Các dụ ngôn của Đức Giêsu thường không thể dẫn giải thành một ý nghĩa. Chúng có thể được dẫn giải như có nhiều mức độ ý nghĩa. Chúng không nhằm truyền đạt một số dữ kiện rõ ràng về nước Trời; đúng hơn, chúng nhằm ảnh hưởng mạnh đến lương tâm của người nghe. Chúng đem lại cho người nghe một cảm nhận về nước Trời như thế nào mà điều đó khó diễn tả nếu không lập đi lập lại câu chuyện.

Sau đây là một thí dụ:

"Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?" Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi". Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!" Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất". Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt". Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?" Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. (Mt 20:1-16).

Chúng ta biết dụ ngôn này nói về Nước Trời vì, cũng như nhiều dụ ngôn khác, nó bắt đầu bằng câu, "Nước Trời giống như ..." Nó lấy chất liệu từ biến cố thường ngày của việc thuê mướn thợ làm vườn nho. Chúng ta thường mong đợi: Người làm lâu hơn phải được trả nhiều hơn. Sự mong đợi đó bị cản trở bởi ông chủ là người tuyên bố rằng sự độ lượng của ông đối với người khác không khiến ông bất công đối với những người kia. Điều này có liên can gì đến Nước Trời?

Thay vì đưa ra một giải thích, tôi sẽ chia sẻ một vài dẫn giải mà các sinh viên trong lớp đã phát biểu. Trước hết là sự dẫn giải theo kiểu "gần chết mới hoán cải" thì nhấn mạnh rằng dù người ta có sống bê bối đến đâu đi nữa cũng có thể được cứu độ nếu hối cải. Một dẫn giải khác là sự công bằng của Thiên Chúa thì khác với loài người, và chúng ta không thể hiểu tại sao nhiều điều trong cuộc đời này lại dường như bất công. Tuy nhiên, một dẫn giải khác lại nhấn mạnh đến chủ đề là trong nước trời, người trước hết sẽ là sau chót và người sau chót sẽ là trước hết. Nhưng vẫn còn một dẫn giải khác cho rằng những ai mới bắt đầu đời sống tâm linh cũng có thể gần Chúa như những người từng có đời sống tâm linh nhiều năm; tính cách thâm niên không đáng kể khi nói đến sự thánh thiện.

Điều quan trọng nhất của dụ ngôn thì không phải là cách giải thích nhưng dụ ngôn ấy gây ấn tượng gì nơi bạn. Các ý nghĩa liên tục cũng giống như các trái bom nhỏ lần lượt bùng nổ. Khi bạn bị chấn động, bạn biết rằng mình đang sẵn sàng mở lòng cho sự ngự đến của Nước Trời.

Theo Chúa Giêsu

Sự giảng dậy của Chúa Giêsu về nước trời đem lại cho chúng ta một ý niệm mơ hồ về điều có thể xẩy ra nếu nhân loại trút bỏ những bào chữa, đến với người khác trong yêu thương, và cùng nhau tìm kiếm thánh ý Chúa. Lumen Gentium nói về "một vương quốc của chân lý và sự sống, một vương quốc của thánh thiện và ơn sủng, một vương quốc của công bằng, tình yêu và hòa bình" (LG 36). Tự giáo hội thì chưa trọn vẹn là một vương quốc, nhưng là hạt giống của vương quốc ấy (LG 5). Giáo hội thì không phải không có những bất toàn, nhưng cố gắng trở nên một cộng đồng gương mẫu mà trong đó tình yêu thực sự là lời nói đầu tiên và sau cùng. Giáo hội cũng hoạt động như men trong thế giới, hướng thế giới về nước trời (Gaudium et Spes, 40).

Người tín hữu Kitô tin rằng Chúa Giêsu, qua đời sống, sự chết và sự phục sinh, Người đã phá vỡ vòng tội lỗi của hận thù và duy lý đang kềm hãm chúng ta, không để chúng ta chuẩn bị chào đón nước trời đang đến. Chúa Giêsu không bào chữa, chỉ giảng dậy chân lý, hành động vì tình yêu hy sinh, và chết như một người vô tội. Kitô hữu có thói quen dẫn giải sự phục sinh như dấu chỉ sau cùng mà Thiên Chúa chứng nhận con đường của Đức Giêsu đã đi qua. Sự sống và cái chết của Đức Giêsu đã được minh xác qua sự sống lại của Người từ kẻ chết.

Một cách để hiểu lời mời gọi mọi người đến sự thánh thiện của chương thứ năm của Lumen Gentium là coi đó như một mệnh lệnh mà tất cả Kitô Hữu phải theo Đức Kitô khi phá vỡ vòng tội lỗi. Chúa Giêsu dậy chúng ta yêu thương ngay cả kẻ thù và làm điều tốt cho người ghét bỏ chúng ta. Người đã phá vỡ vòng tội lỗi bằng một đời sống dựa trên tình yêu. Lumen Gentium nói rằng muốn tình yêu được triển nở, "mỗi một tín hữu phải sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa và chấp nhận thánh ý của Người, và phải hoàn tất những gì mà Thiên Chúa đã khởi sự qua chính hành động của họ với ơn phù trợ của Thiên Chúa" (LG, 42). Theo Chúa Giêsu là phá vỡ vòng tội lỗi bằng cách đưa tình yêu thành nền tảng đời sống: "Chính tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân xác định người môn đệ đích thực của Đức Kitô" (LG, 42).

Tóm Lược

Trong chương này chúng ta vừa khảo sát sự giảng dậy của Chúa Giêsu. Chúng ta chú trọng đến tuyên ngôn nước trời của Chúa Giêsu, sự lưu tâm đặc biệt của Người đối với người nghèo, và các dụ ngôn của Người. Qua lời nói và hành động, Chúa Giêsu dậy bảo dân chúng làm thế nào để phá vỡ vòng tội lỗi.

Vòng tội lỗi có nhiều nguồn gốc sâu xa và không thể khám phá nổi. Nguồn gốc của chúng thì cá biệt, nhưng nó lan tràn ra các lãnh vực xã hội, kinh tế và chính trị. Như tôi nói lúc đầu, tôi không cố gắng trở nên một người không tưởng hay mơ mộng trong những kỳ vọng về điều mà chúng ta có thể biến thế giới này trở thành. Tuy nhiên, tôi cũng không muốn coi thường sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn có thể xảy ra khi một người thực sự hoán cải, tha thứ kẻ khác, và tìm cách đưa Nước Trời ngự đến. Có thể một ngày nào đó, con cháu chúng ta sẽ chấm dứt đánh nhau.

Sau khi đã khảo sát sự tương giao về tâm linh với Chúa Cha và Chúa Giêsu, trong chương tới chúng ta sẽ quay về với Chúa Thánh Thần.

Câu Hỏi Suy Tư Thêm

  1. Làm sao một người có thể biết được ý Chúa?
  2. Bạn hiểu thế nào về tội nguyên tổ?
  3. Những cảnh cáo của Chúa Giêsu có thể được áp dụng thế nào đối với người giầu có ngày nay?
  4. Bạn nghĩ gì khi nghe nói về Nước Trời?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com