|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 20: THẦN HỌC GIẢI PHÓNG và CỘNG ĐỒNG KITÔ GIÁO
hiều cuốn sách và phim ảnh có thể giúp chúng ta trưởng thành khi giúp chúng ta thấy được sự việc qua những viễn cảnh khác nhau. Khi thấy chúng ta và thế giới qua cái nhìn của người khác điều đó có thể là một ơn huệ lớn, nhưng nó cũng có thể là một điều khủng khiếp. Nếu thấy được thực tại một cách khác biệt, chúng ta có thể thay đổi. Có thể chúng ta tiếp nhận một giá trị mới, có những quyết định mới, và thay đổi lối sống.
Một phương cách tương đối mới để nhìn về thần học hiện đang phổ thông ở Châu Mỹ La Tinh và lan tràn khắp thế giới được gọi là "thần học giải phóng." Các thần học gia của phái này kêu gọi mọi người hãy nhìn sự việc qua viễn cảnh rất đặc biệt: cái nhìn của người nghèo. Người ta càng ý thức về viễn cảnh này bao nhiêu thì người ta sẽ thay đổi và trưởng thành bấy nhiêu.
Trong Chương Này
Chương này sẽ giới thiệu một số ý niệm căn bản của các thần học gia giải phóng, và chính yếu nhắm đến ý tưởng của họ về giáo hội. Tôi sẽ dựa vào công trình nhiều tranh luận của thần học gia người Brazil, Leonardo Boff, cuốn Church: Charism and Power (Giáo Hội: Ơn Đoàn Sủng và Quyền Lực). Thần học gia giải phóng rất nhấn mạnh đến các hình thức mới của cộng đồng Kitô Giáo, và vì thế có thể liên hệ đến chương 6 của Lumen Gentium. Thần học gia giải phóng cũng có thể liên hệ đến vấn đề công bằng xã hội lan tràn khắp Vatican II.
Các Điều Kiện Quá Quắt
Nói cho cùng thần học giải phóng tán thành hoạt động chính trị nhân danh đức ái Kitô Giáo; tuy nhiên nó bắt nguồn từ sự vi phạm trắng trợn về điều kiện của người nghèo trong các quốc gia Châu Mỹ La Tinh. Boff nói về chính quê hương Brazil của ông:
Thí dụ ở Brazil, 75 phần trăm dân chúng sống trong tình trạng kinh tế bên lề xã hội; 43 phần trăm bị ép buộc phải nhận lương tối thiểu để sống còn. Một công nhân từ São Paolo, Manuel Paulo, nói rất đúng: "Tôi kiếm được rất ít, chỉ để chứng tỏ rằng tôi vẫn sống sót…" 40 phần trăm người Brazil sống, làm việc, và đi ngủ với cơn đói kinh niên; có đến 10 triệu người bị bệnh tâm thần vì suy dinh dưỡng; 6 triệu người đau khổ vì sốt rét; 650,000 người bị lao và 25,000 đau khổ vì bệnh cùi.
Các thần học gia giải phóng tin rằng Phúc Âm phải đề cập đến những điều kiện khốn cùng như thế này. Có thể nào đó là thánh ý của một Thiên Chúa nhân ái khi nhiều triệu người phải sống trong nghèo nàn hèn hạ? Hay trong đức tin Kitô Giáo có lời mời gọi nào để hoạt động nhằm vơi bớt sự khổ cực này?
Các Cộng Đồng Căn Bản Giáo Hội
Ông Boff cho rằng thần học giải phóng không bắt nguồn từ sự suy đoán của các thần học gia, nhưng bắt nguồn từ cảm nghiệm của các Kitô Hữu thường đến cầu nguyện chung để đọc Kinh Thánh và suy gẫm về ý nghĩa của nó. Các nhóm này thường khoảng mười lăm đến hai mươi gia đình. Ông Boff đã đưa ra giải thích sau về tổ chức được gọi là communidades ecclesiales de base, hay cộng đồng căn bản giáo hội:
Nguyên thủy, một cộng đồng như vậy giúp đức tin của các thành viên sâu đậm hơn, chuẩn bị phụng vụ, bí tích, và đời sống cầu nguyện. Ở mức độ cao hơn các thành viên này bắt đầu giúp đỡ lẫn nhau. Khi họ càng chặt chẽ và suy niệm sâu xa hơn, họ nhận ra rằng các vấn đề mà họ đương đầu có một đặc tính cơ cấu. Điều kiện sống bên lề xã hội của họ được coi như một hậu quả của tổ chức ưu đãi, tư nhân làm chủ, đó là, cơ cấu kinh tế xã hội của hệ thống tư bản. Do đó, các vấn đề chính trị được nêu lên và ước muốn giải phóng được hình thành trong một khung cảnh cụ thể và lịch sử. Cộng đồng coi điều này không chỉ là một sự giải phóng khỏi tội lỗi nhưng còn là sự giải phóng mang các chiều kích kinh tế, chính trị, và văn hóa.
Tuy các cộng đồng căn bản giáo hội vẫn chỉ là thiểu số ở Châu Mỹ La Tinh, các tổ chức này đã phát triển nhanh chóng trong các quốc gia như Brazil, Colombia, và El Salvador. Họ bao gồm việc đọc Kinh Thánh với sự phân tích kinh tế và xã hội là các nguyên nhân gây nên những khó khăn để khích lệ họ đi đến hành động chính trị có tổ chức. Tuy một số thần học gia giải phóng cổ võ sự bạo động, hầu hết đã mạnh mẽ ủng hộ các hoạt động cách mạng bất bạo động.
Theo ông Boff, các cộng đồng căn bản giáo hội có liên can đến toàn thế giới vì bản chất của giáo hội Công Giáo. Ông chỉ trích các hoạt động giáo hội hiện thời vì nặng ở đỉnh và quan liêu, lấy hứng khởi từ Rôma và các cơ cấu phong kiến hơn là từ Phúc Âm. Ông thấy giáo hội trong chính quê hương ông như một giáo hội từng đi với giới giầu để đàn áp giới nghèo. Trái lại, cộng đồng căn bản giáo hội đại diện cho một xã hội lý tưởng, không giai cấp mà trong đó mọi phần tử có thể góp phần cách trọn vẹn. Các cộng đồng này lưu tâm đến những người bị tước quyền sở hữu và thực sự cử mừng ý nghĩa giải phóng Kitô Giáo.
Ông Boff làm nổi bật sự tương phản này bằng cách diễn tả hai loại quyền lực. Quyền lực thống trị là quyền lực của giới cai trị đàn áp muốn tước đoạt quyền hành của những người bị trị. Giới cầm quyền càng có quyền bao nhiêu, người dân càng ít quyền bấy nhiêu. Giới cai trị nắm quyền kiểm soát người khác để thi hành các công việc có lợi cho họ. Trái với quyền thống trị là quyền trao ban, quyền của Chúa Giêsu, quyền của tình thương. Những ai có loại quyền này thường muốn chia sẻ với người khác. Loại quyền này giúp cho người khác có khả năng làm việc cho chính bản thân và cho ích lợi chung. Một người có thêm quyền thì cả tập thể càng có quyền.
Trong cái nhìn của ông Boff, các cộng đồng căn bản giáo hội đem lại khởi điểm cho sự tái sinh của giáo hội Công Giáo từ dưới đi lên. Đó là, ông Boff hình dung ra một hệ thống liên kết các cộng đồng căn bản giáo hội toàn thế giới mà nó sẽ thấm nhập một tinh thần mới của tình yêu bình đẳng trong toàn thể giáo hội. Ông rút ra từ hình ảnh của bà Sara, vợ ông Abraham, đã một trăm tuổi và nghĩ rằng bà không thể mang thai. Giáo hội cũ với quyền lực thống trị cũng giống như bà Sara; các cộng đồng căn bản giáo hội như một sự sống mới trong lòng mẹ:
Bà Sara mỉm cười, vì trước đây cằn cỗi nhưng bây giờ đã có khả năng sinh sản, bà trở nên một tạo vật mới! Bà Sara đã thụ thai. Ở đó, trong lòng bà Sara, các dấu hiệu của một đời sống mới đã khởi sự ló dạng: một giáo hội mới được khai sinh, trong sự thoái lui của nhân loại.
Kinh Thánh Giải Phóng
Các thần học gia giải phóng nhìn đến Kinh Thánh như một nguồn cội của đức tin. Họ chú trọng đặc biệt đến câu chuyện trong sách Xuất Hành khi Thiên Chúa đứng về phía người nô lệ Do Thái chống với kẻ đàn áp, là Pharaô người Ai Cập. Thiên Chúa nghe tiếng than van của họ, đã đưa ra một người lãnh đạo, và gây ra tật bệnh trên kẻ đàn áp cho đến khi sau cùng dân Chúa được giải thoát khỏi cảnh nô lệ.
Các thần học gia giải phóng cùng lên tiếng với Môsê, "Hãy phóng thích dân tôi." Họ so sánh hoàn cảnh của người nghèo ở Châu Mỹ La Tinh với hoàn cảnh của người nô lệ Do Thái. Họ giải thích sự cứu độ đến từ Thiên Chúa không chỉ là một vấn đề tinh thần liên can đến sự phán xét sau cùng của một cá nhân, nhưng còn là một vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội có những ẩn ý ngay ở đây và ngay bây giờ.
Câu chuyện của Chúa Giêsu cũng đặc biệt thu hút các thần học gia giải phóng, họ chú ý đến chức năng của Chúa Giêsu như một người giải phóng dân chúng. Họ nêu bật những điều Chúa Giêsu khiển trách người giầu, sự lưu tâm đặc biệt của Chúa với người nghèo và người bị tước quyền xã hội, những cuộc đụng độ giữa Chúa Giêsu và giới thẩm quyền tôn giáo và chính trị, và quyền năng phục sinh của Chúa như sự giải thoát sau cùng khỏi cái chết. Chúa Giêsu không chỉ giải thoát chúng ta khỏi tội cá nhân mà còn thoát khỏi các cơ cấu tổ chức của tội lỗi đã làm lu mờ các tương giao nhân bản bởi kềm kẹp con người trong các điều kiện ghê tởm của nghèo nàn và tuyệt vọng.
Lựa Chọn Ưu Tiên cho Người Nghèo
Các thần học gia giải phóng trích dẫn từ Kinh Thánh để nói về điều mà họ gọi là "lựa chọn ưu tiên cho người nghèo," là một thành ngữ đã len lỏi vào một số văn kiện giáo hội, kể cả các diễn từ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thành ngữ này lấy cảm hứng từ phương cách mà trong đó Thiên Chúa được trưng ra như đặc biệt lưu tâm đến người nghèo--trong luật lệ của Do Thái và trong giảng dậy của các ngôn sứ, cũng như trong con người và sự giảng dậy của Chúa Giêsu. Thành ngữ này đã được diễn giải theo nhiều phương cách. Một số người nói rằng "nghèo" có thể ám chỉ nhiều loại nghèo nàn, không chỉ nghèo vật chất, nhưng còn sự cô đơn, sự ghét bỏ, và chèn ép. Theo phương cách này người ta có thể nói rằng Thiên Chúa lưu tâm đặc biệt đến tất cả mọi người để đáp ứng với các nhu cầu sâu xa nhất của họ.
Có lần tôi đưa ra cách giải thích trên với một thần học gia giải phóng đến thăm trường mà tôi đang dậy. Hầu như ông trả lời một cách khinh miệt: "Ối chà! Ông muốn biết nghèo khổ là gì hả? Cứ đến quê hương tôi và tôi sẽ cho ông thấy nghèo là gì." Ông tin là tôi đang chước giảm ý nghĩa của "nghèo nàn" để khỏi bị thách đố trong tư tưởng. Sự nghèo nàn đích thực là sự ghê tởm của việc mất mát vật chất mà người dân của ông đang cảm nghiệm. Nếu tôi tái định nghĩa sự nghèo nàn bao gồm sự cô đơn của những người giầu sang vật chất, tôi sẽ lấy đi tính cách khẩn trương phải thi hành điều gì đó được coi là vấn đề của người dân của ông.
Một câu hỏi chung mà các sinh viên thường nêu lên vào lúc đó là Thiên Chúa có lưu tâm đến tất cả mọi người hay không. Câu trả lời tôi nghe được từ vị thần học giải phóng đó là sự ưu tiên cho người nghèo bao gồm cả sự lưu tâm đặc biệt cho tất cả mọi người. Vì không ai thực sự được phục vụ tốt đẹp bởi hoàn cảnh chèn ép. Người đàn áp bị trói buộc và giới hạn bởi hoàn cảnh giống như người bị đàn áp. Người làm chủ thì không có nhân bản bởi chính sự kiện khi làm chủ người nô lệ. Khi người nô lệ được phóng thích, người làm chủ trước đây được giải thoát khỏi sự ràng buộc khi là người đàn áp. Người chủ trước đây bây giờ có nhiều cơ hội để trở nên một con người thật sự nhân bản khi họ giao du với những người trước đây là nô lệ.
Trong kiểu giải thích này, "ưu tiên cho người nghèo" đòi hỏi người ta nhìn thực tại qua con mắt của người nghèo. Nếu không ý thức thực tại đó qua con mắt người nghèo thì họ không chạm được với thực tế. Bởi đó, các quyết định phải được thi hành với sự lưu ý đến người nghèo. Luật gia Robert Rodes giải thích sự ưu tiên cho người nghèo theo phương cách này: Đó là "nhận thức rõ các mối lợi đặc biệt của giới thống trị và quyết định trái với các mối lợi đó." Dù một người có thực sự nghèo hay không, họ phải liên đới với người nghèo và hoạt động để thay đổi xã hội vì hạnh phúc của người nghèo. Trong phương cách này, các thần học gia giải phóng hỗ trợ việc thay đổi không chỉ có giáo hội, nhưng còn thay đổi xã hội, từ dưới lên trên.
Một câu hỏi khác thường được nêu lên về ưu tiên cho người nghèo là liệu rằng nó có đại diện cho việc vinh danh sự nghèo nàn hay không. Bất cứ ai đọc nhiều về thần học giải phóng họ sẽ không thắc mắc về câu hỏi này. Các thần học gia giải phóng khinh miệt sự tước đoạt vật chất. Điều họ cổ võ thì không phải là sự nghèo nàn mà là sự công bằng. Họ yêu thương người nghèo không phải vì sự nghèo nàn nhưng vì họ tượng trưng cho diện mạo của Đức Kitô là Người xuất hiện trong tất cả những ai có nhu cầu. Các thần học gia giải phóng kêu gọi hoạt động để đảo ngược các bất công đã góp phần hạ giá nhân phẩm. Họ không vinh danh sự nghèo nèn bất cứ cách nào.
Kiểu Mẫu Giáo Hội I: Cộng Đồng Dân Chúa
Khi nhấn mạnh đến các cộng đồng căn bản giáo hội và giáo hội địa phương, các thần học gia giải phóng lưu ý đặc biệt đến một lối giải thích của Avery Dulles gọi là kiểu mẫu "hiệp thông mầu nhiệm" của giáo hội. Những người đề xướng kiểu mẫu "hiệp thông mầu nhiệm" có thể chia làm hai: những người thích hình ảnh "Thân Thể Đức Kitô" và những người thích hình ảnh "Dân Chúa." Leonardo Boff thì đại diện cho các thần học gia giải phóng nói chung chú trọng đến giáo hội như "Dân Chúa". Ông giải thích sự phát sinh hình ảnh này như một trong những biến cố quan trọng nhất ở Công Đồng Vatican II vì hai lý do.
Thứ nhất, kiểu mẫu "Dân Chúa" cho thấy sự chuyển hướng từ một giáo hội quá chú trọng đến phẩm trật và cơ cấu tổ chức sang một giáo hội chú trọng đến người dân với những khó khăn và sự vật lộn hằng ngày. Ông Boff không hỗ trợ việc tách biệt hàng giáo phẩm, nhưng ông muốn thấy chức năng lãnh đạo của hàng giáo phẩm được đóng khung trong nhiều chức năng lãnh đạo khác do dân Chúa đảm nhận. Đối với ông Boff, chức năng lãnh đạo của hàng giáo phẩm chỉ là một trong nhiều ơn đoàn sủng. Nó cần được quý trọng nhưng đừng để lợi dụng. Các nhà lãnh đạo phải hành xử như người phục vụ dân, và đừng hành động như thể họ cao hơn hay tốt hơn bất cứ Kitô Hữu nào khác. Hình ảnh "Dân Chúa" gợi lên hình ảnh của một giáo hội với tinh thần hoàn toàn bình đẳng, một giáo hội đang được tái sinh từ dưới lên trên.
Thứ hai, kiểu mẫu "Dân Chúa" đòi hỏi một giáo hội phải sẵn sàng thay đổi. Trong quan điểm của ông Boff, giáo hội này đã được thiết lập bởi các tông đồ dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần vào ngày Hiện Xuống. Chúa Thánh Thần hướng dẫn các tông đồ xây dựng một giáo hội để đáp ứng với các nhu cầu của thời đại. Chính Thánh Thần đó vẫn ở với giáo hội ngày nay, đang giúp đỡ dân Chúa đáp ứng với các nhu cầu cần thay đổi của chúng ta. Boff dùng quan điểm này để chỉ trích các quan điểm mà ông tin rằng quá gắn bó với các quyết định trong quá khứ của các nhà lãnh đạo giáo hội.
Sự áp dụng thực tế quan điểm của ông Boff về Chúa Thánh Thần hướng dẫn dân Chúa là ông ủng hộ nhiều thay đổi trong giáo hội ngày nay, tỉ như việc tấn phong linh mục cho phụ nữ, các linh mục được lập gia đình, và việc cử hành Thánh Lễ bởi các nhà lãnh đạo giáo hội địa phương mà có thể họ thiếu huấn luyện trong chủng viện và được tấn phong với giá trị giáo hội rộng lớn. Lý luận của ông Boff là chúng ta chỉ có thể trung thành với di sản nếu chúng ta bắt chước các vị lãnh đạo trong quá khứ khi quyết định phù hợp với nhu cầu của chúng ta; tự trói buộc chúng ta với các quyết định trong quá khứ mà không thỏa đáp các nhu cầu là tạo nên một giáo hội ù lì không trung thành với truyền thống năng động của chúng ta.
Kiểu Mẫu Giáo Hội II: Tôi Tớ và Dụng Cụ của Giải Phóng
Đối với các thần học gia giải phóng, quan trọng hơn kiểu mẫu "hiệp thông mầu nhiệm" là kiểu mẫu "tôi tớ" của giáo hội. Cũng tại đây các thần học gia giải phóng đưa ra kiểu giải thích đặc biệt của họ. Kiểu mẫu nguyên thủy của Dulles nhấn mạnh đến sự phục vụ trong một thế giới được nhìn cách lạc quan như tiến đến các thành công lớn lao hơn. Nó được đại diện bởi các nhà tư tưởng cấp tiến như Pierre Teilhard de Chardin và Harvey Cox. Lối giải thích kiểu mẫu tôi tớ của thần học gia giải phóng coi thế giới như một hệ thống thối nát được xây dựng trên sự đàn áp của biết bao người nghèo.
Ông Boff đưa ra hai phương cách bổ sung để nghĩ về một giáo hội như người phục vụ. Thứ nhất, giáo hội là một "cộng đồng và dấu chỉ của sự giải phóng." Trong chính khung cảnh nội bộ, nó cố gắng để trở nên một cộng đồng thân thiết và như một gia đình. Nó giúp đỡ các phần tử, và cũng phục vụ xã hội rộng lớn hơn, tỉ như giáo dục và chăm sóc y tế. Boff tin rằng những phục vụ này đặc biệt quan trọng khi chúng không rập khuôn các phục vụ đã có trong xã hội.
Thứ hai, giáo hội phải là một "ngôn sứ và khí cụ của sự giải phóng." Ông Boff cảnh cáo về sự nguy hiểm khi quá chú trọng đến các khía cạnh cộng đoàn của giáo hội. Không nên thỏa mãn với những tiến bộ bên trong nhằm đem lại dân chúng một cảm giác êm ấm như trong gia đình. Ông Boff dùng thí dụ của các tù nhân trong một nhà tù mà điều kiện sống được thăng tiến. Các thăng tiến đó thì tốt nhưng không thể so sánh với sự phóng thích khỏi nhà tù. Để dân chúng được tự do, giáo hội phải hoạt động tiến đến sự thay đổi cơ cấu trong xã hội:
Tiến trình giải phóng đòi hỏi một sự phân tích tỉ mỉ về xã hội: sản phẩm của sự thịnh vượng được hành xử như thế nào, tài sản được phân phối ra sao, chỗ đứng của các cá nhân đối với tiền vốn, công việc và sự tham dự. Cộng đồng nào thức tỉnh đối với thực tế này thì đã ý thức về sự vi phạm nhân quyền, sự nghèo nàn cố hữu, sự bất công xã hội mà đó là kết quả của một tổ chức của toàn thể hệ thống thường được trình bầy là tốt lành, thuộc Kitô Giáo, dân chủ, và vân vân. Đức tin Kitô Giáo thức tỉnh trước sự công bằng xã hội, đối với ý nghĩa thực sự của sự giải phóng toàn cầu của Đức Giêsu Kitô mà nó đòi hỏi sự biến đổi, sự hoán cải, không chỉ mức độ cá nhân nhưng còn ở cơ cấu.
Bởi đó các phần tử của các cộng đồng căn bản giáo hội được mời gọi để kết hợp về phương diện chính trị để hoạt động chống với các lực lượng đàn áp. Họ quân bình sự phân tích xã hội và hành động với một tinh thần của "đức tin, đức cậy, đức mến, sự tín thác và kiên nhẫn." Ông Boff nói rõ con đường này thường dẫn đến sự bắt bớ và tử đạo.
Tóm Lược
Trong chương này chúng ta vừa khảo sát một số chiều kích căn bản của thần học giải phóng: khắc phục sự đàn áp, các cộng đồng căn bản giáo hội, sự giải phóng trong Kinh Thánh, ưu tiên cho người nghèo, và giáo hội như Dân Chúa và Khí Cụ của Giải Phóng.
Các thần học gia giải phóng đưa ra nhiều đòi hỏi đối với người dân của thế giới thứ nhất. Tôi coi trọng các điều này. Tôi đồng ý với một số điều, nhưng không phải tất cả. Tuy vậy, điều tôi coi trọng nhất là đòi hỏi rằng tôi phải nhìn sự vật qua con mắt của người nghèo. Càng được như thế, tôi càng gần với thực tế và với Thiên Chúa hơn. Và tôi càng thay đổi và thăng tiến.
Trong chương kế tới, chúng ta sẽ thăm dò một số thảo luận quan trọng về giá trị và vai trò của thần học giải phóng.
Câu Hỏi Suy Tư Thêm
- Thần học giải phóng có quá liên hệ với các vấn đề chính trị không?
- Bạn giải thích thế nào về ý niệm cho rằng Thiên Chúa lưu tâm đặc biệt đến người nghèo?
- Thần học giải phóng có hữu ích cho Hoa Kỳ không? Nếu có, nó có thể áp dụng thế nào?
- Bạn có được cảm nghiệm về điều mà Boff gọi là quyền lực thống trị không? Bạn có được cảm nghiệm về điều mà Boff gọi là quyền trao ban không?
- Các nhà lãnh đạo giáo hội ngày nay có phải cảm thấy tự do hơn để thay đổi nhằm đáp ứng với hoàn cảnh mới không?

|