|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 21: THẦN HỌC GIẢI PHÓNG: NHỮNG PHÊ BÌNH & CA NGỢI
ó lần tôi nói chuyện với một sinh viên đang khi trong thang máy đông người ở thư viện đại học. Anh cho biết lúc còn ở trung học, khi anh bày tỏ quan điểm chính trị về sự cần thiết phải lưu tâm đến người nghèo; ông thầy của anh phản ứng bằng cách gọi anh là người theo chủ thuyết Mác xít.
Khi chúng tôi ra khỏi thang máy, một người cùng trong thang máy với chúng tôi bước đến trước mặt anh. Ông ta lùn, ngăm đen, chỉ cao bằng nửa anh sinh viên. Ông ta chỉ tay vào mặt anh và gằn giọng với âm hưởng Châu Mỹ La Tinh: "Bạn không nói những điều đó vì bạn là một tên Mác xít; nhưng là vì bạn là một Kitô Hữu."
Ông dợm bước đi, nhưng tôi không để sự kiện chấm dứt ở đó. Tôi sánh bước với ông và hỏi ông là ai. Ông là một giáo sư về ngôn ngữ đến từ Colombia. Ông ta tiếp tục lên giọng diễn thuyết cho rằng không có người Kitô Hữu đích thực ở đây: "Tôi có thương ông không? Ông có thương tôi không? Đây không phải là một xã hội Kitô Giáo. Đây là một xã hội mà người ta chỉ biết đến mình. Nói cho tôi biết, có ai thực sự sống đạo không?"
Nhận xét của anh sinh viên quả thật đã dấy động một phản ứng. Người giáo sư này không chỉ triết lý gàn; ông tức giận và căm phẫn khi thấy một sinh viên bày tỏ sự lưu tâm đến người nghèo thì lại bị cho là Mác xít. Điều đó rất giống với những gì xảy ra ở quê hương ông khi phản ứng với các thần học gia giải phóng.
Trong Chương Này
Thần học giải phóng có nhiều người chỉ trích và nhiều người thán phục. Chương này sẽ xem lại một số phê bình và lượng giá chính yếu về thần học giải phóng, tỉ như sự liên hệ của nó với chủ thuyết Mác xít, với tư duy không tưởng và phản ứng của Tòa Thánh Vatican. Chương này tiếp theo phần dẫn nhập về thần học giải phóng ở chương trước, và có liên hệ đến Lumen Gentium chương 6 vì nó nhấn mạnh đến cộng đồng Kitô Hữu.
Nhãn Hiệu Mác-xít
Chữ "chủ thuyết Mác xít" có thể ám chỉ đến nhiều điều. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói về bốn ý nghĩa trong Octogesima Adveniens (1971):
1. Hành động thực tiễn của đấu tranh giai cấp.
2. Hành động tập thể về quyền lực kinh tế và chính trị dưới sự lãnh đạo của độc đảng.
3. Một ý thức hệ xã hội dựa trên duy vật sử quan và từ chối bất cứ gì là siêu việt.
4. Một phương pháp khắt khe để khảo cứu thực thể xã hội và chính trị mà nó liên kết sự hiểu biết về lý thuyết với thực tiễn thay đổi có tính cách mạng (đoạn 33).
Hầu hết các thần học gia giải phóng thì không phải Mác xít theo định nghĩa 1. Rất ít thần học gia là Mác xít theo định nghĩa 2 và 3, nếu có. Tuy nhiên, nếu bởi chữ "chủ thuyết Mác xít", người ta muốn nói đến định nghĩa 4, thì hầu hết các thần học gia giải phóng đều ít nhiều lấy cảm hứng từ một phương pháp phân tích xã hội và hành động thay đổi liên can đến chủ thuyết Mác xít về phương diện lịch sử. Các thần học gia giải phóng thường bị cho rằng đã tổng quát hóa chủ nghĩa tư bản để theo Mác xít. Chủ nghĩa tư bản và sự lạm dụng thế giới thứ ba bởi thế giới thứ nhất đôi khi được cho là các nguyên nhân gây nên tai họa kinh tế của Châu Mỹ La Tinh. Các cơ cấu xã hội thường được phân tích về mặt đấu tranh giai cấp. Những liên hệ đến chủ thuyết Mác xít này thường là trọng tâm để người ta chỉ trích thần học giải phóng.
Tuy nhiên, ngay cả về những điểm này, sự liên hệ giữa thần học giải phóng và chủ thuyết Mác xít là một điểm khá đúng. Sự liên hệ này được thay đổi nhất là bởi nhấn mạnh rằng các thần học gia giải phóng có tin vào Thiên Chúa, sự siêu việt của loài người, và Kinh Thánh. Đơn giản gán cho các thần học gia giải phóng là "Mác xít" thì làm sai lạc và không ích gì để hiểu rõ ràng về những gì họ nói.
Thần học gia dòng Tên là Arthur McGovern, một chuyên gia về sự tương giao giữa Kitô Giáo và Mác xít, đã vạch ra những tương phản sau:
Thần học giải phóng dùng các ý niệm của Mác xít, nhưng các ý niệm này không còn ý nghĩa giống như chủ thuyết Mác xít xưa. "Hành động cụ thể" bao hàm việc sống đức tin Kitô Giáo, không phải là các mưu kế thay đổi của Mác xít. "Đấu tranh giai cấp" diễn tả thực tế xung đột xã hội ở Châu Mỹ La Tinh, không phải là một chương trình nhằm khuấy động hận thù hay loại trừ một số giai cấp cai trị. Các thần học gia giải phóng nói về cái "nghèo" ở Châu Mỹ La Tinh, với sự nhấn mạnh đặc biệt đến các nông dân không có ruộng, và những người bị bỏ rơi bên lề xã hội và bị ngăn chặn không được tham dự vào đời sống kinh tế chính trị của Châu Mỹ La Tinh. Họ không nhắm đến giai cấp "vô sản" mà những người theo Mác xít coi như thành phần giải phóng.
McGovern cũng vạch rõ là, kể từ thập niên 1980, các thần học gia giải phóng đã vượt ra ngoài sự phân tích xã hội có tính cách phê phán để rồi mù quáng lên án chủ nghĩa tư bản như căn nguyên của mọi vấn đề, và một số vị đã nói về sự cần thiết xây dựng các nền dân chủ có tính cách cộng tác.
Một thí dụ về việc áp dụng phân tích xã hội của các thần học gia giải phóng là việc họ áp dụng điều được gọi là "lý thuyết về sự lệ thuộc". Dưới một hình thức, lý thuyết lệ thuộc là một sự lên án có tính cách ý thức hệ và phản khoa học cho rằng chủ nghĩa thuộc địa của thế giới thứ nhất, nhất là Hoa Kỳ, là nguyên nhân chính gây nên các khó khăn về kinh tế và xã hội ở Châu Mỹ La Tinh. Tuy nhiên, McGovern có thể phân biệt giữa hình thức ngờ nghệch của lý thuyết lệ thuộc này và một hình thức có sắc thái hơn nhấn mạnh đến các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài. Lối giải thích được cải tiến của lý thuyết lệ thuộc này phân tích các hình thức của sự lệ thuộc và kể ra nhiều loại nguyên nhân của sự tước đoạt mà không đơn giản đổ lỗi cho thế giới thứ nhất. McGovern lý luận rằng một số thần học gia giải phóng, tỉ như Leonardo Boff, dường như đưa ra một tổng hợp của hai lối giải thích; những người khác, tỉ như Gustavo Gutierrez, hiển nhiên dùng lối giải thích có sắc thái, tinh vi hơn.
Về việc sử dụng cách phân tích xã hội của các thần học gia giải phóng thì không thể tổng quát hóa hay chụp mũ một khi phân tích kỹ lưỡng. Triết gia về chính trị là John R. Pottenger đã đánh giá thần học giải phóng là một phong trào đang phát triển có tiềm năng vượt qua các phân rẽ cổ truyền giữa các quan điểm-giá trị và phân tích khách quan và giữa tôn giáo và chính trị.
Phải, các thần học gia giải phóng lấy từ chủ nghĩa Mác xít những ngôn ngữ, ý niệm, dụng cụ phân tích, và đôi khi ngay cả những thành kiến chính trị. Ngay cả một vài người còn tự nhận là "Mác xít". Tuy nhiên, sau khi phân tích, các thần học gia giải phóng thì khác xa với các người Mác xít về đức tin nơi Thiên Chúa, Kinh Thánh, sự ưu việt, và ngay cả trong phương cách họ sử dụng các ý niệm và phương tiện mà họ vay mượn.
Chủ Nghĩa Không Tưởng?
Một phê bình có nền tảng vững vàng về chủ nghĩa Mác xít cho rằng chủ nghĩa này thì "không tưởng" vì nó đưa ra một quan điểm không thực tế về một tương lai tuyệt hảo trong khi phải hy sinh sự tốt lành hiện có. Công thức cổ điển để bài bác chủ nghĩa không tưởng được trích từ Tự Điển Triết Học của Voltaire: "Đừng làm sự tuyệt hảo trở thành kẻ thù của sự tốt lành." Nói cách khác, đừng hy sinh một tình trạng chưa tuyệt hảo nhưng có thể chấp nhận được để đổi lấy một tình trạng không thể chấp nhận được bằng cách nhấn mạnh đến sự tuyệt hảo không thể nào đạt đến.
Một số học giả, nổi tiếng nhất là Michael Novak, đã rút ra từ truyền thống bài bác chủ nghĩa không tưởng để hình thành những phê bình về thần học giải phóng. Dùng các dữ kiện về sự thịnh vượng trong các quốc gia tư bản và xã hội, Novak cho rằng bất cứ chương trình phát triển nào thiên về xã hội chủ nghĩa thì không khuyến khích phát triển kinh tế. Như Novak vạch rõ, câu hỏi của ông, thật cay đắng, không phải là một câu hỏi về ý thức hệ nhưng là hành động cụ thể: Thần học giải phóng có kết quả không? Novak tin rằng sự tiến bộ ở Châu Mỹ La Tinh chỉ có thể đạt được qua việc du nhập các thể chế tự do, dân chủ mà chúng khuyến khích tự do chính trị và kinh tế. Không phải là chủ nghĩa tư bản nhưng là sự thiếu vắng chủ nghĩa tư bản đích thật mà từ trước đến nay đã cản trở sự phát triển trong các quốc gia này.
Các thần học gia giải phóng từng cố gắng phân biệt việc sử dụng "chủ nghĩa không tưởng" với loại chủ thuyết lý tưởng bị Novak chỉ trích. Họ rút ra từ công trình của nhà xã hội học Karl Mannheim, là người phân biệt tư duy "ý thức hệ" mà nó đơn giản hỗ trợ trật tự hiện thời với tư duy "không tưởng" mà nó chỉ trích trật tự hiện hành. Phù hợp với truyền thống này, Gustavo Gutierrez đưa ra những tương phản giữa việc sử dụng "chủ nghĩa không tưởng" của chính ông với những giải thích về ý thức hệ. Đối với ông, "chủ nghĩa không tưởng" không phải là một giấc mơ thiếu thực tế, không thể thực hiện được. Đó là một kiểu cách tư duy sống động nhằm rút ra từ các khoa xã hội để tạo thành các điều kiện sống nhân bản hơn; nó được minh chứng trong hành động cụ thể.
Do đó, trong khuôn khổ ý niệm này, "chủ nghĩa không tưởng" không có nghĩa lý tưởng mơ hồ; đúng hơn, nó có nghĩa rộng mở cho những thay đổi cần thiết. Nó không nhằm áp đặt một hình ảnh sẵn có của một thực thể tuyệt hảo lên trên chế độ hiện thời, nhưng thay vào đó nó hoạt động để thay đổi chế độ từng bước một. Các thần học gia giải phóng không nghĩ rằng họ đang đánh đổi một hoàn cảnh thiếu hoàn hảo nhưng chấp nhận được để đối lấy hoàn cảnh tệ hơn; họ tin rằng hoàn cảnh họ đang sống thì tuyệt đối không thể chấp nhận được và rồi bất cứ gì phát sinh ra từ đó đều tốt đẹp hơn.
Novak và các thần học gia giải phóng đều đồng ý là cần phải thay đổi quyết liệt; trong khi họ không đồng ý về sự phán đoán rằng tư duy "chủ nghĩa không tưởng" có thể giúp được hoàn cảnh này hay không.
Phản Ứng của Vatican
Năm 1984, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin phát hành tập "Huấn Thị Về Một Vài Khía Cạnh của 'Thần Học Giải Phóng'." Tài liệu này đưa ra một cảnh cáo nghiêm khắc về sự liên hệ giữa thần học giải phóng với chủ thuyết Mác xít, nhất là sự nguy hiểm khi làm sái lệch các học thuyết Kitô Giáo truyền thống theo một phương cách nhằm hạn hẹp ý nghĩa của chúng vào các vấn đề chính trị của thế giới. Một tài liệu liên hệ, "Huấn Thị Về Sự Tự Do và Giải Phóng Kitô Giáo," được phát hành năm 1986. Tài liệu thứ hai này ôn hoà hơn nhiều. Tuy không nhắc nhở nhiều đến thần học giải phóng, tài liệu này xác định một cách tổng quát nhiều đề tài căn bản về sự tự do con người và phát triển xã hội nằm dưới thần học giải phóng, trong khi ám chỉ đến những nguy hiểm của tư duy như vậy trong một phương cách ít nghiêm khắc hơn.
Từ các nguồn ở Vatican người ta được biết chính Đức Gioan Phaolô II có ý tưởng đưa ra sự cảnh cáo nghiêm khắc đầu tiên sau đó là sự ca ngợi dịu dàng hơn. Tài liệu thứ hai khẳng định rõ ràng rằng "Giữa hai tài liệu có sự liên hệ về cơ bản. Cả hai phải được đọc trong sự tương quan với nhau" (2). Vì lý do này, có thể đưa ra một phản ứng tổng quát của Vatican đối với thần học giải phóng.
Tòa Thánh Vatican nhìn nhận là ngày nay cần nhấn mạnh đến sự quan trọng của sự tự do con người, bắt đầu từ sự thoát khỏi tội lỗi nhờ Đức Kitô, và bao gồm sự tự do khỏi bị đàn áp chính trị và kinh tế. Sự đấu tranh cho công bằng, bao gồm sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, thì không phải là một ngoại lệ thêm vào trong phúc âm, nhưng là một phần thiết yếu. Ưu tiên cho người nghèo, trong đó "nghèo" được hiểu là bao gồm mọi ưu phiền và khổ cực của con người, diễn tả chiều kích đích thực của sứ điệp Kitô Giáo, đặc biệt được tìm thấy trong Tám Mối Phúc. Các cộng đồng căn bản giáo hội tượng trưng cho một nguồn hy vọng cho tương lai của giáo hội. Tình liên đới con người là một đức tính quan trọng của Kitô Giáo mà nó phải thúc giục mọi người nghiêm trọng nghĩ đến việc chia sẻ của cải cho người khác. Khi xác định các điểm này, Tòa Thánh Vatican đã dành chỗ đứng cho một số động lực căn bản của thần học giải phóng trong giáo huấn chính thức của giáo hội. Nhiều mối lưu tâm của các thần học gia giải phóng tương đồng với các lưu tâm được bầy tỏ trong giáo huấn truyền thống lâu đời về xã hội của Công Giáo.
Đồng thời, Toà Thánh vẫn cảnh giác về một số khía cạnh của thần học giải phóng. Tuy giáo hội phải rao giảng một sứ điệp thực sự có liên quan đến chính trị, nhưng việc tham dự vào đảng phái chính trị là công việc của giáo dân, không phải của giáo sĩ hay tu sĩ nam nữ. Các thần học gia được cảnh cáo là đừng quá thân cận với các hệ tư tưởng vô thần hoặc ủng hộ một chế độ trông nhờ vào bạo động cách mạng. Sự nhận biết rằng cần phải thay đổi các cơ cấu xã hội bất công không thể dẫn đến việc coi thường chân lý căn bản, đó là tội lỗi bắt nguồn từ tâm hồn và sự lựa chọn của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, sau cùng các cảnh cáo này không làm người ta quên được tích cách xác thật của một vài chủ đề chính yếu của thần học giải phóng.
Các thần học gia giải phóng phản ứng theo một khuôn khổ tương tự như của chính văn kiện Vatican: nghiêm khắc rồi ôn hòa. Đó là, các thần học gia giải phóng phản ứng cách cứng rắn với văn kiện thứ nhất, và chấp nhận văn kiện thứ hai với sự lạc quan dè dặt khi đưa ra những ý tưởng trọng yếu của họ đã được chuẩn nhận.
Nó Có Áp Dụng Cho Việt Nam Không?
Một câu hỏi thường được nêu lên về thần học giải phóng là sự hữu dụng của nó bên ngoài Châu Mỹ La Tinh. Thần học giải phóng có góp phần cho giáo hội ở Việt Nam hay không? Các phúc trình tiên khởi về thần học giải phóng thường nhấn mạnh rằng nó chỉ nhằm đề cập đến các điều kiện của người nghèo ở Châu Mỹ La Tinh. Tuy nhiên, gần đây hơn, Leonardo Boff viết rằng giáo hội giải phóng có những liên can quan trọng đến toàn thể giáo hội.
Có những toan tính thành lập các cộng đồng căn bản giáo hội ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phổ thông hơn là những dự tính lấy cảm hứng từ các cộng đồng căn bản giáo hội để hình thành các cơ cấu thích hợp hơn với khung cảnh Hoa Kỳ. Điều này đặc biệt đúng với nhiều chương trình canh tân giáo xứ, tỉ như Renew, mà nó khuyến khích giáo dân hình thành các nhóm nhỏ để chia sẻ đức tin, đọc Kinh Thánh và thúc giục đến hành động. Tuy một số bình luận gia có khuynh hướng đưa ra những tương phản giữa thần học giải phóng với các phân tích xã hội cơ bản và các hoạt động mà nhóm Renew thực sự tiến hành, điều đáng nêu lên ở đây là có sự tương đồng của đoàn nhóm, sự cầu nguyện và cố gắng đề cập đến các khó khăn xã hội.
Tóm Lược
Trong chương này chúng ta vừa khảo sát một số phê bình chung về thần học giải phóng cũng như một số bảo vệ. Chúng ta chú ý đến những buộc tội về chủ nghĩa Mác xít và chủ nghĩa không tưởng, thái độ đối với chủ nghĩa tư bản, phản ứng của Tòa Thánh Vatican, và câu hỏi về sự áp dụng thần học giải phóng ở bên ngoài Châu Mỹ La Tinh.
Tôi coi trọng những chỉ trích về các thần học gia giải phóng khiến họ phải đặt vấn đề là có nên dựa trên sự phân tích Mác xít và lý thuyết chủ nghĩa xã hội không. Tuy nhiên, tôi lại coi trọng hơn những người bảo vệ các thần học gia giải phóng là những người thông cảm giải thích những toan tính của họ để nói lên các chiều kích Kitô Giáo của hoàn cảnh khó khăn của người nghèo ở Châu Mỹ La Tinh. Ở Châu Mỹ La Tinh có đấu tranh giai cấp. Châu Mỹ La Tinh có nhiều kiểu cách lệ thuộc các quốc gia thế giới thứ nhất, và không được hưởng ích lợi từ những tương giao này. Nếu chúng ta tin ở một Thiên Chúa là người lo lắng về sự công bằng, thì có lẽ các thần học gia giải phóng đã đúng khi cho rằng Thiên Chúa giận dữ gào thét về các điều kiện mà trong đó nhiều người đang sống. Tôi hy vọng các thần học gia giải phóng sẽ tiếp tục lắng nghe và thay đổi thái độ khi bị chỉ trích. Nhưng tôi hy vọng sâu xa rằng người dân và các cơ cấu trên toàn thế giới sẽ thay đổi để đáp ứng với lời kêu gọi của các thần học gia giải phóng.
Câu Hỏi Suy Tư Thêm
- Bạn nghĩ thế nào khi các phát triển mới đây của thế giới tỉ như việc xụp đổ các nền kinh tế Mác xít có thể ảnh hưởng đến các điều thẩm định của thần học giải phóng?
- Bạn nghĩ có những nền tảng hợp lý nào để người dân của thế giới thứ ba có thể than phiền về sự tương giao với thế giới thứ nhất không?
- Bạn có nghĩ là thần học giải phóng thì không tưởng trong ý nghĩa trở nên một chủ nghĩa lý tưởng nguy hiểm không?
- Những cảnh cáo nào của Tòa Thánh Vatican về thần học giải phóng mà bạn cho là quan trọng nhất?
- Chủ đề căn bản nào của thần học giải phóng mà bạn nghĩ là quan trọng nhất trong ý nghĩa tích cực?

|