Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 22: GIÁO HỘI LỮ HÀNH

"V

ì chúng ta thường làm như vậy" là câu mà tôi thường được nghe lúc còn nhỏ khi thắc mắc về một số điều. Tại sao lại kiêng thịt vào ngày thứ Sáu? Tại sao lại đi đàng Thánh Giá vào mùa Chay? Tại sao lại phải đi lễ ngày Chúa Nhật? Câu trả lời, thường được mặc nhiên chấp nhận, là chúng ta thường làm như vậy. Chúng ta nghĩ về giáo hội cũng tương tự như chúng ta cầu nguyện với ba ngôi trong một Thiên Chúa. "Sáng danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen."

Nhiều người ngày nay có vẻ chê bai khi nghe đến chữ "truyền thống". Truyền thống thường được trình bầy như một nhà kho gồm những điều cản trở làm cho người ta không thể lớn lên được. Tôi nghĩ các truyền thống tôn giáo của tôi là một món quà bí ẩn và tuyệt vời. Một cách tổng quát tôi không nghĩ rằng truyền thống kềm hãm tôi không cho phép tôi có những tương giao; đúng hơn, truyền thống khuyến khích tôi tha thứ và yêu thương tha nhân.

Bây giờ tôi biết được nguồn gốc và lý do của nhiều điều trong đức tin, tỉ như bổn phận phải đi lễ ngày Chúa Nhật. Cũng còn những điều tôi tin và chấp nhận nhưng chưa tìm hiểu cặn kẽ nguồn gốc, tỉ như nguồn gốc của việc ngắm đàng Thánh Giá. Nguồn gốc của nhiều thói quen, tỉ như linh mục độc thân và phụ nữ không được làm linh mục, là những đề tài nóng bỏng ngày nay. Nhưng một điều chắc chắn tôi học được là các truyền thống tôn giáo của tôi thay đổi theo thời gian. Đức tin và nếp sống của đạo của người Công Giáo đã thay đổi đáng kể từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

Trong Chương Này

Chương 7 của Lumen Gentium nói về một giáo hội thay đổi. Văn kiện này đưa ra ý nhiệm về một giáo hội lữ hành, là một trong những hình ảnh quan trọng phát xuất từ công đồng Vatican II về giáo hội. Một lữ khách là người đang trong cuộc hành trình. Một lữ khách là người đang trên đường đi. Giáo hội xuất phát từ công đồng Vatican II thì chưa trọn vẹn, còn rất xa với một giáo hội tuyệt hảo.

Chương này sẽ tìm hiểu cặn kẽ về ý nghĩa và sự quan trọng của hình ảnh giáo hội lữ hành. Chúng ta sẽ khảo sát sự tương giao giữa những thay đổi và sự liên tục trong giáo hội với một cái nhìn sau cùng về khía cạnh tăm tối của lịch sử giáo hội.

Chỉ Tuyệt Hảo Ở Trên Thiên Đàng

Diễn viên hài Geoge Carlin có lần nói rằng ngôn ngữ của môn thể thao "football" có khuynh hướng hung bạo: ngăn cản, chặn đường, vật ngã. Môn "baseball", ngược lại, có vẻ mục vụ: đi lại, go home (về bến). Ngôn ngữ diễn tả những khác biệt mơ hồ trong tâm trạng và thái độ chung quanh các môn thể thao.

Bản thảo đầu tiên của Lumen Gentium nói về một giáo hội chiến đấu và giáo hội khải hoàn. Giáo hội khải hoàn là giáo hội được coi đang trong tình trạng tuyệt hảo, tình trạng lý tưởng trên thiên đàng. Giáo hội chiến đấu là giáo hội vẫn còn đánh nhau trong cuộc đời trần thế. Tuy các danh từ này có thể hợp lý trong tính cách lịch sử của nó, trong thế kỷ 20 những ngôn từ như thế đã phản bội tâm trạng hân hoan, một thái độ quá chú trọng đến sự thành đạt của giáo hội mà quên đi những tì tích của giáo hội. Thái độ khải hoàn là một thái độ thiếu phán đoán về chính mình trong khi khinh thường bất cứ ai khác biệt với mình. Đó là thái độ của một người có tất cả câu trả lời.

Vào lúc sửa đổi bản thảo sau cùng của Lumen Gentium, ngôn ngữ của văn kiện này đã thay đổi đáng kể. Giáo hội khải hoàn trở thành giáo hội trong sự vinh hiển mà nó chưa biết trọn vẹn cho đến khi tận thế. Giáo hội chiến đấu trở thành giáo hội lữ hành. Hai ý niệm này liên kết chặt chẽ với nhau bởi một quan niệm truyền thống về Các Thánh Thông Công, bao gồm những người đã chết và những người trên thiên đàng, những người đang được thanh tẩy (trong luyện tội, tuy chữ này không được dùng), và các phần tử của giáo hội đang còn sống bây giờ. Tất cả chúng ta liên kết trong đó và cùng chia sẻ một tình yêu và ơn sủng của Thiên Chúa.

Sự chuyển đổi khi nói về giáo hội lữ hành đem theo với nó những ý nghĩa cách mạng, những thái độ và những tâm trạng. Có sự phấn khởi của một hành trình được chia sẻ và một công việc được chia sẻ. Có sự liên kết chặt chẽ giữa một quá khứ chung và một tương lai chưa xảy đến. Có sự mong đợi đạt đến định mệnh của mình. Nếu giáo hội tiền Vatican II có thể hài hòa với những cuộc hành quân, giáo hội hậu Vatican II lại muốn thấy thế giới. Cuộc đời thì không chỉ là một cuộc chiến và thi đua; nó là một phiêu du đầy phấn khởi.

Chương bẩy đã chấm dứt bất cứ sự tự phụ nào nếu có của giáo hội để đến một tình trạng tuyệt hảo hiện thời:

Giáo hội … sẽ chỉ đạt được sự trọn vẹn tuyệt hảo trong vinh hiển trên thiên đàng … giáo hội ở mặt đất được ghi dấu thánh thiện là điều có thật tuy còn tì vết… giáo hội lữ hành, trong bí tích và tổ chức, thuộc về thời hiện tại, có dáng vẻ của thế giới này mà nó sẽ qua đi… (LG, 48).

Sự Liên Tục Sâu Đậm Hơn Sự Thay Đổi

Khi nhấn mạnh đến sự thay đổi điều đó có nghĩa sứ điệp căn bản của Phúc Âm cũng thay đổi hay sao? Wilfred Cantwell Smith, một học giả về tôn giáo thế giới, viện lý rằng truyền thống Kitô Giáo đã thay đổi quá nhiều qua các thế kỷ nên chúng ta không còn nói được rằng Kitô Hữu "tin tưởng" cùng một điều. Điều đáng suy nghĩ này chỉ đúng với một số khía cạnh, nhưng lại sai với một số khác rất quan trọng. Điều này rất đúng với cảm nhận tôn giáo của tín đồ trong tương quan giữa đức tin và thế giới cận đại. Nhưng nó sai khi nghĩ về sự bền chặt của các mối liên kết ràng buộc Kitô Hữu ngày nay với Kitô hữu của quá khứ. Đức tin nơi Chúa Giêsu Kitô và sức mạnh biến đổi của phúc âm không thể chỉ coi như các điểm nối tiếp. Smith cho rằng kiểu cách người tín hữu Kitô ngày nay tin tưởng các quan niệm này thì quá khác biệt đến nỗi có thể coi như một chứng cớ khác về việc gián đoạn:

Điều mà mọi Kitô Hữu có chung là họ chia sẻ cùng một lịch sử. Họ tham dự trong một tiến trình chung: có thể nói, giáo hội Kitô trong sự thay đổi đa dạng luôn thay đổi. Không hồ nghi gì,… họ cũng có chung một số điều siêu việt. Tuy nhiên để nói về thực tại siêu việt đó là gì--sự Hiện Diện Thật, Đức Kitô, Thiên Chúa; hay nói rằng giáo hội, trong đời sống liên tục của Người mà họ dự phần một cách khác nhau, là thân thể của Đức Kitô; hoặc dù một người khái niệm hóa nó thế nào đi nữa--là dùng đến các công thức mà ngược lại tự nó không siêu việt, và như vậy về lịch sử nó không kiên định.

Tôi lý luận rằng, phải thú thực là liều lĩnh về phương diện triết lý, chính Đức Kitô mà chúng ta gặp gỡ qua truyền thống. Tôi tin tưởng một phần ở giáo hội là nó không chỉ giúp tôi tiếp xúc được với sự siêu việt theo nghĩa tổng quát, nhưng nó còn giúp tôi có sự tương giao cá biệt với Thiên Chúa Cha qua Đức Giêsu Kitô là người đã sai Thần Khí đến. Sự tương giao với Ba Ngôi Thiên Chúa có những tương đồng sâu xa với sự tương giao đã sẵn có cho Kitô Hữu qua dòng lịch sử của giáo hội.

Có thể ông Smith muốn nhấn mạnh rằng qua các thời đại chúng ta hiểu về Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần quá khác biệt đến nỗi trong bất cứ ý nghĩa nào, chúng ta không còn nói về cùng một ý niệm hay thực thể. Cần lập lại là ông đã đưa ra điểm thách thức cần được coi trọng. Tôi chưa suy nghĩ đủ để trả lời ngay rằng tôi nghĩ ngược lại. Tôi cần khảo sát về truyền thống Kitô Giáo trong một phương cách có tính cách phê phán để chấp nhận những thay đổi ngay cả những sai lạc. Nhưng cần nói lại, sự khác biệt giữa tôi và ông Smith đó là tôi tin tưởng giáo hội phải là gì. Có phải giáo hội chỉ là một sự hiệp thông giữa những người cùng chia sẻ các nguồn tài nguyên nhưng sự hiểu biết của họ quá khác biệt đến độ những điều tin tưởng không còn liên can gì từ thế hệ này sang thế hệ khác? Hoặc, theo nghĩa mầu nhiệm, giáo hội là sự tiếp nối việc hiện diện của Đức Kitô qua Chúa Thánh Thần trong cuộc lữ hành trần thế? Có phải giáo hội lữ hành thì hay thay đổi, hoặc nó được hình thành trên thập giá và xây trên đá?

Trong sự thảo luận ngắn gọn này, tôi đã nêu lên thắc mắc nhiều hơn là giải quyết vấn đề. Cũng như chính giáo hội, cuộc thảo luận thì chưa chấm dứt. Trong chương này về sự thay đổi, tôi chỉ muốn nhắc đến một học giả coi trọng sự thay đổi, và có đôi lời cá biệt về sự liên tục.

Sự Thay Đổi và Tự Do

Có thể dùng nhiều đề tài để cho thấy sự thay đổi sâu xa và hiển nhiên của giáo hội. Tôi muốn chú ý đến phương cách giải quyết sự tự do tôn giáo trong một dậy bảo chính thức của Công Giáo trong văn kiện Syllabus of Errors (Bản Cáo Trạng Những Sai Lầm - 1864) của Đức Giáo Hoàng Piô IX và trong Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo (1965) của Công Đồng Vatican II. Các giáo huấn này cho thấy sự đảo ngược ghê gớm về một vấn đề quan trọng: người ta có được tự do thờ phượng trong bất cứ tôn giáo nào mà họ muốn hay không.

Trong thế kỷ 19, lập trường chính thức của Công Giáo là kiên định với chủ trương thần học nhấn mạnh rằng "ngoài giáo hội không có ơn cứu độ," nhưng không kiên định với chủ trương thần học nhấn mạnh đến tự do và phẩm giá con người. Giáo hội nhấn mạnh rằng người Công Giáo trong các quốc gia không Công Giáo phải được tự do thờ phượng theo ý họ lựa chọn, nhưng cũng chủ trương rằng trong các quốc gia Công Giáo việc loại trừ các hình thức thờ phượng khác thì chấp nhận được. Lập trường này được bày tỏ rõ ràng trong Syllabus of Errors của Đức Piô IX, trong đó ngài lên án 80 đề nghị tượng trưng cho những sai lầm hiện đại, trong đó có:

Mỗi người được tự do yêu mến và công khai thừa nhận tôn giáo mà qua lý lẽ, họ nghĩ rằng tôn giáo đó là chân lý.

Trong thời đại chúng ta không còn thích hợp để cho rằng công giáo phải được đối xử như tôn giáo duy nhất của quốc gia, tất cả mọi sự thờ phượng khác đều bị loại trừ.

Do đó, thật đáng ngợi khen khi trong một số quốc gia công giáo có các luật lệ mà những người di dân đây đó được chấp nhận biểu lộ công khai sự thờ phượng của chính họ.

Thật quan trọng để biết rằng các công bố nêu trên không được Đức Piô IX dậy bảo như chân lý, nhưng bị kết án là sai lạc. Để công bằng với Đức Piô IX thì phải nói thêm rằng ngài thấy giáo hội bị đe dọa bởi chủ nghĩa duy lý có liên hệ đến cách mạng Pháp mà nó có thái độ thù nghịch tôn giáo, và ngài nghĩ cần phải làm bất cứ gì có thể để bảo vệ sứ vụ của giáo hội. Thời bấy giờ không có ai hình dung ra được sự hòa hợp của giáo huấn với những lưu tâm của thế giới hiện đại. Tuy nhiên lập trường chống đối sự tự do tôn giáo của ngài thì hiển nhiên trái ngược với giáo huấn xuất phát từ Công Đồng Vatican II.

Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo của Vatican II khởi đầu bằng việc xác nhận phẩm giá căn bản của con người và sự quan trọng của tự do con người. Văn kiện lý luận rằng người ta không thể bị ép buộc phải theo một tôn giáo nào đó; chân lý tự nó có sức dẫn dụ một cách nhẹ nhàng. Tuy nhiên, văn kiện không loại trừ điều có thể xảy ra là có một tôn giáo chính thức của quốc gia, người ta có quyền để thờ phượng như họ chọn:

Một trong những chân lý chính yếu của giáo huấn Công Giáo, một chân lý được chứa đựng trong lời Chúa và luôn luôn được các Giáo Phụ rao giảng, đó là sự đáp ứng của một người đối với Thiên Chúa qua đức tin thì phải được tự do, và do đó không ai bị buộc phải yêu mến một đức tin trái ngược với ý muốn của họ. Hành vi đức tin, tự bản chất, là một hành vi tự do. (mục 10).

Chính văn kiện nói rõ khi nói lên lập trường này, văn kiện còn đang "hình thành", tuy nó nhấn mạnh đến tính cách liên tục với Kinh Thánh và truyền thống và sự giảng dậy của đức giáo hoàng về tự do và phẩm giá mà không nhắc đến sự hủy bỏ cáo trạng Syllabus of Errors.

Biến chuyển này không chỉ quan trọng với vấn đề tự do tôn giáo nhưng còn xác nhận rằng quả thật sự giảng dậy của giáo hội có thay đổi và gia tăng. John Courtney Murray, một linh mục dòng Tên mà công trình thần học của ngài đã giúp bênh vực cho chính nghĩa tự do tôn giáo tại Công Đồng Vatican II, ngài viết:

Tiến trình phát triển giữa cáo trạng Syllabus of Errors (1864) và Dignitatis Humanae Personae (Phẩm Giá Con Người -1965) vẫn phải được giải thích bởi các thần học gia. Nhưng Công Đồng đã chính thức thừa nhận giá trị của sự phát triển này; và đây là một sự kiện có tính cách học thuyết rất quan trọng cho các tư duy thần học trong nhiều lãnh vực khác.

Các thần học gia ngày nay không còn tranh luận về việc có thể thay đổi sự giảng dậy của giáo hội hay không; thay vào đó, họ tranh luận về việc làm thế nào để phân biệt giữa điều cốt yếu và không cốt yếu, và giữa chân lý với công thức đặc biệt nào đó. Một tài liệu mới đây của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế của Tòa Thánh nói rằng chân lý căn bản của phúc âm chứa đựng trong sự giảng dậy của giáo hội thì không thay đổi; các phương cách đặc biệt để giáo hội diễn tả sẻ phản ánh những hạn hẹp và thiên kiến của nhiều nền văn hóa và hệ thống triết học. Tuy việc diễn dịch là một công việc phức tạp và thường tế nhị, "Điều trước đây được công nhận là chân lý thì phải…  được nhìn nhận là chân lý trong một phương cách có giá trị lâu dài." Đó là, trong bất cứ sự giảng dậy nào của giáo hội đều có sự sáng suốt căn bản mà nó vẫn đúng tuy rằng nó có thể được tái diễn dịch trong một khung cảnh văn hóa mới.

Có phải điều này có nghĩa là, trong sự kết án của Đức Piô IX về sự tự do tôn giáo, có một số điều phải được gạn lọc trong khung cảnh văn hóa của nó và được duy trì như chân lý? Có thể nào lý luận rằng điều mà Đức Piô IX lầm lẫn cho là tự do tôn giáo, một nhận thức chống đối chỉ dựa trên lý lẽ, đáng phải bị kết án cho đến khi hình thành được các ý niệm tự do tôn giáo tế nhị hơn dựa vào phẩm giá của con người? Có lẽ trong lý luận đó cũng có vài điều gì đó. Tôi muốn dùng một cách khác. Tôi tìm kiếm những gì có lẽ hợp lý trong văn kiện đó khi nhìn tổng quát, nhưng tôi không cảm thấy cần phải minh chứng từng câu một như kiểu cách mà một số người theo chủ nghĩa chính thống đọc Kinh Thánh. Cáo trạng Syllabus of Errors là một giảng dậy bình thường của đức giáo hoàng phản ánh thời giữa thế kỷ 19 khi phản ứng quá đáng với những phát triển hiện đại. Nó không phải là một công bố bất khả ngộ, và cũng không có cùng một vị thế như một tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II. Đức Piô IX thì sai lầm. Điều này không thay đổi gì đến chân lý vĩnh viễn của phúc âm. Sự biến chuyển học thuyết này phấn chấn sự tin cậy của tôi vào sự giảng dậy của giáo hội; tôi tin tưởng các vị lãnh đạo nhiều hơn nếu thỉnh thoảng họ thú nhận rằng họ có những sai lầm. Sự tin tưởng truyền thống về tính cách bất khả ngộ của giáo hội không có nghĩa giáo hội không bao giờ sai lầm; nó có nghĩa, một cách căn bản, giáo hội vẫn giữ trên con đường chân lý.

Khía Cạnh Tăm Tối của Lịch Sử Giáo Hội

Khi trong khoảng hai mươi tuổi, tôi lại thấy thích thú tìm hiểu về giáo hội Công Giáo. Tôi muốn biết càng nhiều càng tốt về giáo hội. Tôi đọc một cuốn sách phổ thông về lịch sử giáo hội của Philip Hughes. Tôi đọc ngấu nghiến; nhưng không may phần lớn chỉ đem lại sự cay đắng. Tôi không nhớ rõ là tôi có khóc hay không, nhưng tôi nhớ đó là điều tôi muốn. Giáo hội mà tôi từng nghĩ rằng tuyệt hảo thì đang chao đảo. Nàng dâu không tì ố của Đức Kitô đã bị kéo qua vũng bùn. Thay vì những câu chuyện về tình thương yêu lịch thiệp và vinh dự mà tôi mong đợi, tôi đọc thấy những chuyện lạc giáo và luận phạt, những bất đồng và chiến tranh, những thối nát và canh tân. Kiểu văn của Hughes có tính cách bào chữa, thí dụ trong trường hợp nói về sự canh tân của giáo hội Công Giáo:

Trong nhiều khía cạnh, đức giáo hoàng tiếp tục là các đứa con của thời đại mà họ cố gắng phục hồi các lý tưởng Công Giáo, và họ tiếp tục lợi dụng các phương tiện sẵn có của họ, là các vũ khí trần tục của khéo léo ngoại giao và ngay cả chiến tranh, và không chỉ là cuộc chiến tự vệ (t. 162).

Nói cách khác, Hughes lễ phép nói rằng các giáo hoàng phát động chiến tranh về các vấn đề học thuyết giáo hội và chính quyền. Hughes chỉ hơi bóng gió về những điều mà tôi mới biết sau này: việc thảm sát người Do Thái, những kinh hoàng của các cuộc thập tự chinh, sự thối nát của các giáo hoàng thời Phục Hưng (thế kỷ 14-16), những cuộc tra tấn và hành quyết của Tòa Thẩm Tra Tây Ban Nha.

Dường như không phải lúc nào giáo hội cũng là một lữ khách tốt lành. Làm thế nào một người Công Giáo có thể chấp nhận được khía cạnh tăm tối của lịch sử giáo hội?

Tôi không có một câu trả lời sau cùng cho vấn đề này. Tôi nghĩ đến một đề nghị của Hans Kung khi phải đối diện với việc hành quyết người Do Thái của Kitô Hữu trong các thế kỷ, "Xấu hổ và có tội phải là câu trả lời im lặng của chúng ta…" Tuy nhiên, tôi cũng có thể nghĩ đến một số đề nghị khác.

Trước hết, phải nhớ rằng những đoạn tăm tối trong lịch sử giáo hội được quân bình với một lịch sử dài và vinh dự của một tổ chức mà nó đã thực hiện được biết bao việc tốt lành qua các thế kỷ trong các lãnh vực như giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội, nghệ thuật và văn hóa. Có lẽ lịch sử thật quân bình của giáo hội thì chưa được viết ra. Thứ hai, lịch sử giáo hội không nên thẩm định qua những thành công của tổ chức, nhưng còn về mặt đời sống của biết bao cá nhân mà giáo hội đã mở ra rất nhiều cơ hội để nên thánh. Dĩ nhiên, đời sống của cá nhân Kitô hữu cũng có khía cạnh tăm tối riêng. Thứ ba, thật quan trọng để phân biệt những gì có thể gán cho giáo hội Công Giáo và những gì có thể gán các cá nhân hay tập thể mà không may họ đã hành động với danh nghĩa của giáo hội. Có những lúc ngay cả các giáo hoàng cũng không để ý đến thánh ý Chúa trong sự cân nhắc kỹ lưỡng. Thứ tư, chúng ta không thể kỳ vọng sự tuyệt hảo của các yếu tố con người của giáo hội. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa ở thời kỳ nào đó trong lịch sử chúng ta không được mong đợi nhiều hơn là những gì đã xảy ra.

Ở đó vẫn còn chỗ cho sự xấu hổ và tội lỗi mà Kung nói đến. Nhưng mục đích của xấu hổ và tội lỗi là gì nếu không phải là giúp chúng ta trưởng thành để có thể tránh được lỗi lầm đó? Truyền thống Kitô giáo kêu gọi chúng ta hãy vượt qua tội lỗi để đến với một đời sống của đức tin, đức cậy và đức mến. Giáo hội là một chiều kích quan trọng của truyền thống đó; cũng như Đức Kitô, giáo hội là một pha trộn giữa các yếu tố nhân bản và thần thánh. Tuy nhiên, diện nhân bản của giáo hội thường làm xáo trộn mọi sự, đôi khi thật lớn lao. Chúng ta là dân tộc lữ hành, chưa chấm dứt cuộc hành trình với kho tàng đức tin, mà trong các khía cạnh quan trọng nhất, vẫn còn nguyên qua các thời đại.

Tóm lược

Trong chương này chúng ta vừa thảo luận về hành trình của giáo hội. Chúng ta chú ý đến sự thú nhận của Công Đồng Vatican II về sự bất toàn, về sự thay đổi và sự liên tục, về trường hợp đặc biệt tự do tôn giáo, và về khía cạnh tăm tối của lịch sử giáo hội. Truyền thống vẫn cực kỳ quan trọng cho giáo hội Công Giáo, tuy nhiên người Công Giáo ngày nay càng ý thức hơn rằng truyền thống không hủy bỏ mọi thay đổi. Chúng ta không chỉ chấp nhận câu, "vì chúng ta thường làm như vậy." Theo lời của thần học gia Monika Hellwig, "Truyền thống có nghĩa thay đổi liên tục với quá khứ."

Trong chương tới chúng ta sẽ thảo luận về ý nghĩa của đời sống.

Câu Hỏi Suy Tư Thêm

  1. Bạn có được dậy rằng giáo hội Công Giáo phải trở nên tuyệt hảo không?
  2. Hình ảnh "giáo hội lữ hành" có quá trần tục để hiểu được vẻ uy nghiêm của giáo hội không? Nó có quá đối nghịch với hình ảnh khải hoàn không?
  3. Giữa những thay đổi, điều gì trong Kitô Giáo vẫn giữ nguyên? Kitô hữu của thế kỷ 21 chia sẻ điều gì với Kitô hữu của thế kỷ đầu tiên?
  4. Bạn cảm thấy gì khi giáo hội Công Giáo tự đảo ngược lập trường về tự do tôn giáo? Điều đó có làm suy yếu tính cách đáng tin cậy của giáo hội khi đảo ngược như thế không?
  5. Bạn biết gì về khía cạnh tăm tối của lịch sử giáo hội? Bạn phản ứng thế nào với điều đó?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com