Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 24: LỮ HÀNH & CÁC THÁNH

N

hững xung đột đôi khi xảy ra giữa những người trong Giáo Hội Công Giáo đại diện cho các quan điểm khác nhau.  Người ta được biết các đại diện giáo hội trong hội nghị quốc tế về bệnh AIDS được tổ chức tại Vatican năm 1989 đã chống đối một biểu ngữ viết rằng: "Thân Thể Đức Kitô có bệnh AIDS." Sự chống đối của họ là khi giáo hội được đề cập đến như Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô thì được hiểu là không có tội lỗi hay tì tích hay ô uế.

Hình ảnh Thân Thể Đức Kitô từng được hiểu trong một phương cách tương tự như hình ảnh của giáo hội là "nàng dâu tinh tuyền của con chiên không tì tích."--được hiểu trong một ý nghĩa lý tưởng, mầu nhiệm. Trong ý nghĩa này, giáo hội là một món quà vĩ đại của Chúa ban cho chúng ta, là điều gì trổi vượt hơn sự sáng chế của con người. Đó chính là sự hiện diện không ngừng của Đức Kitô, là con đường cứu độ, nguồn ơn sủng, ánh sáng cho người dân vẫn không bao giờ bị lu mờ. Các giới chức giáo hội, hiểu Thân Thể Đức Kitô trong kiểu cách này, nên họ cảm thấy bị tấn công trước ý kiến Thân Thể Đức Kitô có bệnh AIDS.

Những người mang biểu ngữ này tại hội nghị về bệnh AIDS dường như có hình ảnh thật khác biệt về giáo hội. Những người này có khuynh hướng nghĩ nhiều về một giáo hội Lữ Hành còn dang dở và còn thay đổi hơn là một nàng dâu tinh tuyền của con chiên không tì tích. Họ cùng một âm hưởng với quan điểm giáo hội là Dân Chúa cần canh tân và đổi mới hơn là một giáo hội lý tưởng, không tì ố. Họ có chiều hướng nhắm đến Thân Thể Đức Kitô như tan nát và đổ máu hơn là đã phục sinh và vinh hiển. Có lẽ họ nhắc chúng ta nhớ đến lời của Thánh Phaolô:

Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. (1 Cor. 12:24-26).

Nhìn theo quan điểm này, nói rằng Thân Thể Đức Kitô có bệnh AIDS thì cũng giống như nói rằng tất cả chúng ta cùng chia sẻ sự đau khổ của nhau.

Cả hai quan điểm này dường như đều tìm thấy sự hỗ trợ trong Kinh Thánh và truyền thống của giáo hội.

Trong Chương Này

Trong chương đầu của sách, chúng ta nêu lên các câu hỏi về các vấn đề và sự chia cắt hiện thời trong giáo hội Công Giáo. Trong những chương tiếp đó, các mâu thuẫn thần học, cả quá khứ lẫn hiện tại, thường được lộ ra.

Trong chương này chúng ta sẽ khảo sát sâu xa hơn về một số khác biệt giữa các trường phái tư tưởng trong giáo hội Công Giáo ngày nay. Để đơn giản, tôi chỉ đưa ra hai trường phái tư tưởng, tuy trong thực tế có cả một chuỗi tiếp cận khác nhau. Điểm chính của sự khác biệt mà chúng ta sẽ nhắm đến là phương cách giải thích văn kiện công đồng Vatican II của mỗi nhóm. Chúng ta sẽ kết thúc với một lưu tâm về "Thượng Hội Đồng Ngoại Thường" năm 1985, một cuộc họp ở Vatican nhằm tạo sự hài hòa giữa các tiếng nói không hòa hợp.

Tài liệu này có liên hệ đến chương 7 của Lumen Gentium vì chương ấy giới thiệu và hài hòa hai hình ảnh của giáo hội mà hai trường phái tư tưởng đặc biệt thích thú: Giáo Hội Lữ Hành và Cộng Đồng các Thánh. Vì lý do này, tôi sẽ gọi một nhóm là "Lữ Hành" và nhóm kia là "Các Thánh." Hầu hết nhóm Lữ Hành là những người hỗ trợ biểu ngữ "Thân Thể Đức Kitô có bệnh AIDS"; hầu hết nhóm Các Thánh là những người chống đối.

Nhóm Lữ Hành

Các thần học gia có khuynh hướng ủng hộ các hình ảnh tỉ như "Giáo Hội Lữ Hành" và "Dân Chúa" thì nêu ra các lợi điểm chính yếu của Công Đồng Vatican II là những thay đổi có tiến bộ: mở rộng về đại kết, có thái độ tích cực hơn đối với tôn giáo khác, sự chú ý đến giáo dân, việc nhấn mạnh đến tự do tôn giáo, và sư lưu tâm đặc biệt đến các vấn đề hòa bình và công bằng kinh tế. Với các thần học gia này, tỉ như Edwards Schillebeeckx và Leonardo Boff, sự chuyển đổi chính yếu ở Công Đồng Vatican II là đi từ một giáo hội quá lo lắng về chính mình như một tổ chức đến một giáo hội cố tự thay đổi và can dự trong sự xây dựng thế giới. Giáo hội không còn là một pháo đài phòng thủ chống lại thế giới nhưng là một động lực trong thế giới để thay đổi xã hội.

Với nhóm Lữ Hành, sự chuyển hướng căn bản thần học làm nền tảng cho những thay đổi của Vatican II là từ một đức tin Công Giáo được coi như một "kiện hàng" có hệ thống và đầy đủ được Chúa Giêsu trao lại qua các tông đồ một cách trọn vẹn sang một hiểu biết về biến cố Kitô Giáo theo các ý nghĩa nặng về lịch sử và xã hội. Điểm nhắm đến là cảm nghiệm con người. Do đó, Schillebeeckx bắt đầu thần học của ông không phải với Đức Giêsu từ trời "xuống" nhưng với con người Giêsu có một cảm nghiệm đặc biệt về sự biến đổi qua sự gặp gỡ với "Abba" (hay Cha) của Người. "Cảm nghiệm về Abba" của Đức Giêsu trở nên cảm nghiệm căn bản cho thừa tác vụ và sứ vụ của Người. Sau cái chết của Đức Giêsu, cảm nghiệm của các tông đồ về Đức Giêsu là Chúa đã biến đổi họ và trở thành căn bản cho cộng đồng Kitô Hữu. Ngày nay, việc tiếp tục cảm nghiệm Đức Giêsu là Chúa đưa con người đến với nhau trong các cộng đồng được dựa trên một tình yêu mà từ đó đưa họ đến việc thay đổi xã hội.

Nhóm Lữ Hành nhấn mạnh đến khả năng của giáo hội để thay đổi và thích ứng khi đối diện với các hoàn cảnh mới. Vì lý do này, cả Shillerbeeckx và Boff chú trọng đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc hình thành giáo hội. Thay vì nhấn mạnh đến giáo hội như được Chúa Giêsu thiết lập và bởi đó không bị thay đổi, họ nhấn mạnh rằng các tông đồ đã thiết lập giáo hội bởi giải quyết các tình thế mới với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Do đó, khi các hoàn cảnh mới xảy ra ngày nay, các nhà lãnh đạo giáo hội phải cảm thấy có khả năng thể hiện những thay đổi cần thiết. Tỉ như, cả Schillerbeeckx và Boff đều ủng hộ việc cho phép linh mục lấy vợ và việc tấn phong phụ nữ.

Nhóm Lữ Hành là những người đang cố vạch ra các lãnh vực mới. Cả Schillebeeckx và Boff đều cảm thấy một nhu cầu khẩn cấp phải thay đổi trong giáo hội và xã hội. Không ngạc nhiên là họ sẽ chú trọng đến các yếu tố của Công Đồng Vatican II mà chúng đại diện cho tiến bộ xã hội.

Nhóm Các Thánh

Các thần học gia có khuynh hướng chú trọng đến các hình ảnh giáo hội ít có tính cách lịch sử, nhiều tính cách mầu nhiệm, tỉ như "Cộng Đồng Các Thánh," "Nàng Dâu của Đức Kitô," và "Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô," họ nhận ra hai chiều hướng thay đổi khác biệt ở Công Đồng Vatican II, và sau đó đưa một chiều hướng lên trên chiều hướng kia. Với các học giả này, tỉ như Hans Urs von Balthasar và Joseph Ratzinger, sự chuyển đổi từ việc quá chú trọng đến phẩm trật sang một ý niệm về giáo hội như bao gồm toàn thể dân Chúa thì hữu ích nhưng sự thay đổi ấy tương đối nhỏ. Sự chuyển đổi chính yếu ở Vatican II là từ một giáo hội quá lưu tâm đến pháp lý và nghi thức sang một giáo hội có ý thức về chính mình như một mầu nhiệm nhằm diễn đạt tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Các thần học gia này không bỏ qua cũng như không từ chối các giảng dậy tiến bộ của Vatican II về tính cách đại kết, vai trò giáo dân, tự do tôn giáo, hay công lý và hòa bình, nhưng họ giải thích các giảng dậy này trong một khung cảnh mà nó nhấn mạnh đến giáo hội như Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô với cơ cấu phẩm trật.

Với nhóm Các Thánh, sự chuyển đổi thần học căn bản mà nó làm nền tảng cho những thay đổi của Vatican II bao gồm việc giáo hội trở nên ý thức hơn về sứ vụ của mình là rao giảng cho thế giới sứ điệp tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa được biết đến qua Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể của Thiên Chúa. Đó là vấn đề của chính giáo hội mà nó đã từng hiện diện từ thời Chúa Kitô giờ đây nó lại xuất hiện với trách nhiệm mục vụ. Sự chuyển đổi trong sự hiểu biết về giáo hội thì không phải là một chuyển đổi xa cách với một tổ chức kiểu mẫu để đến một loại kiểu mẫu khác, nhưng đúng hơn một chuyển đổi từ một tổ chức kiểu mẫu pháp lý thái quá sang một kiểu mẫu vẫn coi trọng tổ chức nhưng được nung nấu bằng tình yêu của Chúa Kitô. Một giáo hội không nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Chúa Giêsu sẽ trở nên một tổ chức phục vụ xã hội.

Nhóm Các Thánh nhấn mạnh đến khả năng của giáo hội để đương đầu với các tình thế mới trong những phương cách vẫn trung thành với truyền thống đã được trao truyền lại trọn vẹn qua các thế hệ. Vì lý do này, von Balthasar và Ratzinger nhấn mạnh rằng chính Đức Kitô thành lập giáo hội và con người trông coi giáo hội ấy phải rất do dự khi thay đổi. Sự nhấn mạnh của Ratzinger đã khiến ông ở vào vị thế tương phản với Boff.

Cảm giác của tôi là ý nghĩa Công Giáo đích thực của thực thể "giáo hội" thì đang biến dạng ngấm ngầm, mà không bị tẩy chay một cách hiển nhiên. Nhiều người không còn tin rằng vấn đề ở đây là một thực thể do chính Chúa muốn. Ngay cả với một số thần học gia, giáo hội có vẻ là một xây dựng của con người, một dụng cụ được tạo thành bởi chúng ta và chính chúng ta có thể tự do tái sắp xếp theo các nhu cầu của thời đại.

Ratzinger coi quan điểm này như sự sói mòn chính đức tin Công Giáo:

… quả thật giáo hội bao gồm con người mà họ tạo nên diện mạo bên ngoài của giáo hội. Nhưng đằng sau đó, các cơ cấu căn bản là ý Chúa, và bởi đó chúng không thể vi phạm. Đằng sau cái bề ngoài con người là một mầu nhiệm hơn cả thực thể nhân loại, trong đó các nhà cải cách, xã hội học, người tổ chức không có thẩm quyền về bất cứ gì. Thật vậy, nếu giáo hội được coi như một xây dựng con người, một sản phẩm do nỗ lực của chính chúng ta, ngay cả các nội dung đức tin sẽ đi đến chỗ có đặc tính không bó buộc: thật vậy, đức tin không có một phương tiện đích thực, được đảm bảo mà qua đó tự nó có thể biểu lộ. Do đó, nếu không có một quan điểm về mầu nhiệm của giáo hội mà nó cũng có tính cách siêu nhiên và không chỉ có tính cách xã hội, Kitô Giáo sẽ mất sự quan hệ với Thiên Chúa chỉ vì thuận lợi cho một cơ cấu thuần tuý con người, và sau cùng nó sẽ đi đến một chương trình hoàn toàn con người: Phúc Âm trở nên chương trình-Chúa Giêsu, chương trình-giải phóng-xã hội hay bất gì khác chỉ có tính cách lịch sử, các chương trình nội tại vẫn có thể mang dáng vẻ tôn giáo, nhưng thực chất là vô thần.

Như vậy, với Ratzinger, giáo hội bao gồm các cơ cấu căn bản nhất, trong một ý nghĩa mầu nhiệm quan trọng, giáo hội vượt ra ngoài thế giới mà sự bình phẩm của thế giới vẫn không thể chạm đến được.

Giáo Hội Hiệp Thông

Những khác biệt thần học giữa nhóm Lữ Hành và nhóm Các Thánh tạo nên nhiều khác biệt thực tế. Nhóm Lữ Hành thường được coi là những người phóng khoáng muốn giáo hội tiếp tục thay đổi trong việc đối thoại với thế giới. Nhóm Các Thánh thường được coi là những người bảo thủ muốn duy trì căn tính độc đáo của Công Giáo khi đối diện với thế giới quá hỗn độn. Nhóm Lữ Hành có khuynh hướng coi nhóm Các Thánh như các thần học gia lạc hậu và hà khắc muốn tìm cách tái lập đức tin Công Giáo như một ý thức hệ hờ hững với cảm nghiệm thay đổi của con người. Nhóm Các Thánh có khuynh hướng coi nhóm Lữ Hành như kẻ hung ác nguy hiểm và phóng túng muốn bỏ qua đức tin với hy vọng rằng thế giới sẽ chấp nhận họ. Những căng thẳng này giữa các thần học gia thường được phản ánh trong các căng thẳng giữa tự do-phóng khoáng trong toàn thể giáo hội.

Ở đầu chương này tôi ám chỉ đến vấn đề đưa người ta vào hai nhóm và vì thế tạo nên một hình ảnh quá đáng không nói lên được sự phức tạp của hoàn cảnh. Thế giới các thần học gia Công Giáo không thể thực sự được chia làm hai nhóm Lữ Hành và Các Thánh; hai nhóm này chỉ là loại giải thích mà chúng có thể làm lệch lạc nhiều như đã thấy. Trên thực tế, các thần học gia Công Giáo trải rộng trên một phạm vi lập trường. Hầu hết họ đứng giữa. Điều này cũng đúng với toàn thể giáo hội. Các thái cực tự do-phóng khoáng giảm dần khi được đưa vào nền tảng thực tế của một phạm vi lập trường rộng lớn, mà hầu hết mọi người đứng ở giữa.

Trong năm 1985 một cuộc họp của các giám mục được tổ chức ở Rôma được gọi là Thượng Hội Đồng Ngoại Thường. Được gọi là "ngoại thường" vì nó được tổ chức như một biến cố đặc biệt bên cạnh các thượng hội đồng "bình thường" được triệu tập ba năm một lần. Mục đích của cuộc họp này là để nhìn lại và thẩm định sự tiến bộ của giáo hội kể từ sau Công Đồng Vatican II. Một số thần học gia nhóm Lữ Hành lúc bấy giờ sợ rằng nhóm Các Thánh sẽ tiến vào và tìm cách lấy lại những tiến bộ mà Vatican II đã đạt được. Hầu hết các bình luận gia sau đó tin rằng điều này sẽ không bao giờ xảy ra. Thượng Hội Đồng Ngoại Thường tái xác nhận Vatican II một cách rõ ràng, trong khi đưa ra một số đề nghị và cảnh giác về việc thi hành các văn kiện.

Một chủ đề chính yếu được thượng hội đồng đưa ra được gọi là "giáo hội hiệp thông." Quan niệm này được trình bầy như yếu tố then chốt để giải thích văn kiện của Vatican II. "Giáo hội hiệp thông là ý tưởng chính yếu và căn bản của các văn kiện công đồng."

Giáo hội hiệp thông là một hiểu biết về giáo hội mà nó bắt nguồn trong các thế kỷ đầu của Kitô Giáo. Trước hết nó nhìn cộng đồng trong tình yêu của ba ngôi Thiên Chúa dành cho nhau; giáo hội là một cộng đồng phản ánh tình yêu này. Qua bí tích Thánh Thể, "sự hiệp thông thánh", con người được đưa đến với nhau trong tình yêu của Chúa Kitô.

Giáo hội hiệp thông còn nhấn mạnh rằng giáo hội là một cộng đồng của các giáo hội địa phương. Nó có một số yếu tố mà nhóm Các Thánh rất hài lòng, tỉ như nhấn mạnh đến sự hiệp nhất qua Chúa Kitô và phẩm trật. Nó có các yếu tố khác mà nhóm Lữ Hành thấy rất thỏa mãn, tỉ như nhấn mạnh đến tính cách đa dạng hợp pháp và đa hình thức của các giáo hội địa phương.

Thượng Hồi Đồng Ngoại Thường đề xướng giáo hội hiệp thông như một nhịp cầu giữa các phương cách tiếp cận thần học khác biệt.  Thượng hội đồng kêu gọi chấm dứt các phương cách tiếp cận đã lý tưởng hóa coi một số phát biểu của Vatican II cao hơn những phát biểu khác; trong vị thế của các văn kiện, thượng hội đồng kêu gọi các phương cách tiếp cận mà nó tôn trọng từng văn kiện cũng như toàn thể, sự tương quan giữa các văn kiện, và ý định của tác giả cũng như xác nhận các văn kiện này.

Sự dẫn giải thần học về học thuyết công đồng phải tỏ rõ việc chú ý đến toàn thể văn kiện, trong chính các văn kiện ấy và trong sự tương quan mật thiết với nhau, theo một phương cách mà ý nghĩa toàn bộ của các phát biểu công đồng--thường rất phức tạp--có thể hiểu được và bầy tỏ được.

Như thế thượng hội đồng kêu gọi một quan điểm mà nó vượt lên trên những lưu tâm của thần học phe phái để đến với một thái độ chăm chú lắng nghe sự giảng dậy có nhiều chiều kích của Công Đồng Vatican II.

Qua thượng hội đồng, một số người trong nhóm Các Thánh muốn tuyên bố một cách bảnh chọe và vẻ vang tới mức độ họ răn đe các quan điểm quá lạc quan về thế giới và những giải thích quá phóng túng về công đồng. Một số người trong nhóm Lữ Hành, trong sự sợ hãi ban đầu, muốn công bố sự khuây khoả lớn lao khi thượng hội đồng đã xác nhận kết quả của Vatican II thay vì thu hồi. Một số bình luận gia muốn vạch ra rằng "giáo hội hiệp thông" ở điểm này vẫn là một phạm trù mơ hồ cách nào đó để rồi nhóm Các Thánh có thể giải thích thế này và nhóm Lữ Hành giải thích thế nọ.

Quan điểm lạc quan của tôi là thượng hội đồng thật sự đã kêu gọi được một cái nhìn cao hơn và đã cung ứng tối thiểu một khởi đầu trong chiều hướng thành công. Tôi vui mừng vì một số người trong giáo hội đã mang biểu ngữ: "Thân Thể Đức Kitô có bệnh AIDS". Đồng thời, tôi cũng vui mừng vì có người chống đối điều đó. Cả hai nhóm đều có những giá trị để chia sẻ; không nhóm nào bị kẹt trong chân lý và sự thích đáng có tính cách thần học. Điều này không có nghĩa tôi là một người theo thuyết tương đối. Tôi tin rằng sứ điệp Kitô Giáo là chân lý. Tôi cũng tin rằng một số phương cách tiếp cận thần học thì hay hơn các phương cách khác. Tuy nhiên, vẫn có một chỗ đứng hợp pháp trong quá nhiều vấn đề này. Trong giáo hội, tôi yêu quý cả hai nhóm Lữ Hành và Các Thánh, một ít người đứng ở hai thái cực, và nhiều người đứng ở giữa.

Tóm Lược

Trong chương này chúng ta vừa khảo sát hai trường phái tư tưởng xung khắc nhau được phát sinh sau Công Đồng Vatican II. Nhóm Lữ Hành có khuynh hướng cho rằng giáo hội không thay đổi nhiều; quá nhiều điều cần phải thi hành về vấn đề công lý, phái tính, và canh tân nội bộ giáo hội. Nhóm Các Thánh có khuynh hướng nghĩ rằng giáo hội đã thay đổi đủ; bây giờ là lúc đóng sự điên dại lại và chú ý đến các căn bản đơn giản. Trong sự căng thẳng giữa hai quan điểm này là tương lai của giáo hội đang được thể hiện.

Trong chương tới chúng ta sẽ thảo luận về vị trí của Đức Maria trong cái nhìn của Công Giáo.

Câu Hỏi Để Suy Tư Thêm

  1. Bạn biết đến những căng thẳng thần học trong giáo hội Công Giáo theo phương cách nào?
  2. Bạn phản ứng thế nào với biểu ngữ: Thân Thể Đức Kitô có bệnh AIDS?
  3. Bạn thuộc về nhóm Lữ Hành hay Các Thánh?
  4. Nếu có hai phát biểu trong một văn kiện của Vatican II xung khắc nhau, đâu là cách tốt nhất để giải thích?
  5. Đâu là những nguy hiểm khi coi người ta thuộc về hai thái cực khác nhau?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com