Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 4: Bản Chất và Sứ Vụ của Giáo Hội

T

rong những năm đại học tôi trải qua một thời kỳ khô khan khi xa cách Giáo Hội. Có thời gian tôi là người bất-khả-tri; có thời gian là người vô-thần; có thời gian tôi thích thú với triết lý Đông Phương cũng như thuyết tiên nghiệm (transcendentalism) của Hoa Kỳ. Khi mới trở về với Giáo Hội, phần nào tôi cảm thấy bối rối và có thái độ tự vệ. Trong một thời gian, bất cứ nói chuyện với ai tôi cũng thường biến câu chuyện thành cuộc tranh luận về Giáo Hội Công Giáo. Sự hiểu biết về đức tin của tôi chưa sâu rộng, nhưng tôi vẫn cảm thấy phải biện minh cho sự trở lại của tôi bằng cách phản đối những gì không rõ ràng là Công Giáo.

Ngày nay, sau nhiều năm nghiên cứu và cố gắng sống đức tin, tôi ít có thái độ tự vệ hơn. Đức tin vẫn là điều quan trọng duy nhất trong đời tôi. Tuy nhiên, tôi có khuynh hướng cởi mở hơn với các quan điểm của người khác và không coi đó là sự đe dọa đối với quan điểm của tôi về thế giới. Tôi không chỉ là một phần tử của Giáo Hội Công Giáo, nhưng còn là một công dân tích cực góp phần cho xã hội toàn cầu, và tôi coi quan điểm của người khác như để phong phú hóa quan điểm của chính mình. Điều này không có nghĩa tôi chấp nhận đủ mọi thứ một cách không do dự hoặc không khước từ một ý kiến nào. Đơn giản chỉ có nghĩa là thái độ của tôi đã thay đổi từ trạng thái nghi ngờ tẩy chay quan điểm của người khác đến trạng thái cởi mở một cách vui vẻ đối với người khác.

Trong Chương Này

Tôi nghĩ những thay đổi trong cuộc đời tôi là một phản ánh nhỏ bé của sự phát triển trong Giáo Hội Công Giáo mà cao điểm là từ Công Đồng Vatican II. Lumen Gentium, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, báo hiệu một chuyển biến trong sự hiểu biết của Công Giáo về giáo hội. Chương này sẽ khảo sát, trước hết sự hiểu biết về giáo hội trước thời Công Đồng Vatican II, sau đó là vài mô thức hiện nay của giáo hội.

Chương này có liên can đến Lumen Gentium trong hai phương cách. Thứ nhất, nó là một khảo sát về bản chất và sứ vụ của Giáo Hội như được đề cập trong đoạn đầu của văn kiện. Thứ hai, các mô thức của giáo hội thảo luận ở đây được thấy trong văn kiện Lumen Gentium trong nhiều kiểu cách khác nhau.

Sách Giáo Lý Baltimore

Nhiều người Công Giáo ở Hoa Kỳ được học giáo lý từ sách Giáo Lý Baltimore, là cuốn giáo lý được phát hành đầu tiên năm 1884 và được sử dụng cách rộng rãi từ 1910 đến 1965. Sách này dùng để giải thích các căn bản của đức tin Kitô Giáo theo kiểu hỏi đáp. Thí dụ, "Hỏi: Ai dựng nên chúng ta?" "Thưa: Thiên Chúa dựng nên chúng ta." Câu hỏi kế tiếp: "Thiên Chúa là ai?" thì chúng ta được biết là: "Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, vô cùng tuyệt hảo, Người dựng nên mọi sự và duy trì sự hiện hữu của mọi sự." Sách Giáo Lý Baltimore có các phần chính về đức tin, các điều răn, và các bí tích.

Giai đoạn mà các sách giáo lý Công Giáo đầu tiên xuất hiện là giai đoạn Phản-Cải-Cách. Các văn bản xuất hiện trong giai đoạn này phản ánh sự hoàn toàn chống đối với bất cứ gì là của Tin Lành. Nhiều câu giáo lý Công Giáo nhằm chỉ bảo về sự khác biệt giữa Công Giáo và Tin Lành. Ngược lại, điều này cũng đúng với sách giáo lý của Tin Lành.

Sách Giáo Lý Baltimore là sản phẩm tinh thần trực tiếp của các văn bản thời Phản-Cải-Cách. Một trong những mục đích của sách này là duy trì đức tin Công Giáo ở Hoa Kỳ, là một quốc gia Tin Lành với hệ thống học đường thuần tuý thế tục. Người ta không mấy khó khăn để tìm thấy các giải thích hợp lý về đức tin Kitô Giáo trong sách Giáo Lý Baltimore, nhưng sách thất bại vì thái độ tự vệ và các vấn đề không được đề cập cách cân xứng. Thí dụ, có đến vài trang câu hỏi và trả lời liên can đến vấn đề giáo hội nào là giáo hội đích thực và duy nhất mà nhờ đó người ta được đảm bảo ơn cứu độ đời đời. Tuy nhiên, sách ít đề cập đến cuộc đời và giáo huấn của Đức Giêsu. Việc sống lại, mà Thánh Phaolô gọi là nền tảng của đức tin, cũng chỉ được đề cập đến trong một câu mà thôi. Đó là vì vấn đề sống lại không phải vấn đề chính trong cuộc tranh luận thời Phản-Cải-Cách, trong khi vấn đề cứu chuộc và người ta phải thuộc về giáo hội nào thì lại được tranh luận sôi nổi.

Thái độ tự vệ của sách Giáo Lý Baltimore phản ánh phần nào bầu khí thần học và mục vụ của Giáo Hội trước thời Công Đồng Vatican II. Đó là một giáo hội lưu tâm đến việc duy trì sự hợp nhất trong nội bộ và sự toàn vẹn của bí tích, đồng thời tung ra sự nghi ngờ và đôi khi có thái độ thù nghịch đối với những người bên ngoài là những ai không chấp nhận đức tin Công Giáo.

Các Mô Thức của Giáo Hội

Bầu khí cởi mở trong sự tra cứu là đặc điểm của các văn kiện Công Đồng Vatican II. Lumen Gentium khẳng định mục đích của văn kiện này là bộc lộ "bản tính nội tại và sứ vụ hoàn vũ" của giáo hội (LG, 1). Văn kiện không trình bày giáo hội như một tổ chức nguyên khối được Thiên Chúa thành lập cho sự cứu độ của các phần tử, nhưng một vài mô thức và hình ảnh của giáo hội đã được đưa ra. Trong cuốn Models of the Church (Các Mô thức của Giáo Hội), Cha Avery Dulles, thần học gia dòng Tên,  đã khảo sát một vài ý niệm tiềm tàng về giáo hội trong thần học Công Giáo hiện đại. Mỗi một mô thức này được tìm thấy trong các văn kiện của Công Đồng Vatican II. Cha Dulles đã thảo luận năm mô thức sau đây, mỗi một mô thức có bản chất và sứ vụ riêng biệt.

Bản Chất

Sứ Vụ

Cơ cấu

cung cấp ơn cứu độ cho các phần tử

Sự hiệp thông huyền nhiệm

cung ứng sự hỗ trợ tinh thần

Bí tích

giúp Đức Kitô hiện diện

Sứ giả

rao giảng phúc âm

Tôi tớ

thay đổi xã hội

Mô thức cơ cấu, như cha Dulles diễn tả trong ấn bản đầu tiên, là quan điểm đã quan trọng hóa yếu tố thể chế của giáo hội, tỉ như chức vụ, học thuyết, luật lệ, và các nghi thức. Các vấn đề khác như người dân, sự tương giao với Thiên Chúa, Kinh Thánh, và công bằng trở nên thứ yếu. Do đó, không giống như bốn mô thức kia, theo định nghĩa, mô thức này là một khởi điểm rất hạn hẹp. Cha Dulles khẳng định rằng bất cứ mô thức nào khác cũng có thể là điểm căn bản giúp người ta có ý niệm về giáo hội, ngoại trừ mô thức này. Tuy nhiên, cha nói thêm là bất cứ mô thức nào của giáo hội, người ta cần kết nạp và hiểu rõ giá trị của các yếu tố cơ cấu.

Trong một chương được thêm vào ấn bản phát hành sau này, Cha Dulles thú nhận rằng đã phần nào quá khắt khe khi trình bầy mô thức cơ cấu. Cha vẫn chủ trương rằng các cơ cấu tổ chức không thể coi là chính yếu, nhưng cha nói thêm là một số khó khăn của mô thức cơ cấu có thể vượt qua nếu người ta không suy nghĩ theo nghĩa xã hội học nhưng theo nghĩa "những gì mà Thiên Chúa 'đã thiết lập' trong Đức Kitô" (t. 205). Nói cách khác, có nhiều cách để hiểu giáo hội như một tổ chức về cơ bản mà không phải áp đặt các yếu tố cơ cấu ngược với ý dân và đời sống tâm linh của họ. Sự sáng tỏ này thật quan trọng vì mô thức cơ cấu là mô thức hầu như trực tiếp liên hệ đến quan điểm về giáo hội trước thời Công Đồng Vatican II.

Mô thức hiệp thông huyền nhiệm nhấn mạnh đến người dân là những người đã tạo thành giáo hội và sự quan hệ giữa họ với nhau và với Thiên Chúa. Trong khi không cần thiết phải tẩy chay các yếu tố cơ cấu, mô thức này đã nhấn mạnh hơn đến phần tâm linh, cộng đoàn, và tình bằng hữu. Theo quan điểm này, giáo hội là một loại tổ chức hỗ trợ tinh thần nhằm giúp người dân sống thánh thiện.

Cha Dulles liên kết mô thức này với hai hình ảnh, Thân Thể Đức Kitô và Dân Chúa. Những hình ảnh này, tuy có thể hài hoà nhưng chúng mâu thuẫn nhau trong các cuộc tranh luận thần học hiện nay. Cả hai hình ảnh đều đóng vai trò quan trọng trong Công Đồng Vatican II vì được coi như các hình ảnh canh tân của giáo hội. Ngày nay, hình ảnh Thân Thể Đức Kitô thường được dùng để hỗ trợ cho một vai trò chủ yếu trong phẩm trật mà vai trò ấy được coi như một "phần tử" đặc biệt hành xử thay cho Đức Kitô là "đầu" của thân thể. Hình ảnh Dân Chúa dường như được hưởng ứng bởi những ai muốn đẩy mạnh sự canh tân trong Giáo Hội bằng cách trao ban cho phụ nữ và giáo dân một vai trò rộng lớn hơn trong thừa tác vụ và quyền quyết định.

Mô thức bí tích là quan điểm chú trọng đến giáo hội như sự hiện diện không ngừng của Đức Kitô trong thế giới. Bí tích thường được hiểu như một phương cách nhằm hiện thực hóa và tác động hóa một thực tại thiêng liêng. Như Đức Kitô có thể hiểu là bí tích của Thiên Chúa thì giáo hội cũng có thể hiểu là một bí tích của Đức Kitô.

Cha Dulles coi mô thức bí tích thật hữu ích trong việc hài hòa các yếu tố gây nên căng thẳng trong các mô thức trước. Mô thức cơ cấu nhấn mạnh đến tổ chức hữu hình mà quên đi vấn đề tâm linh; mô thức hiệp thông huyền nhiệm khiến người ta tự hỏi một tổ chức hữu hình có còn cần thiết hay không. Mô thức bí tích giải thích cách hòa hợp giữa các thực thể hữu hình và vô hình. Một vật, một lời hay một cử chỉ có thể giúp hiệu lực hóa một điều gì đó mà nếu không sẽ không hiện diện.

Mô thức bí tích còn cho phép người tín hữu giữ một khoảng cách biệt với chính các dấu chỉ. Giáo Hội là bí tích của Đức Kitô, nhưng giáo hội còn phải được phân biệt rõ ràng với Đức Kitô. Các bí tích giúp hành động cứu chuộc của Đức Kitô trở nên hiện thực, nhưng các hình thức và lời nói không phải là thực thể. Trong các mô thức, mô thức bí tích có tính cách lý thuyết nhiều nhất. Như Cha Dulles đã nói, đó là mô thức hữu ích nhất cho các thần học gia, nhưng khó hiểu nhất cho bất cứ ai khác.

Mô thức sứ giả nhấn mạnh đến tính cách tối thượng của Kinh Thánh. Giáo hội gồm những người nghe lời Chúa và được thay đổi. Sứ vụ của giáo hội là loan truyền lời Chúa cho đến tận cùng trái đất.

Những ai chấp nhận tính cách tối thượng của Kinh Thánh trên các hình thái khác của truyền thống và thẩm quyền thì được coi là Kitô Hữu duy phúc âm (evangelical). Nhiều Kitô Hữu duy phúc âm cũng là người duy văn tự (fundamentalist) họ giải thích Kinh Thánh như một dữ kiện lịch sử không thể sai lầm trong bất cứ phương cách nào. Tuy nhiên, cũng có những người duy phúc âm nhấn mạnh đến tính cách tối thượng của Kinh Thánh trong khi chấp nhận các phương cách tiếp cận phê bình-lịch sử đối với Kinh Thánh. Thí dụ, Rudolf Bultmann là một người Tin Lành cấp tiến mà các phương pháp dẫn giải Kinh Thánh của ông phù hợp với mô thức sứ giả duy phúc âm nhưng không duy văn tự.

Hơn bất cứ mô thức nào khác, mô thức sứ giả có thể trực tiếp liên hệ đến đạo Tin Lành. Karl Barth, nhà thần học duy phúc âm nổi tiếng của thế kỷ hai mươi, đã dùng mô thức sứ giả làm thí dụ khi ông phân biệt giữa thần học vinh quang và thần học khổ giá, lấy từ tư tưởng của Martin Luther. Một giáo hội tuyên xưng vinh quang của mình thì trái ngược với phúc âm; nhiệm vụ của giáo hội là khiêm tốn đừng hướng đến mình nhưng hướng về Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ của giáo hội. Hans Kung, một linh mục thần học gia Công Giáo là người bị Vatican khiển trách, cũng có lập trường tương tự khi cha nhấn mạnh rằng giáo hội không phải là vương quốc của Thiên Chúa nhưng đúng hơn chỉ là người sứ giả hoặc người công bố vương quốc ấy mà thôi. Ngược lại, lập trường của Công Giáo cho rằng giáo hội là hạt giống của vương quốc này nhưng không phải là sự trọn vẹn của vương quốc này.

Khi Cha Dulles viết cuốn Models of the Church năm 1974 ngài có thể nhận định một cách chính xác rằng những ai hỗ trợ một số hình thức của mô thức sứ giả thì không có khuynh hướng dính líu đến vấn đề chính trị. Trong thập niên 1980, ở Hoa Kỳ, lập trường này đã thay đổi một cách đáng kể khi rất đông người duy phúc âm dồn nỗ lực vào việc cải tổ chính trị. Năm 1989, nhà lãnh đạo duy phúc âm Jerry Falwell đã giải tán tổ chức chính trị của ông, The Moral Majority, khi tuyên bố rằng tổ chức này đã hoàn thành mục tiêu của nó sau khi đưa các Kitô Hữu duy phúc âm tham dự vào vấn đề chính trị. Các Kitô Hữu duy phúc âm thường nổi tiếng can dự trong các phong trào xã hội và chính trị nhằm hỗ trợ các tổng thống Reagan và Bush. Dù rằng hầu hết các Kitô Hữu duy phúc âm thường rất bảo thủ, nhưng không phải tất cả đều như vậy. Tạp chí Sojourners đại diện cho tiếng nói của những Kitô Hữu duy phúc âm là những người tận tụy trong việc thay đổi xã hội cách quyết liệt.

Mô thức tôi tớ nhấn mạnh đến nhu cầu của một giáo hội can dự vào việc biến đổi xã hội. Nếu theo truyền thống, giáo hội được trình bầy như một nơi ẩn náu để lánh khỏi thế giới đồi bại và nhiều cám dỗ, thì mô thức này đưa ra một giáo hội để phục vụ thế giới mà nó tốt lành tự bản chất. Các phần tử của giáo hội được coi như một phần của gia đình nhân loại rộng lớn hơn. Thiên Chúa không chỉ được biết đến qua giáo hội nhưng còn qua cảm nghiệm của con người và những sự vật của thế giới. Văn minh và khoa học được coi như có sự tự trị chính đáng của nó, không chịu sự chi phối của giáo hội.

Cha Dulles liên kết mô thức sau cùng này với Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay và với công trình tiên phong của Cha Pierre Teilhard de Chardin. Cha Chardin là một linh mục dòng Tên và cũng là nhà cổ sinh vật học, ngài nổi tiếng vì những cố gắng thử hài hòa thuyết tiến hóa với Kitô Giáo. Ngài hình dung giáo hội như một xã hội tiến bộ cốt để hoạt động như người dẫn đầu cho cuộc tiến hóa. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay du nhập một số chủ đề căn bản của Cha Chardin bằng cách xác nhận tầm quan trọng của người Công Giáo khi làm việc chung với những người thuộc đủ mọi thành phần khác nhau nhằm thăng tiến cộng đồng nhân loại.

Một thí dụ nổi bật ngày nay về mô thức tôi tớ có thể tìm thấy trong thần học giải phóng đang được phát triển ở Châu Mỹ La Tinh. Ấn bản đầu tiên của cuốn Models of the Church có ám chỉ đôi chút đến phong trào này mà lúc ấy còn non yếu; trong ấn bản sau này có thêm phần phụ trương đề cập đến nhiều hơn. Trong mười ba năm giữa hai lần xuất bản cuốn sách nói trên, thần học giải phóng đã bùng nổ trên toàn thế giới. Cuốn A Theology of Liberation của Gustavo Gutierrez phát hành năm 1971 bằng tiếng Tây Ban Nha trở thành tác phẩm kinh điển. Thần học giải phóng được phát sinh bởi sự chèn ép người dân ở Châu Mỹ La Tinh về phương diện chính trị, xã hội, và kinh tế. Nó là thí dụ điển hình cho mô thức tôi tớ khi nhấn mạnh rằng Giáo Hội cần phải can dự vào việc thay đổi xã hội. Tuy nhiên, nó khác với các mô thức khác ở điểm nó không có cái nhìn lạc quan về sự tốt lành của con người và về sự tiến bộ của nhân loại. Thay vào đó, nó chú trọng đến cơ cấu tội lỗi mà dường như đang thống trị hoạt động của con người.

Năm mô thức này -- cơ cấu, hiệp thông huyền nhiệm, bí tích, sứ giả, tôi tớ -- tạo thành các nền tảng cho bài viết của Cha Dulles. Cuốn Models of the Church thật quan trọng vì nó cho thấy rõ ràng rằng người Công Giáo có những khởi điểm hợp lý khi nghĩ về giáo hội. Trong thập niên đầu tiên sau Công Đồng Vatican II, hầu hết người Công Giáo vẫn còn lẩn quẩn trong vài hình thức của mô thức cơ cấu, họ không biết là còn các mô thức khác mà công đồng mới đưa ra. Những mô thức này còn hữu dụng để làm tiêu đề cho một số vấn đề mà nếu không có các mô thức này các vấn đề ấy sẽ làm phân hóa giáo hội. Thay vì lòng vòng tranh luận các quan niệm về giáo hội mà không có giải pháp nào trước mắt, nhiều người Công Giáo thấy khuây khỏa khi biết có nhiều quan điểm khác được chấp nhận. Ngày nay, các mô thức này vẫn là một dụng cụ quan trọng giúp những người Công Giáo nào muốn duyệt xét lại lập trường của mình.

Cộng Đồng Môn Đệ

Trong phần phụ thêm của cuốn Models of the Church, Cha Dulles có thêm vào một loại mới, mô thức cộng đồng môn đệ. Ngài lấy danh từ này từ một lời dẫn giải của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong thông điệp đầu tiên, Redemptor Hominis (1979). Cộng đồng môn đệ không chỉ là một loại mô thức mới được thêm vào các mô thức trước, nhưng nó còn là một mô thức toàn bộ nhằm du nhập những ưu điểm của các mô thức kia. Cha Dulles cho biết, trong một ý nghĩa nó là một dạng thức của mô thức hiệp thông huyền nhiệm, nhưng không bằng lòng với sự trợ giúp hỗ tương giữa các thành viên với nhau. Đúng hơn, mô thức này nhắm đến tinh thần môn đệ. Mô thức này muốn làm sáng tỏ mục đích của cơ cấu tổ chức và khía cạnh bí tích của giáo hội, và động lực truyền giáo được đặt nền tảng trên việc phúc âm hóa và biến đổi xã hội.

Cha Dulles gọi mô thức cộng đồng môn đệ là "cộng đồng tương phản" mà trong đó nó xã hội hóa người dân vào việc chọn lựa các giá trị cao quý hơn khi phải đối diện với một xã hội phàm tục chỉ cổ võ lạc thú, giầu sang và thế lực. Điểm được nhấn mạnh là các cộng đồng Kitô Hữu này được hình thành không quá lớn rộng để các cá nhân có được sự tương giao thân thiện với nhau nhằm định hướng quan điểm và tâm tình của các phần tử. Việc đào tạo Kitô Hữu phải được thể hiện trong các cộng đồng này để có thể tưởng nhớ đến Đức Giêsu Kitô cùng với mười hai tông đồ. Các công đồng như thế sẽ tràn ngập không những các người Công Giáo bị xa lánh mà còn những ai thực sự muốn phục vụ và tận tụy cho công cuộc phúc âm hóa.

Có những thắc mắc quan trọng về mô thức này. Có phải Kitô Hữu tốt lành là người tập trung cuộc đời họ hướng về giáo hội? Có phải con người thường phải trải qua các giai đoạn của đời sống, mà một số giai đoạn ấy thường đưa đến việc thực sự xa cách giáo hội? Có phải chỉ sau khi Công Đồng Vatican II công nhận được một vài thập niên thì người Công Giáo mới xa lánh các chiều kích tốt đẹp của xã hội trần tục?

Chính Cha Dulles cũng cho rằng không thể tránh được sự căng thẳng giữa giáo hội và thế giới. Dù rằng ngài là người tiên phong đưa ra các chọn lựa khác nhau phát xuất từ Công Đồng Vatican II, bây giờ Cha Dulles duy trì lập trường rằng mặc dù có thể có nhiều kiểu cách chính đáng, nhưng nếu người ta thực sự hiểu biết về bản chất và sứ vụ của giáo hội thì không phải bất cứ mô thức nào cũng chấp nhận được. Do đó, mô thức cộng đồng môn đệ không chỉ là một chọn lựa khác, nhưng đó là một cố gắng thử tổng hợp các yếu tố tốt đẹp nhất của các mô thức trước đây.

Tóm Lược

Trong chương này chúng ta vừa mới thận trọng nhìn đến hình ảnh giáo hội theo như sách Giáo Lý Baltimore trước Công Đồng Vatican II và sau đó nghiên cứu một vài mô thức của giáo hội, được dùng như các khởi điểm trong việc hình thành một quan điểm hiện đại hơn. Một cách tổng quát, Giáo Hội Công Giáo ngày càng ít tự vệ hơn và cởi mở hơn trong những năm qua. Sự thách đố ngày nay là tìm ra các phương cách để quý trọng và duy trì căn tính đặc biệt của chúng ta trong một thế giới mà đa nguyên tính được coi là đương nhiên và như thế, dường như nó có khuynh hướng coi mọi thứ y như nhau.

Trong chương kế tới, chúng ta sẽ thảo luận về các phương cách mà trong đó giáo hội liên kết nhưng thật khác biệt với Thiên Chúa.

Câu Hỏi Suy Tư

  1. Có bao giờ bạn gặp một người rất bảo vệ tôn giáo của họ chưa?
  2. Khi còn nhỏ, bạn được học sách giáo lý nào? Các mô thức nào của giáo hội được thấy trong sách đó?
  3. Trong các mô thức của giáo hội được bàn đến trong chương này, bạn thích mô thức nào nhất? Bạn không thích mô thức nào nhất?
  4. Nếu có thể, bạn tự vẽ ra cho mình một mô thức nào về giáo hội?
  5. Giáo hội có cần đưa ra các tiêu chuẩn của một thành viên, hay giáo hội phải bao gồm mọi người với đủ mọi mức độ đóng góp và ngay cả những người không đóng góp?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com