Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 6: Đặc Tính Biểu Tượng của Giáo Hội

M

ột sinh viên của tôi gặp khó khăn khi phải chọn đề tài cho bài thi cuối khóa. Khi thảo luận với anh, tôi mới biết anh lớn lên trong một gia đình Công Giáo và cho đến gần đây anh mới thực sự để ý đến đức tin. Anh cho biết khi học môn tín ngưỡng trong lục cá nguyệt trước đây, thầy giáo đã vạch cho thấy hầu hết những điều vĩ đại mà anh tin là chân lý thì chỉ là huyền thoại. Quả thật, anh rất bực mình khi thấy mình bị lừa dối trong suốt thời gian đi học.

Ngoài việc nói với anh rằng, rất có thể những gì anh nghe thì không phải là tất cả những gì ông thầy muốn nói, tôi đề nghị anh tìm hiểu xem ý nghĩa và sự thật của huyền thoại. Anh rất sẵn sàng và chúng tôi liệt kê ra các đề mục.

Kết quả thật không ngờ. Người sinh viên không những chăm chỉ viết bài tóm lược về các đề mục anh đã đọc mà còn dùng kiến thức ấy làm nền tảng cho quan điểm của anh. Anh thấy huyền thoại có giá trị ở điểm đã giúp anh đúc kết thành một quan điểm có ý nghĩa về vũ trụ và giúp anh có một nhận thức mới về tôn giáo. Bây giờ, cộng đồng tôn giáo của anh như có một sự thu hút mới vì qua sự nhận thức mới về huyền thoại, anh cảm thấy như được giải thoát. Anh nhận ra rằng Kitô Giáo có nguồn gốc lịch sử và các nguồn gốc này thật quan trọng. Anh kết luận rằng, anh vẫn phải cố gắng nhiều trong việc phân biệt đâu là lịch sử và đâu là huyền thoại.

Trong Chương Này

Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu các chiều kích biểu tượng và huyền thoại của tôn giáo, ngôn ngữ tôn giáo, các bí tích, và giáo hội. Chương này dùng các nguồn tài liệu từ đoạn 6 và 7 của chương 1 Lumen Gentium, mà chương ấy đã đưa ra một vài hình ảnh cũng như biểu tượng rút từ Kinh Thánh để diễn tả mầu nhiệm giáo hội.

Tôn Giáo Như Một Hệ Thống Các Biểu Tượng

Các nhà nhân chủng học đã đem cho chúng ta một quan điểm mà nhờ đó chúng ta hiểu rõ giá trị biểu tượng của các tôn giáo. Hiện giờ, nổi tiếng trong vòng các học giả là định nghĩa của Clifford Geertz về "tôn giáo" như "một hệ thống các biểu tượng nhằm củng cố các tâm tình và động lực trong con người có tính cách mạnh mẽ, thấm nhập và lâu dài, do bởi công thức hóa các ý niệm của một trật tự chung về sự hiện hữu và khoác cho những ý niệm này một hào quang dữ kiện sao cho các tâm tình và động lực ấy dường như hiện thực một cách lạ thường." Định nghĩa có giá trị này phản ánh quan điểm không phải của một thần học gia có đức tin, nhưng đúng hơn của một nhà khoa học xã hội đang tìm kiếm một loại khách quan nào đó có thể quan sát được tự bên ngoài. Hầu hết các tín hữu đều nghĩ rằng đức tin của họ là chân chính, chứ không đồng ý với nhận xét rằng tác dụng của các biểu tượng thì quá mạnh mẽ như thể khoác cho chúng một hào quang dữ kiện.

Nhưng quan điểm khoa học xã hội này không những có giá trị cho các khoa học gia khác mà còn cho các tín hữu nữa. Trên một bình diện phân tích, tôn giáo là một hệ thống các biểu tượng, và cần được hiểu đúng như vậy. Người tín hữu nào từ chối nội dung biểu tượng của tôn giáo họ thì có nguy cơ trở nên một chiều, hiểu theo nghĩa đen, hoặc từ chối các tôn giáo khác. Hơn thế nữa, các biểu tượng tôn giáo có tác dụng mạnh mẽ và lâu dài trên các tín hữu. Mặc dù các người đạo đức thường thận trọng cho rằng tôn giáo của họ có chân lý, họ cũng muốn quý trọng bản chất biểu tượng của tôn giáo mà nhờ đó họ thấu hiểu các ý nghĩa sâu xa hơn và biến đổi cuộc đời họ trở nên tốt đẹp hơn.

Các Biểu Tượng

Biểu tượng là điều gì đó có thể giúp người ta chạm được với thực tại mà nếu không sẽ ngoài tầm tay. Tiền là một thí dụ về biểu tượng. Nó không chỉ là một đồng cắc hay một mẩu giấy. Tiền có tính cách biểu tượng vì về mặt chức năng nó tượng trưng cho sức mạnh kinh tế có thể đo lường và cất giữ. Chúng ta biết rõ sự khác biệt giữa sức mạnh kinh tế và mẩu giấy, tuy nhiên, ít người trong chúng ta dám xé tờ giấy bạc một trăm đồng chỉ vì nó là mảnh giấy. Tiền thay thế cho thực tại mà nó tượng trưng. Nó có thể không có giá trị gì cả trong một xã hội sơ khai cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài rộng lớn hơn, nhưng với những người trong thế giới rộng lớn ấy thì ai ai cũng hiểu thực tại của tiền tệ.

Cũng như các tôn giáo khác, Kitô Giáo đầy những biểu tượng. Thập giá, Đức Maria, nước rửa tội, chim bồ câu, tất cả là biểu tượng của nhiều khía cạnh khác nhau của đức tin Kitô Giáo. Những biểu tượng ấy không chỉ trực tiếp ám chỉ đến, nhưng còn mang nhiều ý nghĩa. Thập giá, trước hết và trên hết, tượng trưng cho thập giá mà Đức Kitô đã chết ở trên đó. Tuy nhiên, nó cũng còn tượng trưng cho sự đau khổ của mọi người, sự đau khổ cá biệt của chúng ta, những gì khó chấp nhận trong đời sống, sự trông đợi cái chết của chính chúng ta, và lời mời gọi tranh đấu cho công bằng và bác ái mà không cần biết con đường ấy sẽ dẫn đến đâu. Ý nghĩa đặc biệt của thập giá đối với mỗi người thì tùy theo những gian khổ mà họ cảm nghiệm được trong đời sống.

Bồ câu cũng là một biểu tượng giống như thế. Trên một bình diện, nó tượng trưng cho Chúa Thánh Thần ngự trên Đức Giêsu khi Người chịu thanh tẩy. Ở các bình diện khác, bồ câu tượng trưng cho sự bình an hoặc sự thanh thản nội tâm của một người tràn đầy Thần Khí, sự trong trắng của người mới được rửa tội, và sự tự do của tâm linh khi hướng đến thiên đàng. Hầu hết các Kitô Hữu không phân tích tường tận hoặc ngay cả suy nghĩ một cách có ý thức đến các ý nghĩa khác nhau của các biểu tượng mà họ gặp gỡ hàng ngày, tuy nhiên khi sống trong một truyền thống mà các biểu tượng ấy mang một ý nghĩa nào đó, các Kitô Hữu trở nên quen thuộc với sự phong phú của các biểu tượng này.

Bản Chất Biểu Tượng của Các Bí Tích

Biểu tượng là bản chất của bảy bí tích Công Giáo. Người Công Giáo có truyền thống tin rằng các bí tích là những dấu chỉ có hiệu lực. Khi nói các bí tích "có hiệu lực" nó có nghĩa sẽ xảy ra một điều gì đó. Khi nói bí tích là "dấu chỉ" nó có nghĩa tượng trưng cho một điều gì đó vượt lên trên bí tích và đã có. Bí tích rửa tội có hiệu lực biến đổi ai đó trở nên phần tử trọn vẹn của cộng đồng Kitô Hữu. Tuy nhiên, bí tích rửa tội là dấu chỉ của một điều gì đó đã có; bởi thế thật vô nghĩa khi rửa tội một người mà họ không muốn gia nhập vào cộng đồng.

Khuôn khổ này cũng đúng với bí tích hòa giải. Bí tích này có hiệu lực tha tội cho một người nào đó. Tuy nhiên, bí tích hòa giải còn là một dấu chỉ mà trong đó sự tha thứ được ban cho một người mà chính họ đã cảm nghiệm sự tha thứ ấy từ  Thiên Chúa và cộng đồng.

Người Công Giáo cố gắng quân bình giữa bản tính "hiệu lực" và bản tính "dấu chỉ" của các bí tích. Quá nhấn mạnh đến bản tính "hiệu lực" sẽ đưa đến nguy cơ hiểu bí tích như những phù phép làm biến đổi ngay lập tức mà không liên hệ gì đến thực tại đời sống (thí dụ, "Dĩ nhiên chúng tôi có một hôn nhân tốt đẹp--vì hôn lễ được cử hành cách đúng đắn và hợp pháp."). Quá nhấn mạnh đến bản tính "dấu chỉ" của bí tích sẽ đưa đến nguy cơ xem bí tích là vô dụng vì dù sao đi nữa nó chỉ tượng trưng cho những gì đang xảy ra (thí dụ, "Tại sao chúng tôi phải kết hôn để làm gì? Nếu chúng tôi thực sự yêu nhau thì mảnh giấy ấy có làm nên điều gì khác biệt đâu?"). Truyền thống Công Giáo cố gắng nhấn mạnh đến cả hai chiều kích này cùng một lúc. Kết hôn là một trời khác biệt. Phẩm chất của hôn nhân phải được hiểu bao gồm rất nhiều điều chứ không chỉ có hôn lễ hoặc mảnh giấy chứng nhận.

Bản Chất Biểu Tượng của Ngôn Ngữ Tôn Giáo

Các truyền thống tôn giáo không chỉ đầy dẫy những dấu chỉ, nhưng bản chất của ngôn ngữ tôn giáo còn có tính cách biểu tượng. Trong một phương cách, mọi ngôn ngữ là biểu tượng, vì ngôn từ tự nó là dấu chỉ tượng trưng cho một điều gì đó vượt trên cả ngôn từ. Chữ "cái bàn" thì không phải là cái bàn, nhưng tượng trưng cho cái bàn. Tuy nhiên, khi nói "ngôn ngữ tôn giáo" chúng ta còn muốn nói nhiều điều hơn nữa. Chúng ta muốn nói đến ngôn ngữ vượt ra ngoài sự tương quan theo nghĩa đen giữa ngôn từ và điều mà nó ám chỉ.

Ngôn ngữ tôn giáo là biểu tượng. Ngôn ngữ tôn giáo tìm cách diễn đạt các chiều kích của một thực thể mà không thể diễn tả bằng chữ nghĩa bình thường, rõ rệt. Chiều kích đặc biệt của thực thể mà ngôn ngữ tôn giáo cố diễn đạt có thể được gọi là "tối hậu." Ngôn ngữ tôn giáo đối phó với ý nghĩa của đời sống, những biến cố quan trọng, những giá trị cao quý, Thượng Đế, các tương giao con người, đường hướng cuộc đời, sự gia tăng và phát triển con người, các mức độ sâu xa nhất về sự giác ngộ và tự chấp nhận.

Tôi được biết một bà làm thừa tác viên mục vụ mà công việc này khiến bà gặp gỡ nhiều người trong những hoàn cảnh khủng hoảng, đôi khi liên hệ đến sự sống và cái chết. Bà chia sẻ với tôi câu chuyện đứa con gái bốn tuổi của bà bị lâm bệnh nặng và từ trần cách đây mười lăm năm. Trong nhiều năm trời, bà cứ thắc mắc: "Tại sao Thiên Chúa lại để điều này xảy ra? Mọi việc xảy ra đều có lý do. Ý định của Thiên Chúa là gì khi để xảy ra điều ấy?" Giờ đây, sau mười lăm năm bà cho biết, cảm nghiệm đau khổ ấy đã giúp bà cảm thông với sự đau khổ của những người mà bà giúp đỡ. Nếu không có thảm cảnh về cái chết của con bà, có lẽ bà sẽ không thấu hiểu được ý nghĩa sâu xa của các biến cố trong đời sống mà hàng ngày bà phải vượt qua.

Khi kể lại câu chuyện này, bà dùng đến ngôn ngữ tôn giáo, biểu tượng. Tôi không nghĩ rằng bà muốn nói theo nghĩa đen là Thiên Chúa muốn con bà phải chết để giúp bà trở nên một thừa tác viên tốt đẹp hơn; đối với bà "ý định của Thiên Chúa" có nghĩa biểu tượng. Bà biết rõ là đường lối của Thiên Chúa thì vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người. Nhưng bà có thể kể lại câu chuyện này với ý nghĩa tột bực của nó và lý do nó xảy ra. Qua việc dùng ngôn ngữ không thể hiểu theo nghĩa thông thường, bà đã có thể đối phó với các biến cố trong đời sống bằng cách liên kết các biến cố này với ý nghĩa và mục đích tối hậu.

Giáo Hội Như Biểu Tượng Trong Khung Cảnh Lịch Sử Kitô Giáo

Trong sách Giáo Lý Baltimore, trong một định nghĩa đã có từ thế kỷ mười sáu, giáo hội được coi là "giáo đoàn của những người đã rửa tội, kết hợp trong cùng một đức tin chân chính, cùng một hy lễ, cùng các bí tích, dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng Tối Cao và các giám mục cùng hiệp nhất với ngài." Định nghĩa đặc biệt này thay vì làm sáng tỏ bản chất của giáo hội thì lại nhấn mạnh đến điểm người Tin Lành và những người ngoài Công Giáo thì không phải là phần tử của giáo hội. Trạng thái tự vệ của định nghĩa này có thể hiểu được, vì nó phát xuất từ thời điểm khi sự sống còn của tổ chức được coi là bị đe dọa nặng nề. Tuy nhiên, định nghĩa này không cho tôi biết nhiều về giáo hội. Nếu tôi không phải là người Công Giáo, định nghĩa ấy không làm tôi hứng thú gì trong việc gia nhập.

Thay vì đem lại một định nghĩa rõ ràng về giáo hội, chương đầu tiên của Lumen Gentium nói về giáo hội một cách biểu tượng trong khung cảnh lịch sử Kitô Giáo. Phần đầu của chương này đề cập đến câu chuyện mà giáo hội là một phần trong hoạch định cứu chuộc của Thiên Chúa Cha, được Thiên Chúa Con khai mở như thế nào, và được Chúa Thánh Thần duy trì như thế nào. Khi văn kiện tập trung vào giáo hội, nó dựa vào các hình ảnh rút ra từ Kinh Thánh. Như Lumen Gentium nói với chúng ta:

Trong thời Cựu Ước sự mặc khải về nước trời thường được truyền đạt qua các ý nghĩa ẩn dụ. Cùng phương cách ấy, bản chất nội tại của giáo hội được tỏ cho chúng ta biết qua nhiều hình ảnh khác nhau được trích từ việc chăn dắt đàn chiên hoặc cầy cấy, từ công trình kiến trúc hoặc ngay cả đời sống gia đình và việc cưới hỏi. (LG, 6).

Một số Kitô Hữu có thể coi các hình ảnh này quá thụ động khi diễn tả vai trò của các phần tử. Giáo hội là chuồng chiên của Thiên Chúa, đất trồng trọt của Thiên Chúa, cơ sở của Thiên Chúa, lưới cá của Thiên Chúa, nàng dâu của Đức Kitô. Do đó, chúng ta là chiên, đất, đá, cá, nàng dâu. Tuy nhiên, phải luôn nhớ rằng khi nói về mầu nhiệm giáo hội thì cũng thích hợp để nhấn mạnh rằng, nói cho cùng, đó là một công trình của Thiên Chúa. Giáo hội là một món quà vẻ vang mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Các chương kế tiếp trong Lumen Gentium làm nổi bật hơn các hình ảnh năng động, có chiều hướng cộng đồng, tỉ như Dân Chúa, Giáo Hội Lữ Hành, và Các Thánh Thông Công.

Hình ảnh sau cùng được khảo sát trong chương một của Lumen Gentium là về Thân Thể Đức Kitô. Thân Thể Đức Kitô là một hình ảnh tích cực và có chiều hướng cộng đồng. Hình ảnh này được dùng trong Tân Ước ở một vài chỗ, từ câu nói của Đức Giêsu "Đây là mình thầy," cho đến những đoạn thánh thư nổi tiếng gửi cho giáo đoàn Côrintô, Colossê, và Êphêsô. Thân Thể Đức Kitô đã từng là một trong những hình ảnh quan trọng của giáo hội trong thế kỷ hai mươi. Hình ảnh này được Đức Piô XII dùng trong thông điệp Mystici Corporis 1943, như một phương cách để vượt qua các quan niệm có tính cách luật lệ, quan liêu, và trần tục của giáo hội để đi đến một quan niệm liên kết giáo hội với Đức Kitô và làm sáng tỏ bản chất thiêng liêng của giáo hội và của sứ vụ.

Khi nghĩ về giáo hội như Thân Thể Đức Kitô, tôi coi chính mình như một phần tử của Thân Thể ấy, có liên hệ với các phần tử khác. Mỗi phần tử đóng một vai trò quan trọng. Chúng ta cùng ngang bằng trong phẩm giá thiêng liêng. Tất cả chúng ta đều liên hệ với nhau. Niềm vui của người khác là niềm vui của tôi, sự sầu khổ của họ là sự sầu khổ của tôi. Chúng ta cử mừng với nhau, và việc chia sẻ cùng các bí tích có nghĩa chúng ta cùng được dự phần trong một tình yêu Thiên Chúa. Đức Kitô là đầu của chúng ta, điều này có nghĩa chúng ta phải tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa và tìm cách thể hiện nước trời trong một phương cách phù hợp với quyền lợi của chúng ta.

Trái với định nghĩa trong sách Giáo Lý Baltimore về giáo hội, Thân Thể Đức Kitô là một hình ảnh thu hút trí tưởng tượng và tâm linh của tôi. Tuy nhiên, hình ảnh này tiềm ẩn ý nghĩa gì trong việc liên hệ với những người không phải là phần tử của Thân Thể Đức Kitô? Có nhiều giải pháp được các thần học gia đương thời đề ra cho vấn đề tôn giáo đa nguyên. Cá nhân tôi giải thích hình ảnh Thân Thể Đức Kitô trong một phương cách không tương phản nhau, nhưng đúng hơn, hòa hợp với sự tin tưởng của tôi về tình đoàn kết và liên kết của tất cả mọi người ở mọi nơi. Nói cách khác, thay vì đặt mình xa cách người khác, tư cách phần tử của tôi trong Thân Thể Đức Kitô tiêu biểu cho sự tương giao của tôi với người khác.

Giáo Hội Như Một Câu Truyện

Người Công Giáo tin rằng Thiên Chúa đã đến với chúng ta qua con người của Đức Giêsu Kitô. Công Giáo cũng như các Kitô Hữu khác đều tin rằng Đức Kitô đang hiện diện trong giáo hội. Trên một nguyên tắc căn bản, câu truyện của giáo hội là câu truyện về ý nghĩa cuộc đời. Thế giới ý nghĩa mà trong đó chúng ta đang sống thì được khuôn đúc và ngay cả được hình thành bởi các câu truyện. Như một câu truyện tôn giáo, giáo hội đề cập đến chiều kích tối hậu của đời sống và do đó, đem lại một khuôn khổ như chiếc dù bao bọc mà trong đó các câu truyện cuộc đời của chúng ta xảy ra.

Dĩ nhiên, giáo hội không chỉ là một câu truyện. Câu truyện giáo hội ám chỉ về những gì đã xảy ra trong quá khứ và sẽ tiếp tục xảy ra. Giáo hội là một câu truyện của những người đã sống trong thế giới này và ý nghĩa câu truyện cuộc đời họ được dựa vào cách kết cấu của câu truyện Đức Giêsu. Đức Giêsu là một người đã thực sự sống trong thế gian, đã chết trên thập giá, đã chỗi dậy từ kẻ chết, và được các môn đệ coi là Thiên Chúa-nhập thể trên trái đất. Thật khó khăn, nếu không muốn nói là không thể vạch được lằn ranh rõ ràng giữa "sự kiện" và "truyện kể." Câu truyện được dùng để giải thích các chiều kích sâu xa hơn của một ý nghĩa đích thực của những gì đã thực sự xảy ra.

Tóm Lược

Trong chương này chúng ta vừa mới xem qua bản chất dấu hiệu của ngôn ngữ tôn giáo, cũng như chiều kích truyện kể của giáo hội. Sau đó chúng ta tìm hiểu xem văn kiện Lumen Gentium đã dùng các hình ảnh và dấu hiệu kinh thánh như thế nào để có được những định nghĩa chính xác khi đề cập đến giáo hội.

Người sinh viên được đề cập đến ở phần đầu của chương, lúc đầu, anh ta gặp khó khăn khi phải thích nghi với các chiều kích huyền thoại của tôn giáo. Điều bây giờ anh biết rằng "huyền thoại" không có nghĩa là "sai lầm," và một cuộc đời nếu không có các chiều kích đó sẽ thiếu đi một ý nghĩa tối hậu.

Trong chương tới, chúng ta sẽ đề cập đến sự chuyển hướng của Công Đồng Vatican II về thân phận của người Công Giáo, vừa đối với chính họ và vừa đối với các Kitô Hữu khác.

Câu Hỏi Suy Tư

  1. Có bao giờ bạn gặp một người mà bạn cho rằng họ hiểu tôn giáo theo nghĩa đen một cách quá đáng không? Người đó giống như gì?
  2. Có thể nào người ta dẫn giải đức tin một cách quá "biểu tượng" mà không cần chú ý đến nghĩa chữ hay không?
  3. Trong phương cách nào, "dấu hiệu" trở nên một loại giải thoát cho những người có tôn giáo?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com