|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 7: Một Viễn Ảnh Đại Kết
ôi biết một sinh viên trước đây là Công Giáo nhưng bây giờ sống xa cách Giáo Hội. Anh đến với tôi một vài lần, mà theo tôi nghĩ, là để tranh luận. Có lần, anh đưa ra điểm là người Công Giáo tin tưởng rằng những ai không phải là Công Giáo thì không được cứu độ. Hiển nhiên đây là điều anh được dạy bảo từ nhỏ, và vì anh bực tức với Giáo Hội nên anh không thể quên được điều ấy. Tôi cho anh biết trong quá khứ, Giáo Hội Công Giáo có nhiều lập trường khác nhau về vấn đề này. Tôi trưng ra cho anh thấy văn kiện hiện thời của Giáo Hội thì trái ngược với điều anh tin tưởng. Tôi cũng cho biết là ngay từ đầu thập niên 1950, Cha Feeney của giáo phận Boston bị vạ tuyệt thông vì ngài tiếp tục giảng dạy rằng những ai ngoài giáo hội Công Giáo thì không được cứu độ. Tuy nhiên, tất cả những điều này không giúp gì cho anh. Ngay từ nhỏ anh đã bị dạy bảo sai lầm, và thỉnh thoảng không may anh lại gặp những người Công Giáo có cái nhìn thiển cận nên lại càng củng cố lập trường của anh. Thí dụ, mới đây anh cộng tác trong một chương trình phân phát thực phẩm và một người Công Giáo đã từ chối không muốn trao tặng thực phẩm cho một tổ chức Tin Lành. Anh coi đây như một ví dụ cho tính độc quyền của Công Giáo. Anh cho rằng các sách sử Công Giáo và các văn kiện chính thức của giáo hội không để lộ ra sự thiếu khoan dung mà anh đã được dạy bảo khi còn nhỏ. Mặc dù tôi hy vọng rằng người thanh niên này sẽ thay đổi lập trường và nhận ra rằng hầu hết người Công Giáo ngày nay không còn được dạy bảo về tính cách độc quyền ấy nữa, nhưng tôi phải thú nhận với anh rằng những gì anh nói đã nhắc nhở tôi về điều mà tôi đã được dạy bảo trong thập niên 1950.
Trong Chương Này
Trong chương này chúng ta sẽ xem xét về thái độ của người Công Giáo đối với vấn đề cứu độ của những người ngoài-Công-Giáo, đặc biệt chú trọng đến ba điểm của Lumen Gentium: các giáo hội ngày nay liên hệ thế nào đến Giáo Hội mà Đức Kitô đã thành lập; ai được coi là phần tử của Giáo Hội ấy; và mọi Kitô Hữu được mời gọi như thế nào để chia sẻ sứ vụ của Đức Kitô như một tư tế, một ngôn sứ, và một ông vua. Điểm thứ nhất trích từ đoạn 8 của chương 1 Lumen Gentium; hai điểm kế được trích từ chương 2.
Sự Căng Thẳng Trong Truyền Thống
Trong sách Giáo Lý Baltimore có câu hỏi, "Mọi người có buộc phải thuộc về giáo hội Công Giáo để được cứu độ hay không?" Câu trả lời có tính cách đe dọa là: "Mọi người buộc phải thuộc về giáo hội Công Giáo để được cứu độ." Câu này được tiếp theo bằng một câu hỏi và câu trả lời khác giải thích rằng "những ai vì sự lầm lạc của chính mình mà không biết Giáo Hội Công Giáo là giáo hội thật, hoặc, có nhận biết nhưng từ chối gia nhập, thì không được cứu độ." Tuy nhiên, một câu hỏi và câu trả lời kế tiếp đảm bảo chúng ta rằng những người không biết giáo hội Công Giáo là giáo hội thật cũng có thể được cứu chuộc qua ơn sủng mà Thiên Chúa ban cho họ. Trong văn từ hoa mỹ hơn, tình trạng không biết này được gọi là "vô tri bất khả triệt". Trong thực tế, điều đó giả sử rằng những ai theo Tin Lành từ khi lọt lòng thì ít bị nguy hiểm, nhưng những ai tự ý từ bỏ giáo hội Công Giáo thì câu trả lời này được coi là dành cho họ.
Câu châm ngôn truyền thống của Kitô Giáo, "không có ơn cứu độ ở bên ngoài giáo hội," trước nhất được xuất phát từ Thánh Cyprian, ngài là Đức Giám Mục của Carthage trong thế kỷ thứ ba, vào thời kỳ giáo hội bị bách hại dữ dội. Câu này ngài muốn nói với những người đã là Kitô Hữu để khuyến khích họ chọn sự tử đạo thay vì công khai chối bỏ đức tin. Chính Đức Cyprian cũng được phúc tử đạo vì từ chối không thờ cúng tà thần.
Dù lời lẽ của Thánh Cyprian có nghiêm khắc thế nào đi nữa, nó cũng khác xa với luận điệu cho rằng người ta sẽ phải xuống hỏa ngục nếu không phải là một phần tử tốt lành của giáo hội Công Giáo. Vào năm 1215, trong Công Đồng Latêranô IV, Đức Giáo Hoàng Innôxentê III tuyên bố: "Chỉ có một giáo hội hoàn vũ, ngoài giáo hội ấy không ai có thể được cứu độ." Trong Tự Sắc 1441, Đức Giáo Hoàng Eugene IV lại khẳng định một cách mạnh mẽ rằng giáo hội "tin tưởng, tuyên bố vững vàng và dạy bảo rằng không có người nào ngoài giáo hội Công Giáo, không chỉ có người ngoại giáo, nhưng cả người Do Thái Giáo, lạc giáo, và ly giáo có thể được dự phần vào sự sống đời đời, nhưng phải vào lửa hoả ngục đời đời 'được dành cho ma quỷ và các thiên thần của nó' (Mt. 25:41), trừ khi vào lúc cuối đời họ gia nhập giáo hội ấy." Thật hiển nhiên là một số giáo hoàng thời trung cổ đã hiểu câu "không có ơn cứu độ ngoài giáo hội" theo nghĩa đen. Trong truyền thống Công Giáo, người ta có thể thấy sự căng thẳng giữa lập trường cởi mở đối với những người thuộc các tôn giáo khác và lập trường hiển nhiên lên án những ai không dứt khoát là Công Giáo. Trong Giáo Lý Baltimore, lập trường hiển nhiên cho phép người ngoài Công Giáo được ơn cứu độ thật quá nhẹ so với Tự Sắc 1441.
Công Đồng Vatican II đã thực hiện một bước tiến lớn trong chiều hướng cởi mở đại kết. Vì lần đầu tiên, trong văn kiện chính thức viết về các giáo đoàn Tin Lành, giáo hội đã đề cập đến họ như các "giáo hội" thay vì chỉ coi họ là "giáo phái." Chính những người Tin Lành được gọi là "người anh em tách biệt" của chúng ta. Văn kiện viết rằng "trong một số phương cách thiết thực, họ cùng kết giao với chúng ta trong Chúa Thánh Thần, vì Người cũng ban cho họ tài năng và ơn sủng mà qua đó Người hoạt động giữa họ với quyền năng thánh hóa của Người" (LG, 15). Khi nói rằng Chúa Thánh Thần hoạt động với quyền năng thánh hóa thì điều đó không có nghĩa chỉ ban phát ơn cứu độ qua kẻ hở của sự vô tri bất khả triệt. Điều đó có nghĩa Thiên Chúa đang hoạt động ở giữa họ.
Lập trường tổng quát đối với Tin Lành trong Lumen Gentium có thể được khảo sát qua ba điểm đã được nhắc đến trước đây: sự tương giao giữa các giáo hội khác nhau và Giáo Hội được Đức Kitô thành lập, phần tử của Giáo Hội, và sự chia sẻ của Kitô Hữu trong sứ vụ của Đức Kitô (tư tế, ngôn sứ, vương đế). Mỗi một điểm này biểu trưng cho các nền tảng của sự cởi mở mới trong các tương giao giữa Công Giáo và Tin Lành.
Giáo Hội của Đức Kitô Có Trong...
Trong bản dự thảo đầu tiên của văn kiện Lumen Gentium, sau cuộc thảo luận về Giáo Hội mà Đức Kitô đã thành lập, văn kiện viết "giáo hội này của Đức Kitô... là giáo hội Công Giáo." Vì mục đích đại kết, bản sau cùng được thay đổi như sau:
"giáo hội này của Đức Kitô... có trong giáo hội Công Giáo... dù rằng có nhiều yếu tố thánh hóa và chân lý, được tìm thấy bên ngoài cơ cấu hữu hình của nó. Các yếu tố này, như ơn sủng thuộc về giáo hội của Đức Kitô, là các động lực lôi cuốn về sự hiệp nhất công giáo." (LG, 8).
Nói cách khác, mặc dù Giáo Hội của Đức Kitô về căn bản được tìm thấy trong giáo hội Công Giáo, các yếu tố của Giáo Hội này cũng được tìm thấy trong các giáo hội Kitô Giáo khác (không phải là Công Giáo). Các yếu tố xác thật này là các dấu hiệu tích cực cho tiến trình đại kết.
Hiển nhiên, Lumen Gentium vẫn trao sự ưu tiên cho giáo hội Công Giáo bởi vì người ta có thể tìm thấy trong Giáo Hội của Đức Kitô sự đầy đủ và trọn vẹn của nó. Qua sự ngụ ý, các giáo hội Tin Lành tất yếu chưa đầy đủ cho tới mức độ nào thì tùy theo sự bất đồng của họ đối với truyền thống Công Giáo về một số vấn đề then chốt. Nhiều người Công Giáo có góp phần trong phong trào đại kết nhận thấy đây là một lập trường không được đầy đủ. Họ muốn thấy một lập trường cởi mở hơn với sự thú nhận lỗi lầm và ngay cả thú nhận sự bất toàn của cả hai bên. Ba điểm sau đây có thể giúp độc giả đọc văn kiện một cách thiện cảm hơn.
Thứ nhất, người ta phải cảm kích sự thay đổi cùng cực và tiến bộ trong lập trường của Lumen Gentium vào năm 1964. Với những người Công Giáo mà khi còn trẻ được dạy phải nghi ngờ về vấn đề cứu độ của người Tin Lành thì sự công nhận rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong các giáo hội Tin Lành tượng trưng cho một sự thay đổi quan điểm có tính cách mạng.
Thứ hai, Công Giáo cho rằng--mặc dù giáo hội có lúc sai lầm, nhưng vẫn còn một số chân lý thật quan trọng và một số cơ cấu quá thiết yếu để có thể đại diện cho thánh ý của Thiên Chúa--nên không thể coi thường. Theo quan điểm của Công Giáo, giáo hội có khía cạnh con người nhưng đó không chỉ là một tổ chức con người. Nó có trong ý định của Thiên Chúa Cha, được Đức Kitô sáng lập, và được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Nó được mong đợi rằng, về những vấn đề khác biệt quan trọng, giáo hội Công Giáo tin rằng mình đúng. Cùng một kiểu cách như vậy, những người có lập trường khác biệt cũng tự cho rằng họ đúng.
Thứ ba, lập trường của Lumen Gentium được phát biểu dựa vào quá trình của truyền thống Công Giáo mà truyền thống ấy bao hàm một phân biệt giữa các thực chất trừu tượng và sự thực hành cụ thể. Đó là, trong khi Lumen Gentium cho rằng giáo hội Công Giáo được hưởng một vài ưu tiên trong một số tín điều và cơ cấu căn bản, nó không phủ nhận rằng, trên thực tế, các giáo đoàn Tin Lành có thể thi hành các công việc ấy cách tốt đẹp hơn. Nói cách khác, lập trường của Lumen Gentium cho rằng, giáo hội Công Giáo đơn giản là một giáo hội có đầy đủ các phương tiện. Điều đó ngụ ý rằng một số giáo đoàn Công Giáo có lẽ không thi hành tốt đẹp với phương tiện của mình hoặc ngay cả cất giữ các phương tiện ấy ở trong kho; một số giáo đoàn Tin Lành có lẽ đã thi hành công việc tốt đẹp hơn với phương tiện họ đang có.
Dù lập trường của Lumen Gentium có thể hiểu và có thể bảo vệ như thế nào chăng nữa, giáo hội Công Giáo hiện đang tiếp tục phát triển cái nhìn đối với các giáo hội khác. Trong thời kỳ tiền Công Đồng Vatican II, sự tiến bộ đại kết trong quan điểm Công Giáo dường như có nghĩa là phe bên kia đang có dấu hiệu mục nát hoặc đầu hàng và sẽ quay trở lại với giáo hội Công Giáo để đảm bảo ơn cứu độ. Thay vào đó, nhiều người Công Giáo ngày nay hy vọng rằng các giáo hội sẽ tiếp tục thoả thuận về các tín điều và bí tích căn bản và sẽ công nhận lẫn nhau cũng như chấp nhận giá trị của các thừa tác vụ của cả hai bên. Về phần các thần học gia và các nhà lãnh đạo giáo hội, họ sẵn sàng xem xét lại vấn đề Cải Cách và thành thực thú nhận lỗi lầm cũng như sự hiểu lầm của cả hai bên. Tiến bộ đại kết không chỉ được đo lường bởi sự sát nhập tổ chức; đúng hơn nó được nhìn theo một phương cách mà các giáo hội có thể duy trì căn tính và truyền thống của mình một cách toàn vẹn ở một mức độ nào đó.
Ai Có Liên Hệ Đến Dân Chúa?
Một phương cách để nhấn mạnh câu văn là cách thức hành văn, hoặc xếp câu đó lên đầu hoặc đưa vào cuối đoạn văn. Nếu bạn muốn nói một điều gì đó nhưng đồng thời không muốn nhấn mạnh đến điều ấy thì hãy xếp câu văn ở khoảng giữa.
Khoảng giữa của chương hai Lumen Gentium, độc giả được bảo rằng:
Dựa trên Kinh Thánh và Truyền Thống, [công đồng] dạy rằng giáo hội, hiện đang tạm trú trên mặt đất như cuộc lưu đầy, thì cần thiết cho ơn cứu độ. Hiện diện trong Thân Thể của Người có Đức Kitô, là Đấng Trung Gian và là con đường độc đáo của ơn cứu độ. Trong ngôn từ rõ ràng chính Người xác nhận sự cần thiết của đức tin và phép rửa, và bởi đó cũng xác nhận sự cần thiết của giáo hội, vì qua bí tích rửa tội như qua một cánh cửa mà người ta bước vào giáo hội. Do đó, bất cứ ai biết rằng giáo hội Công Giáo được Đức Kitô thiết lập mà từ chối không bước vào hoặc không muốn ở lại, sẽ không được cứu độ. (LG, 14).
Và như thế Lumen Gentium vẫn xác nhận giáo huấn truyền thống về vấn đề không có ơn cứu độ ở ngoài giáo hội cùng với việc cho phép vô tri bất khả triệt. Tuy nhiên, việc sắp xếp câu văn đã tiêu hủy tác dụng truyền thống của lập trường này và đòi hỏi rằng nó phải được đọc trong phương cách cởi mở nhất nếu có thể. Điều này được thể hiện trong hai phương cách.
Thứ nhất, trong chương đề cập đến người Công Giáo, người Tin Lành, người thuộc các tôn giáo khác, và ngay cả người đời, lời tuyên bố này được xếp trong đoạn trực tiếp đề cập đến tín hữu Công Giáo. Khi nói với chính người Công Giáo, công đồng dùng lời khuyên bảo của Thánh Cyprian trong thế kỷ thứ ba hơn là nhắc đến sự kết án vội vàng của Đức Giáo Hoàng Eugene IV trong Tự Sắc 1441. Nói cách khác, công đồng nhấn mạnh đến ý tưởng là những người đã chấp nhận giáo hội Công Giáo thì đừng quay lưng lại giáo hội, chứ không nhấn mạnh đến ý tưởng là những ai không phải là phần tử của giáo hội thì không được ơn cứu độ trừ trường hợp vô tri bất khả triệt.
Thứ hai, lời tuyên bố về vấn đề ơn cứu độ ở ngoài giáo hội được xếp ở giữa chương, ngoài ra chương này đề cập đến kiến thức nền tảng của vấn đề đại kết. Ngay câu đầu tiên của chương hai viết: "Ở bất cứ thời nào và trong bất cứ dân tộc nào, Thiên Chúa đón nhận bất cứ ai kính sợ Người và làm điều ngay lẽ phải" (LG, 9). Khi đưa lời khẳng định này lên đầu và dùng nó để dẫn vào kết cấu của chương hai thì chúng ta phải hiểu sự cần thiết của giáo hội cho ơn cứu độ trong quan điểm của nó chứ không thể hiểu ngược lại. Nói cách khác, khi giải thích sự cần thiết của giáo hội để được cứu độ chúng ta phải nhớ rằng, trước hết, ở bất cứ thời đại nào và trong bất cứ dân tộc nào, Thiên Chúa đều đón nhận bất cứ ai kính sợ Người và làm điều ngay lẽ phải. Sự cần thiết của giáo hội cho ơn cứu độ được xuất hiện trong chương này là vì các vị bảo thủ đã chính đáng nhấn mạnh rằng đây là một phần của truyền thống Công Giáo. Tuy nhiên, vị trí của lời tuyên bố này trong văn kiện nói lên tình trạng phẩm chất của giáo hội chứ không phải là một lập trường căn bản. Quả thật có ơn cứu độ ngoài giáo hội, mặc dù nhiều thần học gia theo lối cổ đã thay vào đó bằng cách định nghĩa "giáo hội" theo một phương cách tổng quát đến độ bao gồm tất cả mọi người thiện tâm và hành động theo lẽ phải.
Điều này không có nghĩa văn kiện đã giảm thiểu vai trò của giáo hội trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Chúng ta được dạy bảo rằng Thiên Chúa không chỉ cứu chuộc từng người một, nhưng Ngài còn quy tụ họ thành một dân tộc. Dân của Chúa có nguồn gốc lịch sử và tiếp nối trong dân tộc Do Thái như thành phần được Chúa chọn. Qua Đức Kitô, một dân mới của Thiên Chúa được hình thành để kêu gọi mọi dân tộc quy tụ trong sự hiệp nhất công giáo tính. Người Công Giáo là các phần tử trọn vẹn, những người dự tòng được tháp nhập qua ý định của họ, người Tin Lành được liên kết qua Chúa Thánh Thần, và những người thuộc các tôn giáo khác thì liên kết một cách nào đó. Văn kiện dứt khoát khẳng định rằng mọi dân tộc đều có thể được cứu độ, dù rằng giáo hội vẫn giữ vai trò rao giảng phúc âm cho mọi dân tộc.
Tư Tế, Ngôn Sứ, Vua
Một phương cách khác mà văn kiện Lumen Gentium cho thấy viễn ảnh đại kết tích cực là xác định một vài quan niệm then chốt có liên quan đến người nổi tiếng nhất của phong trào Cải Cách Tin Lành, là Martin Luther. Các học giả của một ủy ban hỗn hợp Luther và Công Giáo đã cho công bố một văn kiện, "Martin Luther's Legacy" (Di Sản của Martin Luther), mà trong đó có thảo luận về ảnh hưởng của Luther đối với Công Đồng Vatican II. Một số nhà phê bình còn nói đùa rằng Công Đồng Vatican II tượng trưng cho những người Công Giáo đã theo kịp người Tin Lành sau bốn trăm năm. Một phân tích đứng đắn cho thấy giáo hội Công Giáo đang cố gắng duy trì căn tính của mình trong khi thử công thức hóa một vài lập trường trung dung có thể chấp nhận được về một số vấn đề quan trọng. Trong chương hai của Lumen Gentium, hai ý tưởng nguyên thủy của Luther được thấy nổi bật: một cách căn bản giáo hội được coi là một cộng đồng người dân, và mọi Kitô Hữu được dự phần trong sứ vụ của Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất. Học giả John Dillenberger diễn tả lập trường của Luther như sau:
Là một cộng đồng các tín hữu, người tín hữu Kitô chịu đựng lẫn nhau cũng như chịu đựng gánh nặng của thế gian, như Đức Kitô đã làm trước đây... [Do đó] thừa tác vụ không còn được hiểu như một vị thế trung gian cần thiết... Đúng hơn, trong cộng đồng các giáo hội, mọi người là tư tế của nhau, họ là duyên cớ và là sứ giả của ơn sủng và sự hỗ trợ. Điều này được bày tỏ trong ý niệm về tính cách tư tế của mọi tín hữu.
Hiển nhiên là văn kiện Lumen Gentium khác với Luther trong việc tái xác định về tính cách cực kỳ quan trọng của các yếu tố cơ cấu của giáo hội và về sự khác biệt căn bản giữa các thừa tác vụ chức thánh và tính cách tư tế chung của người tín hữu. Tuy nhiên, rõ ràng là văn kiện đã đi theo đường hướng của Luther, về vấn đề giáo hội là một cộng đồng và lời kêu gọi phổ quát để chia sẻ sứ vụ của Đức Kitô.
Sự hiện diện và cách sắp đặt của chương 2 Lumen Gentium, về Dân Chúa, cho thấy công đồng nhấn mạnh đến giáo hội như một cộng đồng. Bản dự thảo đầu tiên của văn kiện không có chương này. Trong bản dự thảo thứ hai, ý niệm dân Chúa được nối kết với giáo dân và được thêm vào khoảng gần cuối của văn kiện. Trong dự thảo sau cùng, chương này được xếp trước cả chương nói về bản chất phẩm trật của giáo hội và trở thành chương thứ hai, chỉ sau chương mầu nhiệm giáo hội và sự liên hệ giữa giáo hội với Thiên Chúa. Sự di chuyển này cho thấy một thay đổi, thay vì nhấn mạnh đến cơ cấu hình kim tự tháp của giáo hội với đức giáo hoàng trên đỉnh, kế đó là các giám mục, kế đó là các linh mục, kế đó là các tu sĩ nam nữ và sau cùng mới là thành phần giáo dân ở dưới đáy, thì công đồng đã đưa ra hình ảnh một vòng tròn, một cơ cấu toàn bộ của giáo hội được hình thành bởi mọi người dân của Chúa và được phục vụ bởi hàng giáo phẩm.
 |
 |
Chương hai của Lumen Gentium nhấn mạnh rằng mọi phần tử của Dân Chúa đều được chia sẻ ba sứ vụ của Đức Kitô là Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Đế. Ý niệm này trở nên yếu tố kết cấu chính yếu trong toàn thể văn kiện. Thí dụ, chương ba của Lumen Gentium đề cập đến phương cách mà hàng giáo phẩm chia sẻ ba sứ vụ này, chương bốn thảo luận về phương cách chia sẻ của người giáo dân, chương sáu nói về cách chia sẻ của những người có lời khấn. Khái niệm này bắt nguồn từ Tân Ước, và thật quan trọng đối với Luther đến nỗi, giờ đây Đức Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất là người thay thế chức tư tế trong Cựu Ước bằng cách hình thành một dân tộc tư tế. Dân tư tế này có thể cầu nguyện và dâng lễ vật lên Chúa Cha mà không cần người trung gian nào khác ngoài Đức Kitô. Quan niệm này cũng bắt nguồn từ các văn bản của một vài Giáo Phụ khi các ngài phát biểu rằng Đức Kitô là sự ứng nghiệm của các lời tiên tri về đấng thiên sai, trong đó Người chiếm lấy các chức năng của sách Tư Tế, sách Ngôn Sứ, và sách Các Vua (một phương cách cổ điển để phân loại các sách trong Cựu Ước).
Mỗi một Kitô Hữu được mời gọi, tùy theo tình trạng đời sống của mỗi người, để trở nên sự hiện diện của Đức Kitô (tư tế), để làm chứng cho Đức Kitô trong đời sống của mình (ngôn sứ), và phục vụ cho sự ngự đến của nước Thiên Chúa (vua).
Tóm Lược
Trong chương này chúng ta vừa nghiên cứu xem giáo hội Công Giáo đã thay đổi từ lập trường có sắc thái nghi ngờ về khả năng cứu độ của những người ngoài giáo hội, sang một lập trường cởi mở về đại kết. Chúng ta đã nhấn mạnh đến việc nhận biết hoạt động của Chúa Thánh Thần trong các cộng đồng người Tin Lành, tính cách thành viên rộng rãi của Dân Chúa, và sự chia sẻ của mọi Kitô Hữu trong ba sứ vụ của Đức Kitô như tư tế, ngôn sứ và vua.
Trong chương kế tới, chúng ta sẽ xem xét quá trình lịch sử của một số chia cắt trong Kitô Giáo.
Câu Hỏi Suy Tư
- Điều gì khiến người ta có thái độ hạn hẹp khi giải thích câu "không có ơn cứu độ bên ngoài giáo hội"?
- Có bao giờ bạn là nạn nhân của sự kỳ thị giữa các giáo phái Kitô Giáo chưa?
- Khái niệm "Dân Chúa" được dùng như thế nào trong chiều hướng đại kết ở Công Đồng Vatican II?
- Khi người ta thăng tiến trong ý thức về đại kết thì họ có được cảm nghiệm gì?

|