Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 8: Sự Đa Dạng và Các Chia Cắt Trong Kitô Giáo

M

ới đây tôi vừa nói chuyện tại một nhà thờ Luther cho một đôi tân hôn, vợ theo đạo Công Giáo và chồng theo đạo Tin Lành Luther. Tôi cố giúp đôi tân hôn này hiểu về một số lý do đằng sau sự chia cách giữa người Công Giáo và Luther, cũng như những cố gắng đáng kể để hàn gắn sự chia cắt này. Tôi nghĩ rằng trong sự trình bầy đó, tôi rất thông cảm với đôi bên, có lẽ nhất là đối với người Luther. Nhưng, trong cuộc thảo luận kế tiếp, bà có vẻ tức giận. Bà nói: "Tôi sinh trong một gia đình Công Giáo và kết hôn với người theo đạo Luther. Bây giờ tôi đi nhà thờ này (Luther), vì nó không khác gì cả. Công Giáo hay Luther cũng đều giống nhau. Bây giờ ông nói rằng có sự khác biệt!"

Lúc đầu tôi hơi sững sờ vì phản ứng của bà. Chỉ vài năm trước đây, người ta cho rằng không có sự khác biệt giữa người Công Giáo và người Tin Lành Luther. Bây giờ, tôi lại gặp một người khác hẳn và bà cảm thấy đau lòng khi nghe nói có sự khác biệt, dù tôi đã nhấn mạnh đến nhu cầu hiểu biết và chấp nhận nhau. Tôi nghĩ bà ấy đang cố gắng biện hộ cho sự thay đổi cái nhìn của bà về các tôn giáo bằng cách từ chối bất cứ sự khác biệt nào.

Tôi trả lời bà bằng cách xác nhận rằng trong thế giới ngày nay dường như không có sự khác biệt giữa một người Công Giáo và người Tin Lành Luther. Hơn thế nữa, truyền thống Luther và truyền thống Công Giáo cực kỳ giống nhau, nhất là khi so sánh với tầm mức rộng lớn của những khác biệt bên trong và bên ngoài Kitô Giáo. Hơn thế nữa, tôi nhận ra rằng nhiều sự khác biệt có liên hệ đến các thần học gia và các nhà lãnh đạo giáo hội hơn là liên hệ đến một Kitô Hữu bình thường. Tuy nhiên, vẫn còn một số khác biệt về tính cách lịch sử và thần học. Các cuộc chiến, các lãnh thổ quốc gia, và đời sống cá nhân bị ảnh hưởng bởi những khác biệt này. Ngay cả ngày nay những khác biệt này có thể trở nên quan trọng cho người dân trong mức độ đạo đức cá nhân. Nói cho cùng, tôi thấy, sự hàn gắn không phải là chối bỏ những khác biệt nhưng phải nhận biết những khác biệt và cùng tìm cách chữa trị.

Trong Chương Này

Một cách tốt đẹp để hiểu về tình trạng hiện thời là tìm về lịch sử để xem làm thế nào mà các cộng đồng khác biệt lại xuất hiện trong Kitô Giáo. Dĩ nhiên, phải mất nhiều cuốn sách mới có thể thẩm định đúng đắn về vấn đề này. Trong chương này, chúng ta sẽ xem qua sự đa dạng trong thời Tân Ước, sự ly giáo giữa Chính Thống Giáo Hy Lạp và Công Giáo La Mã, và cuộc Cải Cách Tin Lành. Phần này liên hệ nhiều đến chương 2 của Lumen Gentium và Sắc Lệnh về Đại Kết của Công Đồng Vatican II.

Các Cộng Đồng Đa Dạng Trong Thời Tân Ước

Trong cuốn The Churches the Apostles Left Behind (Các Giáo Hội Mà Tông Đồ Để Lại) vị học giả nổi tiếng là Cha Raymond Brown nghiên cứu một vài cộng đồng mà các sách Tân Ước đã đề cập đến. Cha Brown cho rằng mỗi một cộng đồng có một sắc thái đặc biệt liên hệ đến vị tông đồ hoặc sự hướng dẫn của vị tông đồ sáng lập. Khi nghiên cứu mỗi một cộng đồng, Cha Brown tìm hiểu xem cộng đồng ấy đã sống còn như thế nào sau khi không còn sự hướng dẫn của vị tông đồ sáng lập ấy nữa. Nói cách khác, nếu vị sáng lập là mối liên kết nguyên thủy giữa cộng đồng và Đức Giêsu, thì một khi vị sáng lập không còn nữa, những quan niệm nào về cơ cấu và thẩm quyền đã duy trì được cộng đồng này?

Cha Brown tìm thấy sự thay đổi đáng kể trong cách kết cấu và căn tính của cộng đồng trong bảy giáo hội mà ngài nghiên cứu. Ba cộng đồng đầu tiên có đặc tính thường có liên hệ đến đạo Công Giáo. Thí dụ, trong các thánh thư (1 Timotê, 2 Timôtê, và Titô), yếu tố sống còn là việc chỉ định một giám mục trong mỗi một thành phố. Trong các thư gửi tín hữu Colossê/Êphêsô (những lá thư sau cùng được cho là của Thánh Phaolô), chính là ý tưởng về giáo hội như Nhiệm Thể của Đức Kitô. Trong Luca và CVTĐ yếu tố liên tục là Chúa Thánh Thần hướng dẫn các vị lãnh đạo.

Ba cộng đồng kế tiếp mà Cha Brown nghiên cứu thì có liên hệ mật thiết với đạo Tin Lành. Trong thư 1 Phêrô, yếu tố chỉ đạo cho cộng đồng này là sự hiểu biết về giáo hội như một Dân Tộc mới của Thiên Chúa dựa vào nền tảng dân tộc Do Thái như một dân tộc Chúa chọn. Trong Phúc Âm Thánh Gioan yếu tố tồn tại là sự tương giao của cá nhân với Đức Giêsu được hiểu rõ qua hình ảnh Cây Nho và ngành. Trong thư của Thánh Gioan chính Chúa Thánh Thần trong mỗi cá nhân đã ban cho quyền bính (mặc dù như Cha Brown đã viết, quan niệm này có khuynh hướng gây nên chia rẽ lớn).

Cha Brown chấm dứt với sự thảo luận về một cộng đồng có tính cách quân bình tôn giáo. Trong Phúc Âm Thánh Mátthêu, yếu tố sống còn là nhấn mạnh đến cơ cấu thẩm quyền, nhưng yếu tố này được quân bình hóa bởi sự nhấn mạnh hơn nữa đến lòng thương xót và thái độ không câu nệ luật lệ của Đức Giêsu. Không những Cha Brown giải thích chi tiết về cách thức hoạt động của các yếu tố này mà ngài còn đưa ra những ưu và khuyết điểm của mỗi một loại cộng đồng.

Công trình của Cha Brown thì hoàn toàn có tính cách đại kết, vì một vài lý do. Thứ nhất, sự đa dạng của các cộng đồng được phân tích ở trên cho thấy nhiều giáo phái ngày nay có thể tìm thấy nền tảng vững chắc cho cơ cấu giáo hội mình trong Tân Ước. Người Công Giáo, người Tin Lành, và người Duy Phúc Âm, tất cả đều có thể vạch ra các đoạn văn để biện minh cho kiểu cách sinh hoạt của mình.

Thứ hai, cuộc nghiên cứu của Cha Brown chứng minh rằng không một giáo phái nào hiện nay phản ánh đầy đủ chứng tích phúc âm. Mỗi một giáo phái phải tự xét mình đối với toàn bộ chứng tích phúc âm. Người Công Giáo có thể thiếu chú trọng đến sự hiện diện quan trọng của Chúa Thánh Thần trong mỗi một người; người Tin Lành có thể không coi nhu cầu hợp nhất giáo hội quan trọng đủ; người Kitô duy phúc âm có thể quên đi vai trò lãnh đạo của các giám mục đã có trong phúc âm.

Thứ ba, những xuyên tạc trong việc trình bầy đức tin vì mục đích tranh luận mà Cha Brown phân tích, dù trong thời Tân Ước, thời Cải Cách Tin Lành, hay thời nay, đều thức tỉnh mọi phần tử can dự và thúc đẩy họ theo chiều hướng lắng nghe nhau một cách thiện cảm và cùng hoạt động hướng về sự hòa giải. Cha Brown cũng cho thấy khi hai phe đối nghịch nhau thì những vấn đề đang tranh chấp lại được chú ý hơn cả những căn bản đức tin quan trọng khác. Thí dụ, Kitô Hữu thuộc cộng đồng của Thánh Gioan quá hăng say bảo vệ thiên tính của Đức Kitô đến độ họ gặp khó khăn khi phải khẳng định nhân tính của Người. Trong thời Cải Cách Tin Lành, người Công Giáo quá mải mê bài bác bất cứ gì là của Tin Lành nên họ nghi ngờ cả việc đọc Phúc Âm. Cha Brown cũng nhìn thấy điều tương tự xảy ra trong thời hậu Công Đồng Vatican II khi một số người tẩy chay một số điều trong đạo Công Giáo thuộc thời trước Công Đồng.

Tôi... vui mừng khi nhìn thấy những gì được đưa vào đạo Công Giáo bởi Công Đồng Vatican II, nhưng không nhất thiết cùng lúc phải có những mất mát, tỉ như, về sự trung thành, sự vâng phục, và sự tận tuỵ với giáo hội; về phẩm cách trong phụng vụ; về nhạc bình ca; về kiến thức truyền thống Latinh đi từ thời Thánh Augustine qua Thánh Tôma đến thời Trung Cổ. Bây giờ, sự cố gắng bù đắp cho những mất mát ấy trong khi vẫn thúc đẩy các ích lợi của Công Đồng Vatican II là một hành động xuất chúng có ý nghĩa.

Phương cách của Cha Brown tượng trưng cho tinh thần yêu hòa bình nhằm tìm kiếm sự hợp nhất, không bởi tránh né sự khác biệt, nhưng bởi tránh né những tranh luận cay đắng thường gây nên bởi thái độ tự vệ và từ đó có thái độ khinh miệt đối phương.

Cha Brown không để độc giả nghĩ rằng mọi giáo hội ngày nay đều không đầy đủ như nhau. Ngài đặc biệt yêu chuộng các giáo hội theo khuôn mẫu của Phúc Âm Thánh Mátthêu, trong đó cơ cấu thẩm quyền là điều hiển nhiên, nhưng cơ cấu ấy chỉ là thứ yếu so với nhiệt tình mục vụ và các tương giao bác ái giữa con người. Phúc Âm Thánh Mátthêu thường được truyền thống gọi là "phúc âm của giáo hội." Cha Brown đã để lại cho độc giả một hình ảnh rõ rệt về sự đa dạng chính đáng trong Tân Ước và nhu cầu của mọi Kitô Hữu thuộc đủ mọi giáo phái là phải lắng nghe nhau cách kỹ lưỡng và biết quý trọng sự hiểu biết của nhau.

Chính Thống Giáo Hy Lạp và Công Giáo La Mã

Các loại đa dạng được biểu lộ trong Tân Ước từng xuất hiện dưới nhiều hình thức trong suốt lịch sử Kitô Giáo. Không có thời gian nào được xác nhận là không có bất đồng với những điều giáo hội giảng dạy. Trong nhiều thời kỳ khác nhau, các phong trào có tổ chức đã xuất hiện và bị coi là lạc giáo, tỉ như Marcion, Arian, và Waldensian. Tuy nhiên, đối với thế giới Kitô Giáo, hai sự chia cắt chính yếu nổi bật nhất: cuộc đại ly giáo giữa Chính Thống Giáo Hy Lạp và Công Giáo La Mã trong thế kỷ mười một và cuộc Cải Cách Tin Lành trong thế kỷ mười sáu.

Cuộc đại ly giáo Hy Lạp và La Mã (Hy-La) xảy ra trước và sâu đậm hơn Cải Cách Tin Lành. Cuộc ly giáo trước tượng trưng cho một sự chia rẽ giữa Đông và Tây, trong khi cuộc ly giáo sau là một vết nứt trong Kitô Giáo Tây Phương. Đại ly giáo Hy-La là sự đổ vỡ giữa giáo hội nói tiếng Latinh, tập trung ở Rôma, và giáo hội nói tiếng Hy Lạp, tập trung ở Constantinople (ngày nay là Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ). Mặc dù sự đổ vỡ xảy ra dần dà sau nhiều thế kỷ, biến cố mà các học giả đề cập đến nhiều nhất là vạ tuyệt thông của vị đại diện đức giáo hoàng đối với Đức Micae Cerularius, là Thượng Phụ của Chính Thống Giáo Hy Lạp, trong một Thánh Lễ ngay trong vương cung thánh đường của Đức Thượng Phụ ở Constantinople năm 1054. Để trả đũa, Đức Cerularius ra vạ tuyệt thông phái đoàn của đức giáo hoàng.

Biến cố này xảy ra sau vài trăm năm kình chống và ghen ghét giữa đôi bên. Mặc dù Rôma cho rằng quyền ưu tiên đã được công nhận bởi người Hy Lạp, nhưng bản chất và mức độ ưu quyền ấy chưa ngã ngũ. Thí dụ, người Công Giáo La Mã chủ trương rằng các công đồng đại kết có giá trị là vì được công nhận bởi vị giáo hoàng. Kitô Hữu Chính Thống Hy Lạp cho rằng chính các công đồng đại kết tự nó có uy thế, và do đó sự thừa nhận của đức giáo hoàng chỉ tượng trưng cho sự chứng thực sau cùng của quyền lực ấy.

Một tranh luận thần học có liên hệ đến vấn đề chia cắt là giáo hội La Mã thêm vào chữ filioque trong kinh Tin Kính Nicene. Chữ filioque có nghĩa Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con. Giáo hội Hy lạp nguyên thủy nói rằng, Chúa Thánh Thần chỉ xuất phát từ Chúa Cha mà thôi. Cuộc tranh luận này có liên hệ đến thẩm quyền của đức giáo hoàng, vì theo sự giải thích của người Hy Lạp, Chúa Thánh Thần là môi giới trực tiếp của thẩm quyền Thiên Chúa theo như truyền thống, trong khi giáo hội La Mã lại giải thích rằng người môi giới là Đức Kitô và giáo hội, và bởi đó đức giáo hoàng cũng là người môi giới.

Tuy nhiên, hầu hết các học giả đồng ý rằng mối bất hòa thực sự giữa Constantinople và Rôma thì có tính cách văn hóa và chính trị hơn là thần học. Các linh mục theo truyền thống Hy Lạp được lập gia đình, râu ria xồm xoàm, và dùng bánh có men trong Thánh Lễ; linh mục theo truyền thống La Mã thì độc thân, không để râu, và dùng bánh không men. Tuy nhiên, sâu đậm hơn nữa là thái độ đối với nhau. Một bình luận gia đã viết:

Đối với người Hy Lạp, những người Latinh, xuất phát từ các quốc gia thời trung cổ, thì bừa bãi, không văn minh và đói khát đủ thứ. Đối với người Latinh, những người Hy Lạp thì thoái hóa, nhỏ nhặt hay bắt bẻ tỉ mỉ.

Sau vạ tuyệt thông lẫn nhau năm 1054, hai giáo hội vẫn cởi mở tiến đến sự hòa giải, nhưng chưa được cụ thể hóa. Năm 1204, các thập tự quân của Tây Phương bị các con buôn Venetian đánh lừa nên xông vào cướp phá thành phố Constantinople. Các thập tự quân này đã thiết lập đế chế Rôma ở Constantinople, và áp đặt các nghi thức cũng như phụng vụ Latinh trên các Kitô Hữu Hy Lạp đang bất mãn, mãi cho đến khi thập tự quân bị đẩy lui vào năm 1261. Hy vọng hòa giải lại càng vùi sâu hơn nữa khi Constantinople rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ năm 1453.

Vào cuối Công Đồng Vatican II, ngày 7 tháng Mười Hai 1965, một tuyên bố chung giữa Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Hy Lạp Athenagoras I đã được công bố. Cả hai cùng bày tỏ sự hối tiếc về những lời lẽ xúc phạm, những cáo buộc vô cớ, những hành động khinh miệt, các vạ tuyệt thông, và thái độ không tin tưởng lẫn nhau. Cả hai cũng bày tỏ ước muốn vượt qua những khác biệt của quá khứ bằng sự sám hối và tích cực lưu tâm đến ích lợi chung.

Martin Luther và cuộc Cải Cách Tin Lành

Các học giả có thể đưa ra nhiều lý do phức tạp của cuộc Cải Cách. Trong đó, lý do hiển nhiên nhất là sự thối nát lan tràn trong giáo hội bởi sự lạm dụng và dị đoan, việc buôn bán bí tích, hàng giáo sĩ thiếu giáo dục, và các giám mục hữu danh vô thực là những người làm giầu qua sự thu góp tiền của giáo dân. Tuy nhiên, sâu xa hơn là những thay đổi rộng lớn về văn hóa, tỉ như sự chuyển hướng từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản, lôi theo sự phát sinh của chủ nghĩa dân tộc, dân chúng biết đọc biết viết nhiều hơn (nhờ có máy in), và một giai cấp trung lưu mới. Một giáo hội dường như bám chặt vào các hình thức tư duy thời Trung Cổ đã không còn được tôn trọng bởi những người có các kỳ vọng mới.

Mặc dù nhiều phong trào Kitô Giáo đã nổi lên chống đối trước và sau thời Martin Luther nhưng ông được coi là tâm điểm của cuộc Cải Cách Tin Lành. Là một tu sĩ dòng Augustin với ý định nguyên thủy là cải tổ nội bộ giáo hội, chính ông muốn những người theo ông vẫn được gọi là "Kitô Hữu" chứ không phải là "người theo Luther".  Ít nhất, ngay từ lúc đầu ông không muốn bị vạ tuyệt thông vì không chịu rút lại các cáo buộc mà ông đã đặt trước cửa nhà thờ cũng như đối với đức giáo hoàng.

Đầu tiên, Martin Luther rất bực mình vì việc giáo hội bán ân xá để gây quỹ xây đền Thánh Phêrô ở Rôma. "95 Luận Đề" nổi tiếng của ông hoàn toàn lưu tâm đến vấn đề này. Ân xá là sự chước giảm hình phạt vì tội lỗi, thường được ban cho những người làm việc tốt, đi hành hương, hay siêng năng cầu nguyện. Martin Luther chống đối các ân xá được bán để lấy tiền, được áp dụng cho các hình phạt ở luyện ngục, và được "trọn vẹn," nghĩa là bất cứ mọi hình phạt gì cũng được tha. Martin Luther chủ trương rằng thẩm quyền của đức giáo hoàng để cầm buộc hay tháo gỡ khỏi những hình phạt đặc biệt này thì chỉ liên hệ đến các hình phạt giáo luật ở đời này mà thôi. "95 Luận Đề" được phổ biến rộng rãi trên khắp Âu Châu. Một vài năm kế đó thì đầy dẫy những sự đe dọa, hứa hẹn, bàn cãi và tranh luận giữa Luther và các đại diện của Rôma.

Vào năm 1520, Luther viết ba luận án "Cải Cách" mà trong đó chất chứa toàn bộ thần học cải cách. Những cuộc tấn công của ông đối với đức giáo hoàng và tình trạng bấy giờ của giáo hội leo thang một cách khủng khiếp. Luther coi giáo hội Công Giáo và đức giáo hoàng như những sáng chế của loài người nhưng lầm lạc cho rằng có uy quyền của Thiên Chúa. Trong đó họ là đại diện của ma quỷ chứ không phải Thiên Chúa. Luther chủ trương rằng mọi Kitô Hữu đều có quyền ngang với linh mục và giám mục về việc rửa tội, tha tội, và truyền phép. Thật thích hợp để ban chức vụ cho một số người để thi hành các điều này, nhưng họ chỉ khác nhau ở chức năng, chứ không khác ở bản chất so với các Kitô Hữu khác. Martin Luther lên án "kiểu cách phô trương và trần tục" của đức giáo hoàng. Ông kêu gọi bãi bỏ việc ép buộc giáo sĩ sống độc thân, mua Thánh Lễ cho người chết, thiết đặt các nguyện đường làm nơi hành hương để gây quỹ, giấy phép của giáo hội, tự sắc của đức giáo hoàng và xin xỏ cũng như ân xá. Ông lập luận rằng Kitô Hữu được cứu độ chỉ bởi đức tin, chứ không bởi công việc tốt lành; Kinh Thánh là việc làm của Thiên Chúa, chứ không do loài người quyết định; giáo hội phải khiêm tốn vác lấy thập giá của mình chứ đừng khoe khoang vinh dự.

Cùng năm ấy, 1520, một tự sắc của đức giáo hoàng được ban bố để lên án các đề thuyết của Martin Luther và cho ông sáu mươi ngày để công khai rút lại ý kiến. Tại Hội Nghị Hoàng Gia ở Worms năm 1521 Martin Luther khẳng định rằng ông không rút lại lập trường của mình vì ông không tìm thấy điều gì hợp lý hoặc thích hợp với Kinh Thánh khiến ông phải làm như vậy. Vào lúc ấy, cuộc Cải Cách mới thực sự xảy ra. Luther dùng những năm cuối đời để cải tổ giáo hội. Trong những điều thực hiện, ông cố gắng đưa nền tảng đức tin Kitô Giáo đến với người dân bằng cách dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức và viết sách giáo lý đầu tiên trong lịch sử.

Cho đến những năm gần đây, thật khó để tìm thấy một cái nhìn quân bình về cuộc Cải Cách. Người Công Giáo và người Tin Lành đều vô cùng bất công và thiên vị khi trưng ra các đặc điểm và biến cố của thời ấy. Mỗi bên đều tự hào vạch ra những ví dụ của thái độ tìm đến với nhau và cố gắng thỏa hiệp. Mỗi bên cũng đều tìm thấy đầy dẫy những ví dụ của sự kiêu hãnh, ngạo mạn, ngoan cố, và đầu óc hẹp hòi.

Trên bốn trăm năm trở lại đây, hàng trăm giáo phái Tin Lành đã xuất hiện. Tất cả đều có ít nhiều cách biệt với giáo triều. Một số, tỉ như Episcopal và Luther, vẫn giữ hàng giám mục kế nhiệm các tông đồ. Một số khác, tỉ như Methodist và Presbyter, đặt thẩm quyền dân chủ trên giáo dân là những người họp thành các giáo đoàn. Tuy nhiên, một số khác nữa, tỉ như Baptist và Pentecost, lại ban thẩm quyền sau cùng cho người có thể giải thích Kinh Thánh qua Thần Khí ở trong họ.

Tóm Lược

Để có được một số quan điểm về những chia cắt trong Kitô Giáo ngày nay, chúng ta vừa nhìn lại tính cách đa dạng trong Tân Ước, cuộc đại ly giáo Hy-La, và cuộc Cải Cách Tin Lành.

Không dễ để trả lời cho những người, dù là Tin Lành hay Công Giáo, về những vấn đề này. Tất cả những gì tôi có thể đề nghị là một viễn ảnh đại kết nhìn đến cả hai mặt của vấn đề trong khi chúng ta cố vận động sự hòa giải trong đó sẽ tôn trọng tính cách đa dạng của chúng ta trong khi tiến tới sự hợp nhất thực sự.

Trong chương kế tới, chúng ta sẽ xem xét một số tiến bộ trong tiến trình đại kết ngày nay.

Câu Hỏi Suy Tư

  1. Vấn đề nào bạn cho là quan trọng nhất trong những vấn đề đã chia cách Kitô Hữu?
  2. Vấn đề nào bạn cho là ít quan trọng nhất trong những vấn đề đã chia cách Kitô Hữu?
  3. Cuộc khảo cứu về tính cách đa dạng trong Tân Ước của Cha Raymond Brown có thể giúp gì cho cuộc đối thoại đại kết ngày nay?
  4. Đối với cuộc đại ly giáo Hy-La và Cải Cách Tin Lành, bạn có thể phân biệt những vấn đề nào là "tôn giáo" và vấn đề nào là "văn hóa"?
  5. Hình ảnh của Martin Luther trong chương này có phù hợp với những gì bạn nghe biết trước đây?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com