|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 9: Tiến Bộ Đại Kết
ai bà bạn Tin Lành của tôi thường đến tham dự Thánh Lễ tại nhà thờ mỗi Chúa Nhật. Bà Thanh là Methodist; bà Bình là Episcopal (Anh Giáo). Cả hai đều có chồng là người Công Giáo. Cả hai đều có con cái theo đạo Công Giáo. Cả hai đều tham dự vào các sinh hoạt của giáo xứ. Cả hai đều hãnh diện và vẫn là người Tin Lành. Không ai được phép rước lễ trong nhà thờ Công Giáo trừ khi họ trở thành người Công Giáo.
Bà Thanh lên rước lễ mỗi Chúa Nhật. Bà không nghĩ rằng đức giáo hoàng hoặc đức giám mục sẽ loại trừ bà khỏi việc rước lễ mà những người trong gia đình bà đều được phép. Bà cảm thấy rằng khi cho con theo đạo Công Giáo và để gia đình tham dự Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật thì đó là một nhượng bộ lớn. Không lẽ giáo hội Công Giáo không nhượng bộ hay sao? Có tốt gì cho bà khi phải đến một nhà thờ mà không có người thân trong gia đình? Bà không cảm thấy hối hận để vâng theo điều mà bà cho là các quy luật vô nghĩa mà con người đã đặt ra trước đây.
Bà Bình thì không lên rước lễ. Bà cho đó là dấu hiệu bất đồng với một vài giáo huấn của Công Giáo. Cha của bà là người Công Giáo, và ông đã bỏ giáo hội vì những bất đồng. Một cách đặc biệt, bà cảm thấy quyền bính đức giáo hoàng được thổi phồng quá đáng, và nhiều điều về Đức Maria mà người Công Giáo tin tưởng thì không đúng với Phúc Âm, và các nghi thức cũng như sự cầu nguyện Công Giáo có vẻ dị đoan. Bà không có ý thù nghịch với giáo hội Công Giáo, nhưng bà muốn vạch rõ sự khác biệt. Việc bà không rước lễ là một dấu hiệu mạnh mẽ để nói lên bản chất Tin Lành của bà dù rằng bà tham dự Thánh Lễ Công Giáo chỉ vì gia đình.
Thiếu sự hiệp thông bí tích liên tôn (intercommunion) vẫn là dấu hiệu lớn cho sự chia cách trong Kitô Giáo. Giáo hội Công Giáo có chính sách rõ ràng là chỉ những người Công Giáo thực sự mới được rước lễ, trừ những trường hợp ngoại lệ mà sự miễn trừ đã được ban bố, tỉ như trong đám cưới, trong một nghi thức đại kết, hoặc một nhu cầu tối cần thiết. Chính sách này bị vi phạm cách rộng rãi, nhất là có liên quan đến hôn nhân liên tôn giáo. Nhiều thần học gia và giáo dân Công Giáo ngày nay đang thúc bách giới lãnh đạo giáo hội cho phép hiệp thông bí tích liên tôn trên một phạm vi rộng lớn. Các nhà lãnh đạo giáo hội, được sự hỗ trợ của các thần học gia và giáo dân Công Giáo, lập luận rằng một hành động như thế sẽ quá vội vã và nguy hiểm.
Hiệp thông bí tích liên tôn là một dấu hiệu lớn của sự tiến bộ đại kết. Một bài thánh ca dựa trên phúc âm viết, "Một bánh, một Thân Thể," mà ở đây "thân thể" tượng trưng cho Thánh Thể và chính giáo hội. Trong Phúc Âm Gioan 17:21, Đức Giêsu cũng cầu xin với Chúa Cha để những ai theo Người sẽ trở nên một. Trong thư gửi giáo đoàn Êphêsô 4:3-6, Thánh Phaolô khuyên: "Hãy nỗ lực duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí là nguồn gốc và sự bình an là sức ràng buộc. Chỉ có một thân thể và một Thần Khí, cũng như chỉ có một niềm hy vọng được ban cho anh chị em qua lời mời gọi. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa, một Thiên Chúa và Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, và hoạt động qua mọi người, và trong mọi người." Sự hiệp nhất của giáo hội là phần thiết yếu trong lời giảng dạy của các Giáo Phụ và trong tín khoản ban đầu: "Chúng tôi tin một giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền." Do đó, những chia cắt giữa Kitô Hữu là điều tiếng thật xấu xa, và đã từng được cảm nghiệm bởi chính những người tạo nên các điều tiếng ấy, dù rằng phần tử bên này thường đổ lỗi cho phần tử bên kia.
Trong Chương Này
Trong chương này chúng ta sẽ xem xét một số tiến bộ đã thực hiện được trong vấn đề đại kết Kitô Giáo ngày nay. Trước hết, chúng ta sẽ nhìn đến một đề nghị đại kết của các thần học gia Công Giáo, sau đó chúng ta sẽ lướt qua các đối thoại đại kết, và sau cùng là văn kiện của Hội Đồng Giáo Hội Thế Giới nhằm cổ vũ sự hợp nhất giáo hội. Như hai chương vừa qua, chương này tương xứng với chương 2 của Lumen Gentium và với Sắc Lệnh về Đại Kết.
Tám Luận Đề
Heinrich Fries và Karl Rahner, hai vị thần học gia Công Giáo nổi tiếng, cùng cộng tác viết một cuốn sách, mang tên The Unity of the Churches: An Actual Possibility (Hợp Nhất các Giáo Hội: Một Triển Vọng Có Thực). Các ngài kêu gọi sự hiệp thông bí tích liên tôn và chia sẻ tòa giảng giữa "các giáo hội chính của Kitô Giáo". Những giáo hội này sẽ được coi là "các giáo hội hợp tác." Cha Fries và Cha Rahner cho rằng bây giờ là thời điểm thuận tiện để hành động vì "trong ba thập niên qua, nhiều vấn đề đại kết đã được thực hiện so với các thế kỷ trước." Các biến động mà các ngài đề cập đến là Công Đồng Vatican II và việc công bố chung một vài văn kiện chính thức của Chính Thống Giáo và Công Giáo, Anh Giáo và Công Giáo, Tin Lành Luther và Công Giáo về những chủ đề như thừa tác vụ, Thánh Thể, và ơn cứu độ. Sau đây là tóm lược tám luận đề mà các ngài đã đưa ra cũng như giải thích trong sách:
- Các giáo hội hợp tác sẽ chấp nhận Kinh Thánh và các Tín Khoản ban đầu.
- Các giáo hội hợp tác sẽ không quyết liệt tẩy chay những gì là tín điều bó buộc trong giáo hội khác; không có tín điều nào có thể áp đặt trên giáo hội hợp tác ngoại trừ Luận Đề 1.
- Các giáo hội hợp tác cấp vùng có thể duy trì các cơ sở hiện hữu sát cánh bên nhau trong cùng một lãnh thổ.
- Tất cả các giáo hội hợp tác công nhận chức vụ của đức giáo hoàng như một dấu hiệu hợp nhất của giáo hội; đức giáo hoàng sẽ đồng ý hành xử huấn quyền tối cao của mình chỉ khi nào cùng chung với các đại hội đồng đại diện cho toàn thể giáo hội.
- Mọi giáo hội hợp tác sẽ có các giám mục đứng đầu các chi nhánh, mặc dù phương cách tuyển chọn có thể thay đổi.
- Các giáo hội hợp tác sống trong sự trao đổi hỗ tương huynh đệ với nhau để kinh nghiệm của một giáo hội này có thể trở nên hữu ích cho các giáo hội khác.
- Các giáo hội hợp tác giờ đây sẽ truyền chức với lời cầu nguyện và nghi thức đặt tay.
- Sẽ có toà giảng và bàn thờ giao hảo giữa các giáo hội hợp tác.
Cha Fries và Cha Rahner cũng bày tỏ sự nóng lòng vì các nhà lãnh đạo giáo hội vẫn do dự không dám thi hành các biện pháp đại kết táo bạo. Tuy nhiên, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, trưởng Thánh Bộ Tín Lý, kiên quyết bất đồng ý với những đề nghị này. Điều chống đối chính yếu là ngài cho rằng sự hiệp thông bí tích liên tôn đòi hỏi một kết hợp đức tin thực sự mà hiện nay chưa có. Đức Ratzinger cho rằng sự hợp nhất hiện nay chỉ là một phần đáng ngợi khen nhưng chưa đủ. Ngài đưa ra những khó khăn và những bất đồng hiện vẫn còn về các vấn đề, tỉ như sự biến thể và đặc tính hy tế của Thánh Lễ ngay trong các tuyên bố chung về Thánh Thể. Ngoài ra, Đức Ratzinger còn vạch ra những khác biệt liên quan đến Kinh Thánh, Truyền Thống, và thẩm quyền giáo hội cũng như ý nghĩa của chính hành vi đức tin.
Chính điểm sau cùng này mà Đức Ratzinger coi là căn nguyên những khác biệt giữa Công Giáo và Kitô Hữu Cải Cách. Ngài giải thích rằng đức tin mà Martin Luther chủ trương bao gồm sự gặp gỡ giữa chính cá nhân ấy với Thiên Chúa; đức tin của Công Giáo bao gồm việc chấp nhận những gì mà Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta như một dân tộc trong phương cách liên tục qua giáo hội. Nhân vị cực đoan của Luther còn được thấy xuất hiện trong các vấn đề tranh luận khác. Đức Hồng Y Ratzinger chủ trương rằng, tốt hơn nên khảo sát sâu xa về các vấn đề chân lý căn bản này, hơn là xúc tiến "cuộc diễn hành gượng ép tiến đến sự hợp nhất" mà Cha Fries và Cha Rahner đã đề nghị.
Sự khó khăn của vấn đề này còn được thấy trong lập trường đối nghịch của thần học gia Công Giáo là Avery Dulles và thần học gia Tin Lành Wolfhart Pannenberg. Mỗi vị, để làm căn bản lý luận cho mình, đều quan niệm rằng Thánh Thể vừa là dấu hiệu hợp nhất và vừa là mục tiêu của sự hợp nhất. Mỗi vị đều có những bàn thảo tương tự về các vấn đề hiện thời. Tuy nhiên, sau cùng, trong khi đồng ý nới lỏng những hạn chế nghiêm ngặt để hiệp thông bí tích liên tôn vào dịp đặc biệt, Đức Hồng Y Dulles mạnh mẽ chống đối tình trạng quá lỏng lẻo trong việc chia sẻ Mình Thánh. Ngài chủ trương rằng, ngoài sự hiệp thông bí tích liên tôn dịp đặc biệt, bất cứ điều gì khác thì đều quá sớm, bởi vì nó có thể cổ võ cho thái độ dửng dưng và rất có thể cản trợ động lực tiến đến những thoả thuận quan trọng khác. Không bên nào sẽ cảm thấy được thúc giục canh tân như bây giờ qua việc lắng nghe nhau một cách tường tận. Khi "sự bừa bãi Thánh Thể" xảy ra, hiệu lực của bí tích này, được coi là dấu hiệu hợp nhất giáo hội, sẽ bị giảm bớt.
Ngược lại, Pannenberg chủ trương rằng, cho tới nay một tiến bộ như thế đã thực hiện được trong các thoả thuận có tính cách đại kết đó là bí tích Thánh Thể có thể hành xử một cách tổng quát như nguyên do của sự hợp nhất. Nói cách khác, ông tin tưởng rằng sự hiệp thông bí tích liên tôn chung phải được cho phép vì nó sẽ đem lại một động lực mới trong sự hiểu biết và canh tân hỗ tương. Trong một ý nghĩa, hiện thời bí tích Thánh Thể có thể hành xử như một dấu hiệu về tương lai hợp nhất mà Kitô Hữu hy vọng. Ông cảm thấy rằng những hạn chế hiện thời không phản ảnh thái độ mời gọi của Đức Giêsu.
Bởi đó, các bất đồng hiện nay về sự hiệp thông bí tích liên tôn bao gồm những khác biệt về cách thẩm định tầm quan trọng của những khác biệt còn lại, và trên thực tế, bí tích Thánh Thể phải hành xử như thế nào để đem lại sự hiệp nhất sâu xa hơn.
Tìm Kiếm Sự Thoả Thuận Về Phương Diện Thần Học
Trong vài thập niên vừa qua, giáo hội Công Giáo từng làm việc chung với nhiều giáo phái khác để cố gắng giải quyết một số khác biệt thần học trong quá khứ. Sau Công Đồng Vatican II, Đức Phaolô VI đã thành lập Văn Phòng Cổ Võ Sự Hiệp Nhất Kitô Giáo. Văn phòng này đã đồng bảo trợ các cuộc đối thoại nhằm liên kết Công Giáo với Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Luther, Methodist, Môn Đệ Đức Kitô, Baptist, Pentacost, và một số giáo phái Evangelic.
Một vài cuộc đối thoại này đã thành công đáng kể trong việc đưa ra các công bố chung nói lên sự thoả thuận quan trọng về nhiều vấn đề từng chia cắt Kitô Giáo trong quá khứ. Các cuộc đối thoại giữa Luther-Công Giáo đã đem lại các công bố chung về sự tương giao giữa Kinh Thánh và giáo hội, sự quan trọng của Martin Luther, và ý nghĩa của sự công chính hóa (ơn cứu độ). Những cuộc đối thoại hiện nay nhắm đến vấn đề công chính hóa, giáo hội học, và bí tích. Các cuộc đối thoại Chính Thống Giáo-Công Giáo đã đem lại các công bố chung về sự tương giao về giáo hội, bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa Ba Ngôi, và sự tương giao về đức tin, các bí tích, và sự hợp nhất giáo hội. Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo-Công Giáo đã có những công bố chung về bí tích Thánh Thể, thừa tác vụ, và thẩm quyền, cũng như một công bố mới đây (1987) về "Ơn Cứu Độ và Giáo Hội," mà trong đó viết "chúng tôi tin rằng hai cộng đồng chúng tôi đồng ý các khía cạnh căn bản của học thuyết ơn cứu độ và vai trò của giáo hội trong vấn đề cứu độ."
Phản ứng chính thức của giáo hội Công Giáo thì một đàng vừa tích cực và khuyến khích, nhưng đàng khác lại vừa do dự và phê bình. Các tài liệu đã được hình thành bởi các ủy ban được sự đồng bảo trợ của Tòa Thánh, nhưng về phía Công Giáo, các quyết định lại chỉ có tính cách của một phúc trình cần có sự phê chuẩn của Thánh Bộ Tín Lý, do Đức Hồng Y Ratzinger đứng đầu. Thánh Bộ này cố làm ra vẻ khuyến khích bằng cách công nhận những tiến bộ đã thực hiện được, nhưng hầu hết những nhận định là các phân tích những khó khăn hiện nay, và luôn nhắc nhở rằng sự hợp nhất thực sự đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa. Thí dụ, về các tài liệu của Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo-Công Giáo, Thánh Bộ đưa ra những khó khăn vẫn còn về bí tích Thánh Thể, giáo triều, Đức Maria, các bí tích, giáo hội, và sự tự do và công trạng của con người. Đặc biệt đối với tài liệu năm 1987, Thánh Bộ viết: "Những phê bình vừa được diễn tả không có nghĩa từ chối sự thành công phần nào [của ủy ban]. Nhưng người ta không thể quả quyết rằng đã đạt được một thoả thuận đầy đủ và chắc chắn về các khía cạnh thiết yếu của học thuyết này, chính yếu là vì thiếu sót đề cập đến vai trò của giáo hội trong ơn cứu độ."
Phần lớn sự tiến bộ đại kết hiện thời thực hiện được ở mức độ căn bản qua các hôn nhân liên tôn giáo và qua việc chia sẻ phụng vụ, học hỏi Kinh Thánh, và các chương trình hoạt động xã hội. Nhiều người cảm nhận điều tiếng xấu của sự chia cắt cũng thấy rằng đã đến lúc phải hành động. Cha Raymond Brown từng đưa ra lời cảnh giác:
Nếu trong hai thập niên tới các giáo hội không nắm lấy cơ hội, nếu một sự kết hợp giữa hai giáo hội lớn không xảy ra như một dấu hiệu của điều khả dĩ thực hiện được, và nếu vì đó Kitô Giáo đi vào thiên kỷ thứ ba với nhiều chia cắt hơn là khi đi vào thiên kỷ thứ hai, thì có thể nào, và ngay cả dường như sẽ xảy ra, là cơ hội ấy sẽ không bao giờ đến nữa? Hình như lúc nào Chúa Thánh Thần cũng gây nhiều kinh ngạc, nhưng đôi khi sự ngạc nhiên đó có thể vì Chúa Thánh Thần để dân Chúa phải trả giá sự thất bại của chính mình.
Bí Tích Rửa Tội, Thánh Lễ và Thừa Tác Vụ
Hội Đồng Giáo Hội Thế Giới được dùng như một động lực hợp nhất giữa Kitô Hữu kể từ khi được thành lập vào năm 1948. Đã có nhiều hội đồng quốc gia và nghị hội quốc tế xảy ra trước. Vì những khó khăn thần học sẽ bao gồm ở trong đó, giáo hội Công Giáo La Mã thì không chính thức là một thành viên, nhưng Vatican có đề cử người tham dự và biểu quyết với tư cách cá nhân.
Năm 1982 Hội Đồng Giáo Hội Thế Giới công bố một tài liệu mang tựa đề "Baptism, Eucharist and Ministry" (Bí Tích Rửa Tội, Thánh Lễ và Thừa Tác Vụ), được viết tắt là BEM và còn được gọi là tài liệu Lima. Mười hai tham dự viên, đúng mười phần trăm của 120 thành viên thuộc ủy ban Đức Tin và Chức Thánh đã thành hình tài liệu này, là những người Công Giáo. Tài liệu thử đưa ra một tuyên bố thần học mạnh mẽ về ba vấn đề như ở tựa đề mà hiển nhiên mọi Kitô Hữu có thể tán thành. Phần khó khăn nhất của nỗ lực này là phải tránh đừng để tài liệu trở thành quá tổng quát đến độ không còn ý nghĩa nữa. Tài liệu BEM được gửi đi cho nhiều giáo phái Kitô Giáo trên toàn thế giới để hỏi xem các giáo hội này tán thành quan điểm của tài liệu đến mức độ nào. Họ cũng xin được biết ý kiến về công việc tương lai của ủy ban. Các câu trả lời chính thức được gộp thành một tập dày sáu quyển.
Tài liệu "Bí Tích Rửa Tội, Thánh Lễ và Thừa Tác Vụ" là một công trình đáng kể vì nó diễn đạt được nhiều điều quan trọng của vấn đề trong khi vẫn bén nhạy với các phương cách khác nhau. Bí tích rửa tội được diễn tả là một dấu hiệu của đời sống mới, một tham dự trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô, một hoán cải dẫn đến việc tẩy rửa tội lỗi, một tháp nhập vào Thân Thể Đức Kitô, và một dấu chỉ của vương quốc Thiên Chúa. Tài liệu cố gắng dùng những danh từ truyền thống khi trình bầy các quan điểm tế nhị về những vấn đề đã được bàn cãi trong quá khứ, tỉ như có nên rửa tội trẻ em hay không, có nên tái rửa tội hay không, và bí tích thêm sức có cần thiết là một bí tích riêng biệt hay không.
Thánh Lễ được diễn tả như một sự hiệp thông với Đức Kitô bao gồm việc tha tội và hứa hẹn một đời sống vĩnh cửu, như một tưởng nhớ đến Đức Kitô phục sinh, như một dấu hiệu của cộng đồng và sự hợp nhất, như lời mời gọi sống công bằng, và như một bữa tiệc của nước trời. Những quan điểm tế nhị cũng được đưa ra về các vấn đề đã được bàn cãi như bản chất của Thánh Lễ như một hy lễ, sự hiện diện thực sự, và phương cách cử hành.
Thừa tác vụ được diễn tả đầu tiên và trước hết như một lời mời gọi được trao ban cho tất cả Kitô Hữu. Tài liệu khẳng định thêm là cần có những người chịu trách nhiệm liên tục và công khai -- do đó, có các thừa tác vụ chức thánh. Thừa tác vụ chức thánh có nguồn gốc từ lời mời gọi mười hai tông đồ của Đức Giêsu. Các thừa tác viên có một trách nhiệm đặc biệt nhưng không độc quyền trong việc xây dựng cộng đồng qua ngôn từ và dấu chỉ (bí tích). Tài liệu cố trình bầy lập trường tế nhị về các thắc mắc liên quan đến sự kế nhiệm các tông đồ, nhu cầu thiết lập một giám mục, và việc tấn phong phụ nữ.
Trong 185 câu trả lời chính thức với tài liệu BEM nhận được vào đầu năm 1990, đa số đều khẳng định một cách tích cực là họ có thể chấp nhận đức tin Kitô Giáo theo như họ hiểu trong tài liệu. Hầu như mọi câu trả lời đều đưa ra lời phê bình theo quan điểm của mình. Nhiều giáo hội thiếu cơ cấu chặt chẽ than phiền về điều mà họ cho là thiên kiến của các các giáo hội lớn; một số giáo hội có cơ cấu truyền thống lại thắc mắc tại sao không đề cập đến giáo triều. Nhiều nhà bình luận nhận xét rằng tài liệu này tránh né lập trường cứng rắn về các vấn đề đang tranh luận nhiều nhất. Tuy nhiên, nói cho cùng, các giáo hội tiếp nhận tài liệu một cách tích cực khác thường. Một phản ứng đối với các câu trả lời là sự ủy thác một cuộc nghiên cứu mới về giáo hội học.
Phản ứng chính thức của Công Giáo từ Thánh Bộ Tín Lý, như được tiên đoán, là vừa khuyến khích và vừa ngập ngừng. Thánh Bộ viết, thật tốt đẹp nếu tài liệu BEM được tiếp nhận rộng rãi, nhưng sự thoả thuận ấy phải được coi như một giai đoạn trên đường dài và không được coi như một thoả thuận hoàn toàn. Thánh Bộ ngạc nhiên với ý nghĩa thâm trầm thần học liên hệ đến các chủ đề về Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần và với sự hiểu biết tích cực về mỗi vấn đề. Tuy nhiên, tài liệu này "không đạt được một vài điểm," nhất là trong sự hiểu biết về bí tích, truyền thống tông đồ, và thẩm quyền quyết định. Thánh Bộ vạch ra nhu cầu cần hiểu biết hơn nữa về quan điểm của Công Giáo trong giáo hội học. Một hiểu biết như thế sẽ là chủ đề của nhiều chương kế tiếp.
Tóm Lược
Trong chương này, chúng ta vừa nhìn đến các đề nghị cho sự hợp nhất Kitô Giáo, những thận trọng về việc tiến hành quá mau, và những thoả thuận giữa các giáo phái Kitô Giáo.
Những chia cắt trong Kitô Giáo vẫn là một tiếng xấu. Cho rằng các nguyên do của sự chia cắt này không chỉ có tính cách thần học nhưng sâu xa hơn là vấn đề văn hóa và cách thực hành, việc hàn gắn cần được thực hiện không chỉ qua các đối thoại thần học. Chúng ta cần tiếp tục sống với nhau, chơi đùa, chuyện trò và cầu nguyện với nhau. Người tín hữu Kitô thuộc đủ mọi sắc thái cần có một thái độ khiêm tốn và sám hối, cũng như can đảm chịu đựng đừng bỏ cuộc đối với những vấn đề căn bản. Cũng như chính vương quốc Thiên Chúa, sự hợp nhất Kitô Giáo không chỉ là công trình của con người mà còn là công trình của Thiên Chúa.
Chúng ta vừa mới đặt ra khung cảnh đại kết cho cuốn sách này, chúng ta sẽ tiếp tục trong các chương kế tới về cơ cấu thẩm quyền cá biệt của giáo hội Công Giáo.
Câu Hỏi Suy Tư
- Với những dữ kiện của chương này, bạn có khuynh hướng ủng hộ hay chống với sự hiệp thông bí tích liên tôn vào lúc này?
- Cặp vợ chồng khác tôn giáo phải phản ứng thế nào với các chính sách hiện thời về sự hiệp thông bí tích liên tôn?
- Ngoài giáo phái của bạn, còn giáo phái nào bạn thấy hấp dẫn nhất? Những gì của giáo phái ấy hấp dẫn bạn?
- Bạn thấy giáo phái bạn có những điểm gì hấp dẫn nhất?
- Phong trào đại kết quan trọng thế nào đối với cá nhân bạn?

|