THÔNG ĐIỆP
CARITAS IN VERITATE
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI
GỬI CÁC GIÁM MỤC
CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ
CÁC TU SĨ NAM NỮ
CÁC TÍN HỮU GIÁO DÂN
VÀ TẤT CẢ CÁC NGƯỜI THIỆN CHÍ
VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
TRONG BÁC ÁI VÀ TRONG CHÂN LÝ
DẪN NHẬP
1. Bác ái trong sự thật, mà Đức Giêsu Kitô đã làm chứng bằng cuộc sống trần gian của mình và nhất là bằng cái chết và sự phục sinh của Người, là động lực chính cho sự phát triển đích thực mọi người và toàn thể nhân loại. Tình Yêu - caritas - là một sức mạnh phi thường thúc đẩy con người lựa chọn sự dấn thân can đảm và quảng đại trong lĩnh vực công lý và hòa bình. Đó là một sức mạnh bắt nguồn từ Thiên Chúa, Tình Yêu Vĩnh Cửu và Sự Thật Tuyệt Đối. Mỗi người tìm thấy tính bản thiện của mình qua việc gắn bó với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mình, để thực hiện đầy đủ: trong kế hoạch này, họ tìm ra sự thật về mình, và bằng cách gắn bó với sự thật đó họ trở nên tự do (x. Ga 8,22). Bảo vệ sự thật, phát biểu sự thật với sự khiêm tốn và xác tín, và làm chứng cho sự thật trong cuộc sống, do đó, là các hình thức đòi buộc và không thể thiếu được của bác ái. Thực vậy, bác ái là “vui khi thấy sự chân thật” (1 Cr 13,6). Mọi người cảm thấy tự bên trong một sự bột phát yêu thương một cách chân thật, bởi vì đây là ơn goi Thiên Chúa gieo trồng trong lòng và trong tâm trí của mọi người. Việc tìm kiếm tình yêu và sự thật được Đức Giêsu Kitô thanh tẩy và giải phóng khỏi sự cùng quẫn của nó, và Người mạc khải đầy đủ cho ta sáng kiến tình yêu và kế hoạch về sự sống thật mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ta. Trong Đức Kitô, bác ái trong sự thật trở thành Khuôn Mặt của Người, một ơn gọi mời ta yêu thương anh chị em mình trong chân lý của kế hoạch của Người. Thật vậy, chính Người là chân lý (x. Ga 14,6).
2. Bác ái là tâm điểm học thuyết xã hội của Hội Thánh. Mọi trách nhiệm và dấn thân mà học thuyết đó kêu gọi đều bắt nguồn từ tình yêu mà, theo giáo huấn của Đức Giêsu, là sự tóm lược toàn thể Lề Luật (x. Mt 22,36-40). Bác ái đem lại thực chất cho mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa và với người gần bên; bác ái là nguyên tắc không những của các quan hệ vi mô (với bạn bè, các thành viên trong gia đình hoặc trong những nhóm nhỏ) mà còn là của những quan hệ vĩ mô (xã hội, kinh tế và chính trị). Đối với Hội Thánh, thấm nhuần giáo huấn Phúc Âm, tình yêu là tất cả bởi vì, theo Thánh Gioan dạy (x. 1 Ga 4,8, 16) và như tôi nhớ lại trong Thông điệp đầu tiên của tôi, “Thiên Chúa là tình yêu” (Deus Caritas Est): mọi sự đều bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa, mọi sự được định hình bởi chính tình yêu đó, mọi sự đều hướng về tình yêu đó. Tình yêu là món quà lớn nhất Thiên Chúa tặng nhân loại, là lời hứa của Người và hy vọng của ta.
Tôi ý thức rằng có những phương thức trong đó bác ái đã và đang tiếp tục bị hiểu lầm và bị tước đoạt ý nghĩa, hệ quả là có nguy cơ bác ái bị giải thích sai, tách khỏi cụôc sống luân lý và, trong mọi trường hợp, bị đánh giá thấp. Trong các lĩnh vực xã hội, pháp luật, văn hóa, chính trị và kinh tế – nói cách khác, trong các bối cảnh dễ bị phơi nhiễm nhất trước nguy cơ này – có không hiếm trường hợp bác ái không diễn giải và định hướng được trách nhiệm luân lý. Do đó phát sinh nhu cầu liên kết bác ái với chân lý không những theo hướng mà Thánh Phaolô đã chỉ ra, là chiều hướng veritas in caritate (Ep 4,15), nhưng còn theo chiều ngược lại và mang tính bổ sung, đó là chiều hướng caritas in veritate. Chân lý cần được tìm kiếm, khám phá và diễn tả trong “nhiệm cục” bác ái, nhưng bác ái đến lượt mình, cũng cần được hiểu biết, khẳng định và thực hành trong ánh sáng của chân lý. Theo phương thức này, ta không những phục vụ bác ái được soi sáng bởi chân lý, nhưng ta còn góp phần đem lại tính khả tín cho chân lý, bằng cách chứng tỏ năng lực thuyết phục và chứng thực của chân lý trong bối cảnh cụ thể của cuộc sống xã hội. Đây là một vấn đề không nhỏ ngày nay, trong bối cảnh xã hội và văn hóa đang tương đối hóa chân lý, ít quan tâm đến chân lý và có thái độ ngần ngại, lẩn tránh chân lý.
3. Thông qua mối liên kết chặt chẽ này với chân lý, bác ái có thể được nhìn nhận như một sự diễn tả chân chính về nhân tính và như một yếu tố có tầm quan trọng cơ bản trong các quan hệ con người, bao gồm cả bình diện công cộng. Chỉ có ở trong chân lý thì bác ái mới chiếu sáng, chỉ có trong chân lý thì bác ái mới thực sự sống. Chân lý là ánh sáng mang lại ý nghĩa và giá trị cho bác ái. Ánh sáng đó vừa là ánh sáng lý trí vừa là ánh sáng đức tin, qua đó lý trí đạt đến chân lý tự nhiên và siêu nhiên của bác ái: lý trí nắm bắt ý nghĩa của bác ái như quà tặng, sự đón nhận, và hiệp thông. Không có chân lý, bác ái suy thoái và trở thành cảm tính. Tình yêu trở thành một cái vỏ trống rỗng, được lấp đầy một cách tùy tiện. Trong một nền văn hóa không có chân lý, có cái nguy cơ chết người đang đối đầu với tình yêu. Tình yêu làm mồi cho các cảm xúc và ý kiến nông nổi chủ quan của con người, từ "tình yêu" bị lạm dụng và méo mó, đến mức trở nên một thuật ngữ mang ý nghĩa trái ngược. Chân lý giải phóng tình yêu khỏi các chật hẹp gò bó của một thứ chủ nghĩa duy cảm lấy đi của tình yêu các nội dung tương quan và xã hội, và khỏi một thứ duy tín thuyết lấy đi của tình yêu khoảng không gian để thở của con người và vũ trụ. Trong chân lý, tình yêu phản ánh đồng thời cả chiều kích cá nhân lẫn chiều kích đại đồng của niềm tin vào Thiên Chúa của Kinh Thánh, Đấng vừa là Agápe và Lógos: Bác Ái và Chân lý, Tình Yêu và Lời.
4. Vì tình yêu đầy tràn chân lý, nên con người có thể hiểu được tình yêu trong sự sung mãn, có thể chia sẻ và thông truyền, các giá trị của tình yêu. Chân lý, thực ra, là lógos (lời) tạo nên diá-logos (đối thoại), và do đó sự thông truyền và hiệp thông. Bằng cách giúp con người bỏ đi các ý kiến và ấn tượng chủ quan, chân lý cho phép họ đi quá những giới hạn văn hóa và lịch sử và cùng gặp nhau trong sự đánh giá giá trị và bản chất của sự vật. Chân lý khai mở và liên kết tâm trí ta với lógos của tình yêu: đây là lời công bố và chứng tá Kitô giáo về bác ái. Trong bối cảnh xã hội và văn hóa hiện tại, có xu hướng đang tương đối hóa chân lý, việc thực hành bác ái trong chân lý giúp người ta hiểu rằng việc gắn bó với các giá trị Kitô giáo không những có ích mà còn là điều cốt yếu để xây dựng một xã hội tốt đẹp và phát triển đích thực con người toàn diện. Một Kitô giáo chủ trương bác ái mà không có chân lý thì gần như đồng nghĩa với một mớ các tình cảm tốt đẹp, có ích cho sự gắn kết trong xã hội, nhưng ít có liên quan. Nói cách khác, sẽ không còn nơi đích thực nào cho Thiên Chúa trên thế giới. Không có chân lý, bác ái bị cầm giữ trong một không gian chật hẹp và nghèo nàn các tương quan. Trong cuộc đối thoại giữa kiến thức và thực hành, bác ái bị loại trừ khỏi các kế hoạch và quá trình thúc đẩy sự phát triển con người mang tầm vóc hoàn cầu.
5. Bác ái là tình yêu được đón nhận và trao ban. Bác ái là “ân sủng” (cháris). Nguồn của bác ái là tình yêu của Chúa Cha dành cho Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Bác ái là tình yêu từ Chúa Con tuôn xuống đến với ta. Bác ái là tình yêu sáng tạo, từ tình yêu này ta hiện hữu; bác ái là tình yêu cứu chuộc, nhờ tình yêu này ta được tái tạo. Tình yêu được mạc khải và hiện thực bởi Đức Kitô (x. Ga 13,1) và “đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần” (Rm 5,5). Là đối tượng tình yêu của Thiên Chúa, con người trở nên các chủ thể của bác ái, được kêu gọi trở thành các công cụ của ân sủng, để tuôn trào bác ái của Thiên Chúa và để dệt nên những mạng bác ái.
Tính năng động này của bác ái được đón nhận và trao ban đã làm phát sinh giáo huấn xã hội của Hội Thánh, là caritas in veritate in re sociali: lời công bố chân lý tình yêu của Đức Kitô trong xã hội. Học thuyết này là một sự phục vụ cho bác ái, nhưng phục vụ trong chân lý. Chân lý giữ gìn và diễn tả quyền lực giải phóng của bác ái trong các sự kiện lịch sử không ngừng đổi mới. Đồng thời chân lý vừa là chân lý của đức tin vừa là chân lý của lý trí, cả hai phương thế nhận thức này vừa phân biệt vừa gặp gỡ nhau. Phát triển, phúc lợi xã hội, việc tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho các vấn đề kinh tế-xã hội trầm trọng đang đè nặng lên nhân loại, tất cả đều cần chân lý này. Điều cần hơn, là chân lý này phải được yêu mến và chứng thực. Không có chân lý, không có sự tín nhiệm và tình yêu đối với những gì là đích thực thì không có lương tâm và trách nhiệm xã hội, và các hành động xã hội chẳng qua rồi cũng kết thúc ở chỗ phục vụ lợi ích cá nhân và lô-gích của quyền lực, đem lại sự phân hóa xã hội, nhất là trong một xã hội toàn cầu hóa vào thời điểm khó khăn như lúc này.
6. “Caritas in veritate” là nguyên tắc xây dựng nên học thuyết xã hội của Hội Thánh, một nguyên tắc hành động theo các tiêu chí định hướng cho hành động luân lý. Tôi muốn xem xét cách riêng hai trong số những tiêu chí này, có liên quan đặc biệt đến sự dấn thân vì sự phát triển trong một xã hội ngày càng toàn cầu hóa: công lý và công ích.
Trước hết, công lý. Ubi societas, ibi ius: mọi xã hội đều đề ra hệ thống công lý của riêng mình. Bác ái đi quá công lý, bởi vì yêu là cho đi, là dâng hiến những gì là “của tôi” cho người khác; không bao giờ được thiếu công lý, chính công lý thúc đẩy ta cho người khác cái gì là “của họ”, cái gì thuộc về họ do thực hữu hoặc hành động của họ. Tôi không thể “cho” cái gì của tôi cho người khác, mà trước hết không cho người đó cái gì thuộc về người đó theo lẽ công bằng. Nếu ta yêu tha nhân bằng tình bác ái, thì trước hết ta phải công bằng với họ. Không những công bằng không ở bên ngoài bác ái, không những công bằng không là một lựa chọn khác hoặc con đường song song với bác ái: công bằng không thể tách khỏi bác ái [1], và ở bên trong bác ái. Công bằng là đường lối bác ái hàng đầu hoặc, theo ngôn từ của Đức Phaolô VI, “tiêu chuẩn tối thiểu” của bác ái [2], một bộ phận hợp thành không thể tách rời của tình yêu “trong việc làm và trong sự thật” (1 Ga 3,18), mà Thánh Gioan khuyến nhủ chúng ta. Một mặt, bác ái có những yêu sách đối với công bằng: bác ái đòi phải nhìn nhận và tôn trọng các quyền chính đáng của cá nhân và các dân tộc. Bác ái nỗ lực xây dựng đô thành dưới đất theo pháp luật và công lý. Mặt khác, bác ái nâng cao công lý và hoàn tất công lý trong lô-gích của sự cho đi và tha thứ [3]. Đô thành dưới đất được đề cao không nguyên bởi các quan hệ về quyền lợi và nhiệm vụ, nhưng trong mức độ còn lớn hơn và cơ bản hơn bằng các quan hệ nhưng không, thương xót và hiệp thông. Bác ái luôn luôn thể hiện tình yêu của Thiên Chúa trong các quan hệ của con người nữa, bác ái đưa ra giá trị thần học và cứu độ cho mọi dấn thân cho công lý trên thế giới.
7. Một sự xem xét quan trọng khác là công ích. Yêu ai là mong muốn điều tốt cho người đó và thực hiện các bước có hiệu quả để đảm bảo điều đó. Ngoài điều thiện hảo của cá nhân, có một điều tốt có liên quan đến cuộc sống trong xã hội: công ích. Đó là điều tốt của “tất cả chúng ta”, bao gồm các cá nhân, gia đình và những nhóm trung gian cùng nhau làm thành xã hội [4]. Đó là một sự thiện được tìm kiếm không phải vì bản thân nó, nhưng cho những người thuộc cộng đồng xã hội và có thể theo đuổi hữu hiệu điều tốt trong đó. Mong muốn công ích và cố gắng hướng đến công ích là một yêu cầu của công lý và bác ái. Có lập trường ủng hộ công ích là một mặt chăm lo, và mặt khác dùng các định chế cấu thành đời sống xã hội, về mặt pháp luật, dân sự, chính trị và văn hóa, làm thành pólis, hoặc “đô thành”. Ta càng cố gắng theo đuổi công ích tương ứng với các nhu cầu thực của người gần bên ta, thì ta càng yêu họ hữu hiệu hơn. Mọi Kitô hữu được kêu gọi thực hành đức bác ái này, theo phương thức đáp ứng ơn gọi của mình và theo mức độ người đó phục vụ pólis. Đây là con đường định chế – ta cũng có thể gọi đó là con đường chính trị – của bác ái, con đường tuyệt vời và hữu hiệu không thua kém hình thức bác ái tiếp xúc trực tiếp với người gần bên, bên ngoài trung gian định chế của pólis. Khi được bác ái làm sinh động, việc dấn thân cho công ích có giá trị lớn hơn một lập trường thế tục và chính trị. Như mọi dấn thân cho công bằng, công ích được ghi khắc trong sự làm chứng cho bác ái thần linh chuẩn bị cho sự vĩnh cửu qua hành động trần thế. Hoạt động trần thế của con người, khi được gợi hứng và nâng đỡ bởi bác ái, đóng góp vào việc xây dựng đô thành của Thiên Chúa trên hoàn vũ là mục tiêu của lịch sử gia đình nhân loại. Trong một xã hội toàn cầu hóa ngày càng tăng, công ích và nỗ lực đạt đến công ích không thể không đảm nhận các chiều kích của toàn thể gia đình nhân loại, nghĩa là, cộng đồng các dân tộc và các nước [5], để xây dựng đô thành dưới đất trong sự thống nhất và hòa bình, đem lại trong một chừng mực nào đó một sự tiên báo và tiên trưng về đô thành Thiên Chúa không biên thùy.
8. Năm 1967, khi phát hành Thông điệp Phát Triển Các Dân Tộc, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo hoàng Phaolô VI, đã làm rõ chủ đề lớn về sự phát triển các dân tộc với vẻ huy hoàng của chân lý và ánh sáng dịu hiền bác ái của Đức Kitô. Ngài dạy rằng đời sống trong Đức Kitô là nhân tố đầu tiên và chính yếu của sự phát triển [6] và ngài giao phó cho chúng ta công việc tiến bước trên con đường phát triển với tất cả tấm lòng và trí khôn của chúng ta [7], nghĩa là với nhiệt tình bác ái và sự khôn ngoan của chân lý. Đó là chân lý nguyên thủy về tình yêu của Thiên Chúa, ân sủng ban tặng trên ta, giúp cuộc sống của ta mở ra cho quà tặng và khiến ta có thể hy vọng về một “sự phát triển toàn thể và toàn bộ mọi người” [8] để hy vọng về sự tiến bộ “từ những điều kiện kém nhân bản đến những điều kiện nhiều tính nhân bản hơn” [9], đạt được bằng cách vượt qua các khó khăn tất yếu phải đương đầu suốt dọc đường đi.
Hơn bốn mươi năm sau ngày phát hành Thông điệp này, tôi có ý định tưởng nhớ và vinh danh Đức Giáo hoàng Phaolô VI vĩ đại, khi trở lại với giáo huấn của ngài về phát triển con người toàn diện và đặt mình trên con đường mà giáo huấn đó đã vạch ra, nhằm áp dụng vào hiện tại. Tiến trình áp dụng vào hoàn cảnh hiện tại đã bắt đầu với Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, qua đó Tôi Tớ Thiên Chúa Gioan Phaolô II đã muốn kỷ niệm hai mươi năm ngày ban hành Thông điệp Populorum Progressio. Cho đến thời điểm đó, chỉ có Rerum Novarum là được tưởng niệm theo cách này. Nay hai mươi năm nữa cũng trôi qua, tôi xác tín rằng Populorum Progressio đáng được xem là “Rerum Novarum của thời hiện đại”, thông điệp này chiếu ánh sáng trên cuộc hành trình của nhân loại đang hướng đến hiệp nhất.
9. Tình yêu trong chân lý – caritas in veritate– là một thách thức lớn cho Hội Thánh trong một thế giới đang tiến hành toàn cầu hóa trên diện rộng. Nguy cơ của thời đại chúng ta là tình trạng liên thuộc trong thực tế đã diễn ra giữa người với người và giữa các dân tộc với nhau đang khi sự tương tác đạo đức của các lương tâm và các trí tuệ thì lại chưa làm xuất hiện sự phát triển con người đích thực. Chỉ có trong bác ái, được chiếu sáng bằng ánh sáng lý trí và đức tin, mới có thể theo đuổi các mục tiêu phát triển mang giá trị nhân đạo và nhân bản hơn. Việc chia sẻ của cải và tài nguyên, từ đó có thể đưa đến sự phát triển đích thực, không được bảo đảm đơn thuần chỉ bằng các tiến bộ kỹ thuật và các quan hệ thuận lợi, nhưng bằng chính sức mạnh đầy tiềm năng của tình yêu lấy thiện thắng ác (x. Rm 12,21), mở ra con đường dẫn đến sự tương hỗ giữa lương tâm và tự do.
Hội Thánh không có các giải pháp kỹ thuật để đề nghị [10] và không tính “can thiệp về bất kỳ phương diện nào vào việc chính trị của Nhà Nước.” [11] Tuy nhiên, Hội Thánh có sứ mạng chân lý phải chu toàn, vào mọi thời và trong mọi hoàn cảnh, vì một xã hội tôn trọng con người, tôn trọng phẩm giá con người, tôn trọng ơn gọi của con người. Thiếu vắng chân lý, người ta rất dễ rơi vào một nhân sinh quan thực dụng và hoài nghi, không thể tự nâng bản thân mình lên chỗ thực hiện, bởi vì thiếu quan tâm nắm bắt các giá trị – đôi khi ngay cả các ý nghĩa – nhờ đó giúp họ biết phán đoán và định hướng nhân sinh quan. Trung thành với con người đòi hỏi phải trung thành với chân lý, chỉ có trung thành như thế mới là sự bảo đảm cho tự do (x. Ga 8,32) và bảo đảm cho khả năng phát triển con người toàn diện. Vì lý do này Hội Thánh tìm kiếm chân lý, công bố chân lý một cách không mỏi mệt và nhìn nhận chân lý ở bất kỳ nơi nào chân lý tỏ hiện. Sứ mạng phục vụ chân lý này là điều Hội Thánh không bao giờ từ bỏ. Học thuyết xã hội của Hội Thánh là một chiều kích đặc thù của sự công bố này: chính việc phụng sự cho chân lý sẽ giải thoát chúng ta. Mở ra để đón chân lý, dù chân lý xuất phát từ bất kỳ ngành nào, học thuyết xã hội của Hội Thánh đón nhận chân lý, lắp ráp các mảnh chân lý tìm được thành một chỉnh thể thống nhất và đưa vào cuộc sống không ngừng thay đổi của xã hội con người và các dân tộc [12].
CHƯƠNG MỘT
SỨ ĐIỆP
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC
10. Việc đọc lại Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, hơn 40 năm sau ngày ban hành, mời gọi ta hãy trung thành với sứ điệp về bác ái và chân lý của Thông Điệp, một sứ điệp được nhìn xem trong bối cảnh toàn diện của huấn quyền cụ thể của Đức Phaolô VI, và tổng quát hơn, trong truyền thống học thuyết xã hội của Hội Thánh. Hơn nữa, cần thực hiện một cuộc thẩm định bằng những từ ngữ khác trong đó vấn đề phát triển được trình bày ngày nay, so với bốn mươi năm trước. Bởi thế, quan điểm đúng đắn là quan điểm Truyền Thống đức tin tông đồ [13], một gia sản vừa cũ vừa mới, bằng không Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc sẽ là một văn kiện thiếu cội rễ – và những vấn đề liên quan đến sự phát triển sẽ bị giảm thiểu xuống chỉ còn là những dữ kiện xã hội học.
11. Việc phát hành Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc diễn ra ngay sau khi bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, và tại các đoạn mở đầu, Thông Điệp nói rõ mối liên quan chặt chẽ với Công Đồng [14]. Hai mươi năm sau, trong Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, Đức Gioan Phaolô II, đến lượt ngài, đã nhấn mạnh đến mối liên quan tốt đẹp của Thông Điệp với Công Đồng, và nhất là với Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng” [15]. Tôi cũng muốn nhắc lại nơi đây tầm quan trọng của Công Đồng Chung Vaticanô II đối với Thông Điệp của Đức Phaolô VI cũng như đối với toàn thể Huấn Quyền xã hội sau đó của các vị Giáo Hoàng. Công Đồng đã khảo sát một cách sâu xa hơn những gì bao giờ cũng thuộc về chân lý của đức tin, nghĩa là Hội Thánh khi phục vụ Thiên Chúa là phục vụ thế giới trong tình yêu và chân lý. Đức Phaolô VI đã bắt đầu từ cái nhìn này để chuyển đạt hai sự thật quan trọng. Sự thật thứ nhất là toàn thể Hội Thánh, trong tất cả bản thể và hoạt động của mình – khi Hội Thánh công bố, khi Hội Thánh cử hành, khi Hội Thánh thực thi những công việc bác ái – đều dấn thân cổ vũ sự phát triển con người toàn diện. Hội Thánh đóng một vai trò công cộng vượt trên những hoạt động bác ái và giáo dục: tất cả mọi năng lực Hội Thánh mang lại phục vụ sự thăng tiến của nhân loại và tình huynh đệ đại đồng được thể hiện khi Hội Thánh có thể hoạt động trong một bầu khí tự do. Trong nhiều trường hợp, quyền tự do đó bị trở ngại bởi những ngăn cấm và bách hại, hoặc bị giới hạn khi sự hiện diện công cộng của Hội Thánh bị giảm thiểu vào những hoạt động bác ái của Hội Thánh mà thôi. Sự thật thứ hai là sự phát triển đích thực của con người có liên quan đến toàn thể con người trong từng chiều kích một [16]. Thiếu tầm nhìn về sự sống vĩnh cửu, tiến bộ con người trên thế giới này bị khước từ không gian để thở. Bị đóng khung trong lịch sử, có nguy cơ giảm thiểu trở thành sự tích lũy của cải mà thôi; nhân loại vì thế mất đi lòng can đảm phục vụ những thiện ích cao cả hơn, phục vụ những sáng kiến lớn và vô vị lợi mà đức bác ái phổ quát thôi thúc. Con người không chỉ phát triển bằng sức riêng của mình, và sự phát triển cũng không thể nào chỉ đơn thuần truyền lại cho họ. Theo giòng lịch sử, người ta thường chủ trương rằng việc xác lập các định chế là đủ để bảo đảm việc hoàn thành quyền phát triển của nhân loại. Tiếc thay, người ta đã đặt quá nhiều tin tưởng vào các định chế đó, như thể các định chế có thể tự động đem lại mục tiêu mơ ước ấy. Trong thực tế, định chế tự bản thân vẫn không đủ, bởi vì sự phát triển toàn diện con người trước tiên là một ơn gọi, và do đó giả định rằng tất cả mọi người đều tự nguyện đảm nhận trách nhiệm trong tình liên đới. Ngoài ra, sự phát triển đó đòi hỏi một cái nhìn siêu việt của con người, cần có Thiên Chúa: không có Người, sự phát triển hoặc là bị khước từ hoặc là được giao phó hoàn toàn cho con người, mà con người thì cho rằng mình có thể mang lại ơn cứu độ cho mình nhưng rốt cuộc lại cổ vũ một hình thức phát triển phi nhân bản hóa. Chỉ qua gặp gỡ Thiên Chúa, ta mới có thể thấy nơi người khác một điều gì đó không phải chỉ là một tạo vật khác [17], nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi người khác, nhờ đó thực sự tiến đến chỗ khám phá ra họ và trưởng thành trong một tình yêu “trở nên sự quan tâm và chăm sóc cho người khác” [18].
12. Mối liên kết giữa Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc và Công Đồng Chung Vaticanô II không có nghĩa là huấn quyền xã hội của Đức Phaolô VI đánh dấu một sự phân ly với giáo huấn của các vị Giáo Hoàng trước, vì Công Đồng đào sâu hơn huấn quyền này trong sự liên tục của đời sống Hội Thánh [19]. Theo nghĩa này, một vài sự phân chia trừu tượng nào đó về học thuyết xã hội của Hội Thánh ngày nay được đề nghị, đã không góp phần làm rõ vấn đề, bởi vì các sự phân chia đó đem áp dụng vào giáo huấn xã hội của các Giáo hoàng các tiêu chuẩn xa lạ đối với giáo huấn. Đây không phải là trường hợp có hai loại học thuyết xã hội khác nhau, một học thuyết trước công đồng và một học thuyết sau công đồng; trái lại, chỉ có một giáo huấn duy nhất, mạch lạcvà đồng thời luôn luôn mới [20]. Hẳn rằng ta có thể chú ý đến những tính chất riêng của thông điệp này hay thông điệp kia, giáo huấn này hay giáo huấn kia của vị Giáo Hoàng này hay vị Giáo Hoàng nọ, nhưng không bao giờ được đánh mất tính mạch lạc của toàn thể học thuyết [21]. Mạch lạc không có nghĩa là khép kín, đúng hơn, trung thành năng động với một ánh sáng lãnh nhận. Học thuyết xã hội của Hội Thánh bằng một ánh sáng bất biến chiếu soi những vấn đề luôn luôn mới đang xuất hiện [22]. Điều này bảo toàn tính thường xuyên lẫn tính lịch sử của “gia tài” học thuyết [23], với những tính chất đặc thù của mình, là một bộ phận của Truyền Thống luôn sống động trong Hội Thánh [24]. Học thuyết xã hội được xây dựng trên nền tảng do các Tông Đồ truyền lại cho các Giáo Phụ, sau đó được các vị đại tiến sĩ của Kitô giáo tiếp thu và đào sâu thêm. Học thuyết này hướng đến Con Người Mới, đến “Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1 Cr 15,45), nguyên lý của đức ái “không bao giờ mất được” (1 Cr 13,8). Học thuyết được chứng thực bởi các thánh và bởi những ai hiến đời mình cho Đức Kitô Chúa Cứu Thế của chúng ta trong lãnh vực công lý và hòa bình. Học thuyết thể hiện sứ vụ ngôn sứ của các vị Giáo Hoàng: hướng dẫn Hội Thánh Chúa Kitô trên cương vị tông đồ và phân định các đòi hỏi mới của công cuộc Phúc Âm hóa. Vì các lý do này, Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, nằm trong giòng chảy lớn của Truyền Thống, vẫn còn đang nói với ta ngày hôm nay.
13. Ngoài kết nối quan trọng với toàn thể học thuyết xã hội của Hội Thánh, Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc còn liên hệ chặt chẽ với toàn thể huấn quyền của Đức Phaolô VI, nhất là huấn quyền xã hội của ngài. Giáo huấn xã hội của ngài chắc chắn là một giáo huấn xã hội có tầm quan trọng lớn lao: ngài nhấn mạnh tầm quan trọng không thể thiếu của Phúc Âm trong việc xây dựng một xã hội trong tự do và công lý, trong viễn tượng lý tưởng và lịch sử của một nền văn minh được sinh động bởi tình yêu. Đức Phaolô VI rõ ràng hiểu rằng vấn đề xã hội đã trở thành toàn cầu [25] và ngài đã nắm bắt được mối tương liên giữa cái động lực hướng đến sự hiệp nhất nhân loại và lý tưởng Kitô giáo về một gia đình các dân tộc trong tình liên đới và huynh đệ. Theo quan niệm về sự phát triển, được hiểu bằng từ ngữ của nhân loại và Kitô giáo, ngài đã nhận diện ra tâm điểm sứ điệp xã hội của Hội Thánh, và ngài đã lấy bác ái Kitô giáo làm sức mạnh chính yếu để phục vụ phát triển. Được tác động bởi ước muốn làm cho tình yêu của Chúa Kitô hoàn toàn trở thành hữu hình với con người thời đại, Đức Phaolô VI đã bàn giải các vấn đề luân lý quan trọng một cách mạnh mẽ, không chiều theo các nhược điểm văn hóa của thời đại ngài.
14. Trong Tông Thư Octogenima Adveniens năm 1971, Đức Phaolô VI đã suy tư về ý nghĩa của chính trị và mối nguy hiểm tạo ra bởi các tầm nhìn không tưởng và mang tính ý thức hệ khiến cho các chiều kích đạo đức và nhân bản của chính trị bị đe dọa. Đây là các vấn đề có liên hệ chặt chẽ với sự phát triển. Chẳng may, các ý thức hệ tiêu cực vẫn tiếp tục lan tràn. Đức Phaolô VI đã cảnh báo về ý thức hệ kỹ trị rất thịnh hành ngày nay [26], hoàn toàn ý thức nguy hiểm lớn của việc trao phó toàn bộ tiến trình phát triển cho một mình công nghệ, bởi vì như thế sẽ thiếu hướng đi. Công nghệ, xét tự bản chất, có tính chất hai mặt. Một mặt, nếu một số người hôm nay có xu hướng trao phó tất cả tiến trình phát triển cho công nghệ, thì mặt khác, ta đang chứng kiến một sự bột phát các ý thức hệ chối bỏ hoàn toàn chính giá trị của sự phát triển, xem phát triển tận gốc rễ là phản nhân bản và chỉ là nguồn gốc của sự suy thoái. Điều này dẫn đến chỗ phủ nhận, chẳng những đường lối méo mó và bất chính trong đó đôi khi tiến bộ được hướng dẫn, mà còn cả chính những khám phá khoa học, những khám phá mà, nếu sử dụng tốt, cũng có thể trở thành một cơ hội tăng trưởng cho tất cả. Ý tưởng về một thế giới không phát triển cho thấy một sự thiếu niềm tin vào con người và vào Thiên Chúa. Bởi thế, sẽ là một sai lầm trầm trọng nếu đánh giá thấp khả năng của con người kiềm chế những sai chệch của phát triển hoặc bỏ qua sự kiện là con người tự bản chất hướng về “cái hơn nữa”. Lý tưởng hóa tiến bộ kỹ thuật, hoặc mơ ước điều không tưởng là trở về với tình trạng tự nhiên nguyên thủy của con người, là hai phương thức tương phản, nhưng đều tách biệt sự tiến bộ khỏi sự đánh giá luân lý của nó và bởi đó khỏi cả trách nhiệm của ta.
15. Có thêm hai văn kiện của Đức Phaolô VI không trực tiếp liên quan đến học thuyết xã hội - Thông Điệp Sự Sống Con Người (25 tháng 7 năm 1968) và Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm (8 tháng 12 năm 1975), rất quan trọng trong việc xác định trọn vẹn ý nghĩa nhân bản của sự phát triển mà Hội Thánh đề nghị. Bởi thế, cần phải lưu ý đến hai văn kiện này trong tương quan với Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc.
Thông Điệp Sự Sống Con Người nhấn mạnh cả ý nghĩa duy nhất lẫn truyền sinh của tính dục, qua đó, đặt tại nền tảng của xã hội đôi phối ngẫu, một nam một nữ, chấp nhận lẫn nhau, trong sự khác biệt và bổ sung: một cặp vợ chồng, do đó, mở ra cho sự sống [27]. Đây không phải là vấn đề thuần túy luân lý cá nhân: Thông Điệp Sự Sống Con Người cho thấy những liên hệ mạnh mẽ giữa luân lý sự sống với luân lý xã hội, mở ra một lãnh vực mới của giáo huấn của huấn quyền là những điều dần dần đã được trình bày trong hàng loạt văn kiện, mới nhất là Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống [28] của Đức Gioan Phaolô II. Hội Thánh mạnh mẽ đề xuất mối liên kết này giữa luân lý sự sống và luân lý xã hội, nhận thức đầy đủ rằng “một xã hội thiếu những nền tảng vững chắc, khi mà, một mặt xác nhận những giá trị như phẩm giá con người, công lý và hòa bình, nhưng rồi, mặt khác, lại hành động trái lại một cách căn cơ bằng việc cho phép hay dung túng các hình thức khác nhau xem thường và vi phạm sự sống con người, nhất là khi đó là sự sống của con người yếu đuối hoặc bị cho ra ngoài lề” [29]
Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm, về phần mình, gắn rất chặt với sự phát triển, ở chỗ, như Đức Phaolô VI nói: “việc Phúc Âm hóa sẽ không hoàn hảo nếu không để ý đến những liên hệ cụ thể và thường xuyên giữa Phúc Âm và đời sống cụ thể của con người, cả đời sống cá nhân lẫn xã hội” [30]. “Giữa việc Phúc Âm hóa và việc thăng tiến con người – phát triển và giải phóng – có những mối liên hệ sâu xa thực sự” [31]: trên căn bản của sự nhận thức này, Đức Phaolô VI trình bày rõ ràng mối liên hệ giữa việc loan báo Đức Kitô và sự thăng tiến cá nhân trong xã hội. Chứng từ cho đức ái của Chúa Kitô, qua các hoạt động về công lý, hòa bình và phát triển, là một bộ phận hợp thành của công cuộc Phúc Âm hóa, vì Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương chúng ta, quan tâm đến toàn thể con người. Những giáo huấn quan trọng này hình thành cơ sở cho khía cạnh truyền giáo [32] của học thuyết xã hội của Hội Thánh, là một yếu tố thiết yếu của việc Phúc Âm hóa [33]. Học thuyết xã hội của Hội Thánh rao truyền và làm chứng cho đức tin. Học thuyết là một công cụ và một khung cảnh không thể thiếu được cho việc đào tạo đức tin.
16. Trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, Đức Phaolô VI dạy rằng tiến bộ, trong nguồn gốc và yếu tính của nó, trước hết và trên hết, là một ơn gọi: “theo ý định của Thiên Chúa, mọi người được kêu gọi phát triển và thành toàn bản thân, vì mọi đời sống là một ơn gọi” [34]. Chính điều này cho phép Hội Thánh tham gia vào tất cả vấn đề phát triển. Nếu phát triển chỉ liên quan đến các khía cạnh thuần túy kỹ thuật của đời sống con người, chứ không phải ý nghĩa cuộc hành hương của con người qua giòng lịch sử cùng với đồng loại của mình, hay không nhận ra mục tiêu của cuộc hành trình ấy, thì Hội Thánh sẽ không có quyền nói về vấn đề đó. Cũng như Đức Lêô XIII trước ngài trong Thông Điệp Tân Sự [35], Đức Phaolô VI ý thức rằng ngài chu toàn một nhiệm vụ của mình là đem ánh sáng Phúc Âm chiếu vào các vấn đề xã hội của thời đại ngài [36].
Xem phát triển là một ơn gọi là nhìn nhận, một mặt, phát triển xuất phát từ một tiếng gọi siêu việt, và mặt khác, phát triển không tự đem lại cho mình ý nghĩa tối hậu. Không phải vô tình mà chữ “ơn gọi” cũng được xuất hiện ở một đoạn khác của Thông Điệp, trong đó ta đọc: “Một nền nhân bản đích thực chỉ có thể là một nền nhân bản hướng đến Đấng Tuyệt Đối và ý thức về một ơn gọi mang lại cho đời sống con người ý nghĩa đích thực” [37]. Tầm nhìn về sự phát triển này là tâm điểm của Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc và chi phối tất cả các suy tư của Đức Phaolô VI về tự do, về sự thật và về bác ái trong vấn đề phát triển. Đó cũng là lý do chính cho thấy tại sao Thông Điệp vẫn còn hợp với thời đại chúng ta.
17. Ơn gọi là một mời gọi đòi hỏi một lời đáp tự do và có trách nhiệm. Sự phát triển con người toàn diện giả định quyền tự do một cách có trách nhiệm của cá nhân và của các dân tộc: không có một cấu trúc nào có thể bảo đảm sự phát triển này vượt lên trên và ở trên trách nhiệm của con người. “Các loại chủ trương cứu thế đưa ra những hứa hẹn nhưng tạo nên những ảo ảnh” [38] bao giờ cũng xuất hiện ở chỗ chối bỏ chiều kích siêu việt của sự phát triển, cho rằng sự phát triển hoàn toàn nằm trong tay của họ. Thứ bảo đảm giả hiệu này trở thành một nhược điểm vì biến con người trở nên lệ thuộc quỵ lụy, thành một phương tiện thuần túy cho sự phát triển, trong khi đó lòng khiêm nhượng của những ai chấp nhận ơn gọi lại được chuyển thành sự tự chủ thực sự, bởi vì làm cho họ được tự do. Đức Phaolô VI không chút hồ nghi về các trở ngại và những hình thức điều kiện hóa kềm hãm phát triển, thế nhưng ngài cũng tin tưởng rằng “mỗi người, dù các ảnh hưởng tác động nơi họ thế nào đi nữa, vẫn là tác nhân chính yếu cho sự thành bại của họ” [39]. Sự tự do này liên quan đến loại hình phát triển ta đang xem xét, nhưng cũng ảnh hưởng đến các tình trạng của vấn đề chậm phát triển đang diễn ra không do tình cờ hay do tính tất yếu của lịch sử, mà là do trách nhiệm của con người. Đây là lý do tại sao “các dân tộc đang đau khổ vì đói kém kêu gọi khẩn thiết các dân tộc giàu có” [40]. Điều này nữa cũng là một ơn gọi, một lời mời gọi được những chủ thể tự do ngỏ cùng các chủ thể tự do khác liên quan đến vấn đề đảm nhận trách nhiệm chung. Đức Phaolô VI đã có một cảm quan sắc bén về tầm quan trọng của những cấu trúc và tổ chức kinh tế, nhưng ngài cũng có một cảm quan không kém rõ ràng về bản chất của chúng như những công cụ của tự do con người. Chỉ khi nào có tự do thì phát triển mới có tính nhân bản toàn diện; chỉ khi nào có một bầu khí của tự do một cách có trách nhiệm thì phát triển mới gia tăng một cách thỏa đáng.
18. Ngoài đòi hỏi quyền tự do, sự phát triển con người toàn diện với tính cách một ơn gọi cũng đòi phải tôn trọng sự thật nữa. Ơn gọi vươn tới sự tiến bộ thúc đẩy ta “làm nhiều hơn, biết nhiều hơn và có nhiều hơn để là nhiều hơn” [41]. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là: “hơn” nghĩa là gì? Đức Phaolô VI đã trả lời câu hỏi này bằng cách nêu ra phẩm chất thiết yếu của sự phát triển “đích thực”: phát triển cần phải “toàn diện, nghĩa là, phải đem sự thiện hảo đến với con người toàn diện và tất cả mọi người” [42]. Giữa những quan niệm về con người đang cạnh tranh nhau trong xã hội ngày nay, thậm chí còn nhiều hơn cả thời của Đức Phaolô VI, cái nhìn Kitô giáo có điểm đặc thù là khẳng định và biện hộ cho giá trị vô điều kiện của con người và ý nghĩa của vấn đề phát triển con người. Ơn gọi Kitô giáo về vấn đề phát triển giúp thúc đẩy sự tiến bộ của tất cả mọi người và của con người toàn diện. Đức Phaolô VI viết: “Điều quan trọng đối với chúng ta là con người, mỗi người và mỗi nhóm người, và thậm chí bao gồm toàn thể nhân loại nữa” [43]. Khi thúc đẩy sự phát triển, đức tin Kitô giáo không cậy dựa vào đặc quyền hay vị trí quyền lực, thậm chí cũng không cậy dựa vào thành tích của các Kitô hữu (cho dù những điều này đã có và tiếp tục có bên cạnh các giới hạn tự nhiên) [44], nhưng chỉ dựa vào Chúa Kitô, Đấng mà mọi ơn gọi đích thực cho sự phát triển con người toàn diện cần phải quy về. Phúc Âm là nền tảng cho sự phát triển, bởi vì trong Phúc Âm, Chúa Kitô, “trong chính việc mạc khải về mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Chúa Cha, đã mạc khải cho nhân loại biết về họ” [45]. Nhờ Chúa chỉ dạy, Hội Thánh xem xét các dấu chỉ thời đại và giải thích, trình bày cho thế giới “những gì Hội Thánh có như thuộc tính đặc trưng của mình: một tầm nhìn toàn cầu về con người và về nhân loại” [46]. Chính xác vì Thiên Chúa nói lên tiếng “có” với con người [47] mà con người không thể không cởi mở trước ơn gọi thần linh theo đuổi sự phát triển của mình. Sự thật về phát triển bao gồm tính chất toàn diện của nó: nếu không bao gồm toàn bộ con người và mọi người, thì đó không phải là sự phát triển thực sự. Đó là sứ điệp trung tâm của Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, có hiệu lực cho ngày hôm nay và mọi thời đại. Sự phát triển toàn diện con người trên bình diện tự nhiên, như một đáp ứng ơn gọi từ Thiên Chúa Hóa Công [48], đòi hỏi sự thành toàn bản thân theo “chiều hướng nhân bản siêu việt cung hiến cho con người sự trọn hảo lớn nhất có thể có được: đây là mục tiêu cao nhất của sự phát triển bản thân con người” [49]. Thế nên, ơn gọi Kitô giáo hướng đến sự phát triển này áp dụng cho cả bình diện tự nhiên lẫn bình diện siêu nhiên; và đó là lý do tại sao “khi Thiên Chúa bị khuất lấp, khả năng của ta để nhận ra trật tự tự nhiên, mục đích và ‘sự thiện’ bắt đầu chao đảo” [50].
19. Sau hết, quan niệm về sự phát triển như ơn gọi còn đòi buộc bác ái phải là trọng tâm của sự phát triển đó. Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, đã vạch ra rằng các nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển chủ yếu không phải ở tại trật tự vật chất. Ngài mời gọi ta tìm kiếm những nguyên nhân này ở những chiều kích khác của con người: trước hết, trong ý chí, thường sao nhãng các nhiệm vụ của tình liên đới; kế đến là trong tư duy đã không định hướng đúng cho ý chí. Bởi thế, trong việc theo đuổi sự phát triển, cần phải có “những ý nghĩ sâu xa và suy tư của người khôn ngoan trong việc tìm kiếm một chiều hướng nhân bản mới, có thể giúp con người thời đại tìm lại được chính mình” [51]. Thế nhưng, đó vẫn chưa phải là tất cả. Tình trạng chậm phát triển còn do một nguyên nhân còn quan trọng hơn sự thiếu suy nghĩ, đó là “thiếu tình huynh đệ giữa các cá nhân và giữa các dân tộc” [52]. Con người có thể đạt được tình huynh đệ này bằng nỗ lực của mình hay không? Xã hội càng ngày càng đi đến toàn cầu hóa, khiến cho ta trở thành người lân cận nhưng chưa làm cho ta trở thành anh em của nhau. Lý trí tự nó có thể hiểu được sự bình đẳng giữa con người và xác lập đời sống dân sự ổn định, nhưng không thể tạo ra được tình huynh đệ. Điều này bắt nguồn từ ơn gọi siêu việt của Thiên Chúa là Cha, Đấng đã yêu thương ta trước, dạy bảo ta qua Người Con tình huynh đệ là gì. Trong việc trình bày các mức độ khác nhau trong tiến trình phát triển con người, sau khi đã đề cập đến đức tin, Đức Phaolô VI đã đặt ở tột đỉnh “mối hiệp nhất trong đức ái của Chúa Kitô, Đấng kêu gọi tất cả chúng ta hãy chia sẻ như những người con sự sống của Thiên Chúa hằng sống, Cha của mọi người” [53].
20. Những viễn cảnh này, mà Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc khai mở, vẫn là cơ bản mang lại không gian để thở và định hướng cho việc ta dấn thân phát triển các dân tộc. Ngoài ra, Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại nhu cầu khẩn thiết canh tân [54], và kêu gọi hãy can đảm hành động, đừng trì hoãn khi đối mặt với những vấn đề lớn về tình trạng bất công nơi sự phát triển các dân tộc. Sự khẩn thiết này cũng là một hệ quả của bác ái trong chân lý. Chính tình yêu Chúa Kitô thúc bách ta: “caritas Christi urget nos” (2 Cr 5,14). Sự khẩn thiết được ghi khắc không những ở nơi các sự việc, không chỉ xuất phát từ tình trạng nối tiếp nhanh chóng của các biến cố và những vấn đề, nhưng còn từ chính vấn đề đang quan tâm: sự thiết lập tình huynh đệ đích thực.
Tầm quan trọng của mục tiêu này đòi ta mở trí để nắm bắt sâu sắc mục tiêu và huy động bản thân ở mức “tấm lòng”, nhằm bảo đảm rằng các quy trình kinh tế và xã hội hiện nay sẽ đạt đến các thành quả đầy tính nhân bản.
CHƯƠNG HAI
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI CỦA CHÚNG TA
21. Đức Phaolô VI có một tầm nhìn rõ ràng về phát triển. Ngài hiểu thuật ngữ nói lên mục tiêu giải thoát các dân tộc, trước hết và trên hết, khỏi đói khổ, thiếu thốn, các dịch bệnh và tình trạng mù chữ. Về phương diện kinh tế, điều này nghĩa là các dân tộc chủ động tham gia, trong các điều kiện bình đẳng, vào đời sống kinh tế quốc tế; về phương diện xã hội, phát triển nghĩa là việc các dân tộc tiến hóa thành các xã hội có giáo dục và liên đới; về phương diện chính trị, phát triển nghĩa là củng cố các chế độ dân chủ có khả năng bảo đảm tự do và hòa bình. Sau bao nhiêu năm, trong khi ta quan sát với sự quan ngại diễn tiến và hậu quả của các cuộc khủng khoảng nối tiếp nhau trong thế giới ngày nay, ta tự hỏi các mong đợi của Đức Phaolô VI đã được đáp ứng đến mức độ nào bởi mô hình phát triển được thông qua trong các thập kỷ gần đây. Bởi thế, ta nhận thấy rằng Hội Thánh có lý do để quan ngại liệu một xã hội thuần túy công nghệ có khả năng đề ra các mục đích thực tiễn và luôn luôn biết điều khiển các phương tiện. Lợi nhuận là hữu ích nếu hướng đến một mục đích đem lại cho lợi nhuận một ý nghĩa cho cả phương thức sản sinh lợi nhuận lẫn phương thức sử dụng lợi nhuận. Một khi lợi nhuận trở thành mục đích duy nhất, nếu được tạo bởi phương tiện bất chính và không lấy công ích làm cứu cánh tối hậu, thì có nguy cơ là lợi nhuận sẽ hủy hoại cảnh giầu có và tạo nên cảnh nghèo khó. Sự phát triển kinh tế mà Đức Phaolô VI mong đợi là một tình trạng phát triển thực sự, có lợi cho mọi người và thực sự bền vững. Đúng là tăng trưởng đã diễn ra và tiếp tục là yếu tố tích cực đã đưa hàng tỷ người ra khỏi cảnh đói khổ – gần đây đã giúp cho nhiều nước có khả năng trở thành những đối tác hữu hiệu trên chính trường quốc tế. Tuy nhiên, phải nhận rằng sự tăng trưởng này đã và đang tiếp tục bị đè nặng bởi những hành động sai chức năng và các vấn đề bi thảm, càng nổi bật hơn trong cuộc khủng hoảng hiện nay. Điều này khiến ta không thể trì hoãn việc đối mặt với các lựa chọn liên quan chặt chẽ đến vận mệnh của con người, lại càng không thể không quan tâm đến bản tính của họ. Các lực lượng kỹ thuật tham gia, các mối tương liên toàn cầu, những tác động tai hại trên nền kinh tế thực gây ra bởi hoạt động tài chính bị điều hành tồi và phần lớn nhằm đầu cơ, tình trạng di dân trên quy mô lớn do một số hoàn cảnh cụ thể để rồi không được quan tâm cho đủ, việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên trái đất: tất cả đều dẫn ta hôm nay đến chỗ suy nghĩ về các biện pháp cần thiết để cung cấp một giải pháp cho những vấn đề chẳng những mới mẻ so với thời của Đức Phaolô VI, mà còn, và nhất là, có ảnh hưởng quyết định trên thiện ích của nhân loại trong hiện tại cũng như tương lai. Các khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng, các giải pháp, và bất kỳ sự phát triển mới nào mà tương lai có thể mang lại, đều liên quan nhiều hơn đến nhau, lệ thuộc vào nhau, đòi hỏi những cố gắng mới để nắm bắt toàn diện và một tổng luận mới về nhân bản. Tính phức tạp và trầm trọng của tình hình kinh tế hiện tại thực sự khiến ta quan ngại, nhưng ta phải chấp nhận một thái độ thực tế khi ta tin tưởng, chấp nhận và hy vọng các trách nhiệm mới mà ta được kêu gọi đón nhận trước viễn cảnh một thế giới cần đến một cuộc canh tân sâu xa về văn hóa, một thế giới đang cần tái khám phá những giá trị cơ bản để nhờ đó xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Cuộc khủng hoảng hiện nay bắt buộc ta phải hoạch định lại cuộc hành trình của ta, đề ra cho mình những quy luật mới và khám phá các hình thức mới của việc dấn thân, xây dựng trên những kinh nghiệm tích cực và loại bỏ những kinh nghiệm tiêu cực. Như thế cuộc khủng hoảng trở thành một cơ hội phân định, hình thành một tầm nhìn mới cho tương lai. Trên tinh thần này, với sự tin tưởng không thối chí, thật là thích hợp để nói đến các khó khăn hiện tại.
22. Ngày nay bức tranh phát triển có nhiều tầng lớp chồng lấn nhau. Các tác nhân và các nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển lẫn phát triển rất đa dạng, các lầm lỗi và công trạng cũng thế. Sự kiện này phải thúc giục ta tự giải phóng khỏi các ý thức hệ thường quá đơn giản hóa thực tại một cách giả tạo, và phải dẫn ta đến chỗ khách quan xem xét chiều kích nhân bản trọn vẹn của các vấn đề. Như Đức Gioan Phaolô II đã nhận định, lằn ranh giới giữa các nước giầu và nghèo không còn rõ ràng như thời của Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc [55]. Tài sản của thế giới đang gia tăng về trị số tuyệt đối, nhưng các tình trạng bất bình đẳng cũng đang gia tăng. Ở các nước giầu, những khu vực mới trong xã hội đang chìm vào cảnh nghèo và những hình thức nghèo mới đang xuất hiện. Tại các miền nghèo khổ có một số nhóm người đang hưởng tình trạng “siêu phát triển” mặc sức hoang phí tạo nên cảnh tương phản không thể chấp nhận được với cảnh thường xuyên thiếu thốn đau khổ một cách phi nhân. “Gương mù về những bất bình đẳng chói lòa” [56] đang tiếp tục diễn ra. Tham nhũng và tình trạng xem thường pháp luật tiếc thay đang hiển nhiên nơi cách hành xử của giới kinh tế và chính trị tại các nước giầu, cả cũ lẫn mới, cũng như ở các nước nghèo. Trong số đôi khi không tôn trọng các quyền con người của nhân viên làm việc là các công ty đa quốc gia cũng như các nhà sản xuất địa phương. Viện trợ quốc tế thường đi chệch các mục đích đúng đắn của nó, qua hành động vô trách nhiệm cả trong hệ thống của bên tặng cho lẫn hệ thống của người thụ hưởng. Tương tự như thế, theo những căn nguyên phi vật chất hoặc văn hóa của tình trạng phát triển và kém phát triển, ta cũng thấy xuất hiện cả những kiểu mẫu trách nhiệm này. Về phần các nước giầu, có sự nhiệt tình thái quá trong việc bảo vệ kiến thức bằng sự khẳng định cứng nhắc một cách thiếu chính đáng về quyền sở hữu trí tuệ, nhất là trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, ở một số nước nghèo, các mô hình văn hóa và các chuẩn mực ứng xử xã hội tiếp diễn cản trở tiến trình phát triển.
23. Nhiều khu vực toàn cầu ngày nay đã biến chuyển một cách đáng kể, mặc dù không rõ rệt và khác biệt, nhờ đó chiếm được chỗ đứng của mình giữa các đại cường sẽ đóng vai trò quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng nếu chỉ tiến bộ về kinh tế và công nghệ thì không đủ. Trên hết, sự phát triển cần phải đích thực và toàn diện. Việc vươn lên khỏi tình trạng tụt hậu kinh tế, mặc dù tích cực, cũng không giải quyết được những vấn đề phức tạp liên quan đến sự tiến bộ của con người, cho những nước được hưởng những thành quả của tiến bộ, những nước đã phát triển về kinh tế, hoặc thậm chí những nước còn nghèo, những nước chịu khổ chẳng những bởi các hình thức bóc lột xưa mà còn bởi các hậu quả tiêu cực của một sự tăng trưởng chệch hướng và bấp bênh.
Sau sự sụp đổ các hệ thống kinh tế và chính trị ở các nước Cộng sản Đông Âu và sau khi chấm dứt điều gọi là các khối đối đầu, cần có một tư duy mới mang tính toàn cầu về vấn đề phát triển. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kêu gọi thực hiện việc này, khi ngài cho thấy vào năm 1987 sự hiện hữu của các khối này là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém phát triển [57], vì chính trị đã rút ruột các tài nguyên kinh tế và văn hóa, và ý thức hệ đã ngăn chặn tự do. Hơn nữa, vào năm 1991, sau các biến cố năm 1989, ngài đã yêu cầu, trước sự chấm dứt của các khối này, cần phải có một dự án mới mẻ toàn diện cho vấn đề phát triển, chẳng những ở những nước ấy, mà còn ở phương Tây và ở những phần đất khác trên thế giới đang trong tiến trình chuyển đổi [58]. Điều này mới chỉ thực hiện một phần, vẫn còn là một nhiệm vụ thực sự cần phải được hoàn thành, có thể bằng những lựa chọn cần thiết để vượt qua những vấn đề kinh tế hiện nay.
24. Thế giới vào thời Đức Phaolô VI – cho dù xã hội đã chuyển biến cho đến độ ngài có thể nói về các vấn đề xã hội bằng những từ ngữ toàn cầu – vẫn còn xa lạ với vấn đề hội nhập hơn ngày nay. Cả hoạt động kinh tế lẫn tiến trình chính trị đều được tiến hành phần lớn trong cùng vùng địa lý, và vì thế có thể giúp lẫn nhau. Sản xuất diễn ra chủ yếu chỉ ở trong biên giới quốc gia, và những khoản đầu tư tài chính đã phần nào bị giới hạn luân chuyển ra nước ngoài, nhờ đó chính trị ở nhiều Nhà Nước vẫn có thể xác định các ưu tiên của nền kinh tế và ở một mức độ nào đó quản trị việc thực hiện bằng các công cụ trong tầm tay. Bởi thế, Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc đã giao một vai trò trung tâm, dù không độc quyền cho “chính quyền” [59].
Trong thời đại chúng ta, Nhà Nước thấy mình phải giải quyết những giới hạn đối với chủ quyền được áp đặt bởi bối cảnh thương mại và tài chính quốc tế mới, có điểm đặc trưng là sự gia tăng tính lưu động của cả vốn tài chính lẫn phương tiện sản xuất, cả vật chất và lẫn phi vật chất. Bối cảnh mới này đã thay đổi quyền lực chính trị của các Nhà Nước.
Ngày nay, khi ta chú tâm vào các bài học của cuộc khủng hoảng kinh tế này, khi mà các cơ quan công quyền của Nhà Nước trực tiếp tham gia sửa chữa các sai lỗi và những hoạt động sai chức năng, thì việc đánh giá lại vai trò của cơ quan công quyền và các quyền lực của các cơ quan đó có vẻ thực tiễn hơn, chúng cần được rà soát cẩn thận và mô hình hóa lại để đáp trả các thách đố của thế giới ngày nay, có lẽ qua những hình thức mới. Với vai trò của các cơ quan công quyền đã được điều chỉnh tốt hơn, người ta có thể thấy sự củng cố các hình thức mới mẻ của sự tham gia chính trị, cả trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế, diễn ra qua hoạt động của các tổ chức hoạt động trong xã hội dân sự; bằng cách này hy vọng rằng lợi ích và sự tham gia của công dân trong lãnh vực công sẽ cắm rễ sâu xa hơn.
25. Từ quan điểm xã hội, các hệ thống bảo vệ và phúc lợi, vốn hiện diện ở nhiều nước vào thời Đức Phaolô VI, đang thấy khó khăn và có thể càng thấy rõ khó khăn hơn nữa trong tương lai việc theo đuổi các mục tiêu về công bằng xã hội đích thực ở một môi trường đã thay đổi sâu xa ngày nay. Thị trường toàn cầu đã thúc đẩy, trước hết và trên hết, các nước giầu tìm kiếm các vùng đất đó có thể thực hiện việc đặt gia công sản xuất bên ngoài với chi phí thấp để giảm giá nhiều loại hàng hóa, gia tăng sức mua nhờ đó tăng tốc mức phát triển về tính có sẵn của hàng tiêu dùng cho thị trường nội địa. Bởi đó, thị trường đã làm nảy sinh những hình thức cạnh tranh mới giữa các Nhà Nước khi họ tìm cách lôi kéo các doanh nghiệp nước ngoài thành lập các trung tâm sản xuất, bằng các công cụ khác nhau, bao gồm những chế độ tài chính thuận lợi và việc phi quy định hóa thị trường lao động. Các quy trình này đã dẫn đến một sự giảm thiểu các hệ thống an sinh xã hội như cái giá phải trả cho việc tìm kiếm thêm lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, với nguy hiểm lớn theo sau đối với các quyền lợi của công nhân, đối với các quyền con người cơ bản và đối với tình liên đới liên quan đến các hình thức truyền thống của Nhà Nước xã hội. Các hệ thống an sinh xã hội có thể mất đi khả năng tiến hành nhiệm vụ của mình, cả ở những nước đang nổi lên lẫn ở các nước thuộc diện phát triển sớm nhất, cũng như ở các nước nghèo. Đến đây, các chính sách về ngân sách, với những cắt giảm chi tiêu về xã hội thường được thực hiện dưới áp lực của các định chế tài chính quốc tế, có thể khiến cho các công dân trở thành bất lực trước những nguy cơ cũ mới; sự bất lực đó gia tăng bởi vấn đề thiếu sự bảo vệ hữu hiệu từ phía các hiệp hội công nhân. Qua sự kết hợp thay đổi xã hội và kinh tế, các tổ chức công đoàn cảm thấy khó khăn hơn trong việc thi hành nhiệm vụ đại diện cho các lợi ích của công nhân, một phần bởi vì các Chính Phủ, vì những lý do lợi ích kinh tế, thường giới hạn tự do hoặc khả năng điều đình của các nghiệp đoàn lao động. Bởi thế các hệ thống truyền thống về tình liên đới có các trở ngại càng ngày càng nhiều cần khắc phục. Những lời kêu gọi được lập lại nhiều lần xuất phát từ học thuyết xã hội của Hội Thánh, bắt đầu từ Thông Điệp Tân Sự [60], nhằm cổ vũ các hiệp hội công nhân có thể bênh vực các quyền lợi của họ, do đó, ngày nay cần phải được thực hiện còn nhiều hơn so với quá khứ, như một đáp ứng nhanh chóng và có tầm nhìn xa trông rộng cho nhu cầu khẩn trương về những hình thức hợp tác mới ở cấp quốc tế cũng như ở cấp địa phương.
Tính lưu chuyển của lao động, nối kết với một bầu khí phi quy định hóa, là một hiện tượng quan trọng với một số khía cạnh tích cực, bởi vì có thể kích thích việc sản xuất của cải và trao đổi văn hóa. Tuy nhiên, khi sự không vững chắc về các điều kiện làm việc gây ra bởi tính lưu chuyển và phi quy định hóa, khi trở thành địa phương, có khuynh hướng tạo nên các hình thức mới của tình trạng bất ổn định về tâm lý, phát sinh khó khăn cho việc hình thành những dự án gắn bó đời sống, bao gồm cả việc gắn bó đời sống hôn nhân. Điều này dẫn đến những tình trạng suy thoái của con người, chưa nói gì đến vấn đề phung phí các nguồn lực xã hội. So sánh với những tai họa về xã hội công nghiệp trong quá khứ, vấn đề thất nghiệp ngày nay tạo nên những hình thức mới của việc bị gat ra ngoài lề nền kinh tế, và cuộc khủng hoảng hiện nay chỉ có thể làm cho tình trạng này trở nên tồi tệ hơn. Tình trạng không có việc làm hoặc lệ thuộc vào việc trợ giúp công hoặc tư trong một thời gian kéo dài làm hại đến tự do và tính sáng tạo của con người và gia đình họ và các quan hệ xã hội, gây nhiều đau khổ tâm lý và tinh thần. Tôi muốn nhắc nhở mọi người, nhất là các chính phủ tham gia phát huy các tài sản xã hội và kinh tế của thế giới, rằng vốn căn bản cần phải được bảo toàn và trân trọng đó là con người, con người toàn diện: “Con người là nguồn mạch, là tâm điểm và là mục đích của toàn thể đời sống kinh tế và xã hội” [61].
26. Trên bình diện văn hóa, so với thời của Đức Phaolô VI, sự khác biệt thậm chí còn rõ nét hơn. Vào thời đó, các nền văn hóa được xác định tương đối rõ ràng và có nhiều cơ hội để tự bảo vệ mình trước những tấn công nhằm san bằng các nền văn hóa. Ngày nay, các khả năng tương tác giữa các nền văn hóa đã gia tăng đáng kể, làm nẩy sinh những sự cởi mở mới cho cuộc đối thoại liên văn hóa: một cuộc đối thoại mà, để có hiệu quả, phải bắt đầu từ một kiến thức sâu xa về căn tính riêng biệt của các đối tác đối thoại khác nhau. Đừng quên rằng việc thương mại hóa gia tăng về trao đổi văn hóa ngày nay dẫn đến một mối nguy hiểm hai mặt. Thứ nhất, người ta có thể nhận thấy một sự chiết trung về văn hóa thường được đón nhận một cách không phê phán: các nền văn hóa được đặt bên cạnh nhau và được xem như tương đương với nhau và có thể thay thế nhau. Điều này dễ dẫn đến một chủ nghĩa tương đối không giúp vào việc thực sự đối thoại có tính cách liên văn hóa; trên bình diện xã hội, chủ nghĩa tương đối về văn hóa gây tác dụng ở chỗ các nhóm về văn hóa cùng nhau sát cánh chung sống, mà vẫn phân biệt, không có vấn đề đối thoại thực sự và vì thế không có vấn đề hội nhập thực sự. Thứ hai, nguy hiểm trái nghịch xẩy ra là nguy hiểm của việc san bằng văn hóa và việc chấp nhận bừa bãi các cách ứng xử và lối sống. Bằng cách này, người ta mất đi cái ý nghĩa sâu xa của văn hóa ở những nước khác nhau, của những truyền thống thuộc các dân tộc khác nhau, nhờ đó cá nhân xác nhận mình liên quan đến các vấn đề cơ bản của cuộc sống [62]. Điều mà việc chọn lọc và san bằng văn hóa giống nhau là nhằm tách văn hóa ra khỏi bản tính của con người. Như thế, văn hóa không còn xác nhận mình trong một bản tính siêu việt hơn chúng [63], và con người cuối cùng bị giảm thiểu chỉ là một dữ liệu thống kê văn hóa. Khi điều này xảy ra, nhân loại sẽ gặp những nguy cơ mới là tình trạng nô lệ và bị thao túng.
27. Cuộc sống ở nhiều nước nghèo vẫn còn hết sức bất an do hậu quả của tình trạng thiếu thốn thực phẩm, và tình hình có thể trở nên xấu hơn: nạn đói vẫn gặt hái những con số khổng lồ các nạn nhân, trong số những người, như Lazarô, không được phép ngồi cùng bàn với người giàu, trái với các hy vọng được Đức Phaolô bày tỏ [64]. Cho kẻ đói ăn (x. Mt 25,35.37.42) là một lệnh truyền luân lý đối với Hội Thánh hoàn vũ, đang khi Hội Thánh đáp lại giáo huấn của Đấng Sáng Lập, Chúa Giêsu, về tình liên đới và việc chia sẻ của cải. Ngoài ra, việc loại trừ tình trạng đói khổ trên thế giới, trong kỷ nguyên toàn cầu, cũng đã trở thành một đòi hỏi bảo vệ hòa bình và tình trạng ổn định của hành tinh. Tình trạng đói khổ không lệ thuộc nhiều vào sự thiếu hụt các phẩm vật vật chất cho bằng vào sự khan hiếm những nguồn lực xã hội trong đó quan trọng nhất là vấn đề cơ cấu tổ chức. Nói cách khác, cái đang thiếu là một hệ thống cơ cấu kinh tế có khả năng chuyển đạt đầy đủ lương thực và nước cho nhu cầu dinh dưỡng, và có khả năng giải quyết những nhu cầu và các nhu yếu phẩm xuất phát từ những cuộc khủng hoảng thực sự về lương thực, gây ra bởi những nguyên do tự nhiên hay bởi vấn đề vô trách nhiệm về chính trị ở lãnh vực quốc gia và quốc tế. Vấn đề thiếu an toàn lương thực cần phải được giải quyết trong một viễn ảnh dài hạn, loại trừ những nguyên nhân về cơ cấu gây ra cho nó và bằng cách cổ vũ sự phát triển nông nghiệp ở những nước nghèo. Điều này có thể thực hiện bằng việc đầu tư vào những hạ tầng cơ sở thôn quê, các hệ thống dẫn thủy nhập điền, vận chuyên, tổ chức các thị trường, và trong sự phát triển và phổ biến kỹ thuật nông nghiệp có thể sử dụng tối đa những nguồn lực con người, thiên nhiên và kinh tế xã hội đang hết sức thuận lợi ở cấp địa phương, đồng thời bảo đảm khả năng duy trì của chúng có tính cách dài hạn nữa. Tất cả những điều ấy cần phải được hoàn thành với sự tham gia của các cộng đồng địa phương vào những chọn lựa và quyết định ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp. Về quan điểm này, cần phải quan tâm đến những khả năng mới đang xác định qua việc sử dụng những kỹ thuật trồng cấy truyền thống cũng như mới mẻ, luôn cho rằng những kỹ thuật này cần phải được phán đoán, sau khi được thử nghiệm đầy đủ, một cách thích đáng, tôn trọng môi trường và chú ý đến những nhu cầu của những người thiếu thốn nhất. Đồng thời cũng không được coi thường vấn đề cải cách ruộng đất công bằng ở những nước đang phát triển. Quyền được có thực phẩm cũng như quyền có nước có một chỗ quan trọng trong việc theo đuổi những quyền lợi khác, bắt đầu với quyền sống căn bản. Bởi thế, cần phải vun trồng một lương tâm công cộng xem lương thực và phương tiện có được nước như là các quyền lợi phổ quát của tất cả mọi con người, bất phân biệt và kỳ thị [65]. Ngoài ra, cũng cần phải nhấn mạnh rằng tình liên đới với các nước nghèo trong tiến trình phát triển có thể hướng đến một sự giải quyết cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, như các chính trị gia và các vị giám đốc những tổ chức quốc tế đã bắt đầu cảm nhận thấy mới đây. Qua sự nâng đỡ các nước nghèo về kinh tế bằng những dự án tài chính xuất phát từ tình liên đới – để những nước này có thể tiến hành các bước thỏa mãn nhu cầu của công dân mình về hàng tiêu dùng và về sự phát triển – chẳng những có thể sinh ra sự tăng trưởng kinh tế thực mà còn là một đóng góp để duy trì những khả năng sản xuất của các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng.
28. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề phát triển ngày nay là vần đề quan trọng tôn trọng sự sống, không thể tách khỏi các vấn đề liên quan đến phát triển các dân tộc. Đây là một khía cạnh gần đây càng ngày càng quan trọng, buộc ta phải mở rộng quan niệm của mình về nghèo khó [66] và tình trạng kém phát triển trong việc bao gồm những vấn đề liên quan đến sự chấp nhận sự sống, nhất là trong những trường hợp sự sống bị ngăn trở bằng nhiều cách.
Tình trạng nghèo khó chẳng những vẫn còn gây ra tỷ lệ tử vong hài nhi cao ở nhiều miền, mà còn ở một số nơi trên thế giới vẫn trải qua những việc kiểm soát nhân khẩu, về phía các chính phủ thường phát động việc ngừa thai và thậm chí đi đến chỗ áp đặt phá thai. Ở những nước phát triển về kinh tế, pháp luật chống lại sự sống rất lan rộng, và đã hình thành nên những thái độ và thực hành luân lý, góp phần vào việc làm lan rộng một tâm thức chống sinh sản; thường có những nỗ lực xuất khẩu tâm thức này sang các Nhà Nước khác như đó là một hình thức tiến bộ văn hóa.
Một số Tổ Chức phi chính phủ đang chủ động thực hiện việc truyền bá vấn đề phá thai, có những lúc cổ vũ việc triệt sản ở các nước nghèo, trong một số trường hợp thậm chí không thông báo cho các phụ nữ có liên quan. Ngoài ra, có lý do để ngờ rằng viện trợ phát triển đôi khi liên kết với các chính sách chăm sóc sức khỏe cụ thể trong thực tế bao gồm vấn đề áp đặt những biện pháp mạnh để kiểm soát sinh sản. Những cơ sở khác là các luật cho phép an tử cũng như vấn đề áp lực từ các nhóm vận động hành lang, thuộc lãnh vực quốc gia và quốc tế, để vấn đề triệt sinh an tử này được pháp luật công nhận.
Thài độ cởi mở đối với sự sống là trọng tâm của sự phát triển thực. Khi một xã hội tiến đến chỗ phủ nhận hay triệt hạ sự sống, nó sẽ tiến đến chỗ không còn tìm thấy động lực và nghị lực cần thiết để phấn đấu cho thiện ích thực sự của con người nữa. Nếu mất đi cảm quan nơi cá nhân và xã hội đối với việc chấp nhận một sự sống mới thì những hình thức khác của việc chấp nhận đáng giá cho xã hội cũng sẽ tàn phai đi [67]. Việc chấp nhận sự sống củng cố cơ cấu luân lý và làm cho con người có khả năng giúp đỡ lẫn nhau. Bằng việc vun trồng thái độ cởi mở đối với sự sống, các dân tộc giàu có thể hiểu rõ hơn các nhu cầu của những người nghèo, họ có thể tránh sử dụng các nguồn lực lớn về kinh tế và tri thức để thỏa mãn những ước muốn vị kỷ của các công dân của họ, và thay vào đó, họ có thể cổ vũ hành động có tính cách đạo đức theo quan điểm của vấn đề sản xuất có tính cách lành mạnh về luân lý và mang tính liên đới, tôn trọng quyền sống căn bản của mọi dân tộc và mọi cá nhân.
29. Còn một khía cạnh khác của cuộc sống hiện đại có liên quan rất chặt chẽ với vấn đề phát triển: sự chối bỏ quyền tự do tôn giáo. Tôi không chỉ nói đến những tranh đấu và những xung đột trong thế giới vì những động lực tôn giáo, thậm chí có những lúc động lực tôn giáo này chỉ là một bình phong cho những lý do khác, chẳng hạn như ước muốn thống trị và giầu sang. Thật vậy, ngày nay người ta thường hay nhân danh Thiên Chúa để hủy diệt, như cả vị tiền nhiệm của tôi Đức Gioan Phaolô II lẫn tôi thường nhắc công khai và tán thán [68]. Bạo hành ngăn chặn sự phát triển chân chính và ngăn cản bước tiến của các dân tộc đến mức sống cao hơn về kinh tế - xã hội và tinh thần. Điều này áp dụng đặc biệt cho chủ nghĩa khủng bố với chủ trương bảo thủ cực đoan [69] gây ra đau khổ, hủy hoại và chết chóc, cản trở đối thoại giữa các nước và làm mất đi những nguồn lực dồi dào thay vì sử dụng cho các mục đích hòa bình và dân sự.
Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, cũng như chủ nghĩa cuồng tín về tôn giáo, trong một số trường hợp, ngăn cản việc thực thi quyền tự do tôn giáo thế nào thì cũng thế, việc cổ vũ thái độ dửng dưng về tôn giáo hay chủ nghĩa vô thần thực dụng nơi nhiều nước ngăn chặn những đòi hỏi về vấn đề phát triển các dân tộc, vì tước đi sự phong phú tinh thần và nhân bản của các dân tộc. Thiên Chúa là người bảo đảm cho sự phát triển đích thực của con người, như Người đã dựng nên họ theo hình ảnh của Người, Người cũng thiết lập phẩm giá siêu việt cho con người nam nữ và khơi dậy nơi họ một niềm khát vọng sâu xa “được hơn nữa”. Con người không phải là một nguyên tử đi lạc trong một vũ trụ ngẫu nhiên [70]: họ là tạo vật của Thiên Chúa, được Người tặng cho linh hồn bất tử và luôn được Ngài yêu thương. Nếu con người chỉ là hoa trái của tình cờ hay tất yếu, hay nếu họ phải hạ thấp những khát vọng của mình xuống đến chân trời hạn hẹp của thế giới họ đang sống, nếu tất cả mọi thực tại chỉ là lịch sử và văn hóa, và nếu con người không có một bản tính hướng đến sự sống siêu nhiên, thì người ta có thể nói về tăng trưởng, hay tiến hóa mà thôi chứ không phải là phát triển. Khi Nhà Nước cổ vũ, giảng dạy hay áp đặt thực tế những hình thức của chủ nghĩa vô thần thực dụng, thì Nhà Nước làm cho các công dân của mình mất đi sức mạnh luân lý và thiêng liêng không thể thiếu cho việc đạt được tình trạng phát triển toàn diện, và Nhà Nước đã ngăn cản họ tiến bước bằng một động lực mới khi họ nỗ lực đáp trả quảng đại hơn đối với tình yêu Thiên Chúa [71]. Trong bối cảnh các mối liên hệ văn hóa, thương mại hay chính trị, đôi khi cũng xảy ra việc những nước đã phát triển hay đang vươn lên về kinh tế đang xuất khẩu cái nhìn giản lược nói trên về con người và định mệnh của mình sang các nước nghèo. Đây là một tai hại mà “tình trạng siêu phát triển” [72] gây ra cho sự phát triển đích thực khi được kèm theo bằng một sự “kém phát triển về luân lý” [73].
30. Trong bối cảnh này, đề tài phát triển toàn diện con người có một ý nghĩa thậm chí còn rộng hơn: sự liên hệ giữa những yếu tố đa dạng về phát triển đòi ta quyết tâm nuôi dưỡng sự tương tác ở các mức khác nhau của tri thức nhân loại, nhằm cổ vũ sự phát triển đích thực các dân tộc. Người ta thường cho rằng sự phát triển, hay những biện pháp kinh tế - xã hội kèm theo, chỉ cần được thực hiện qua hành động chung. Tuy nhiên, hành động chung này cần phải được hướng dẫn, vì “mọi hoạt động xã hội đều giả thiết có một học thuyết” [74]. Trước tính cách phức tạp của các vấn đề, hiển nhiên là những ngành khoa học khác nhau cần phải cùng nhau cộng tác theo hướng trao đổi liên ngành. Bác ái không loại trừ tri thức, trái lại, còn đòi hỏi, cổ vũ và làm sinh động tri thức từ bên trong. Tri thức không bao giờ thuần túy chỉ là hoạt động của trí thức. Tri thức chắc chắn có thể được giản lược thành tính toán và thử nghiệm, nhưng nếu muốn trở thành sự khôn ngoan có khả năng hướng dẫn con người dưới ánh sáng của những khởi nguyên và những cùng đích của họ, thì tri thức cần phải được “gia vị” với “muối” bác ái. Hành động mà thiếu hiểu biết thì mù quáng, còn tri thức thiếu tình yêu thì cằn cỗi. Thật vậy, “cá nhân nào được sinh động bởi đức bác ái đích thực thì nỗ lực khám phá những nguyên nhân của sự khốn khó, để tìm những biện pháp chiến đấu với nó, quyết tâm chế ngự nó” [75]. Đối mặt với những hiện tượng trước mắt ta, bác ái trong chân lý trước hết đòi hỏi ta cần phải biết và hiểu, nhìn nhận và tôn trọng khả năng chuyên biệt của mọi cấp hiểu biết. Bác ái không phải là điều phụ thuộc được thêm vào sau, như một phụ lục cho công trình đã được hoàn thành ở từng ngành khác nhau: bác ái đã hiện diện với các ngành đó ngay từ đầu cuộc đối thoại. Các đòi hỏi của tình yêu không nghịch lại với những đòi hỏi của lý trí. Tri thức con người thiếu sót và những kết luận của khoa học tự chúng không thể vạch ra con đường tiến đến sự phát triển toàn bộ con người. Luôn luôn có nhu cầu đẩy mạnh lên: đây là điều bác ái trong chân lý đòi hỏi [76]. Tuy nhiên, việc vượt hơn đây không có nghĩa là không cần đến các kết luận của lý trí, không có nghĩa là nghịch lại với những kết quả của nó. Trí thức và tình yêu không ở trong những gian phòng tách biệt: tình yêu phong phú nhờ trí thức và trí thức tràn đầy tình yêu.
31. Điều này có nghĩa là đánh giá về luân lý và nghiên cứu khoa học phải đi với nhau, và bác ái phải làm cho chúng sinh động trong một tổng thể hòa hợp liên ngành, có tính hiệp nhất và phân biệt. Học thuyết xã hội của Hội Thánh, có “một chiều kích liên ngành quan trọng” [77], theo quan điểm này, có thể thi hành một phần vụ hữu hiệu đặc biệt. Học thuyết này giúp cho đức tin, thần học, siêu hình học và khoa học liên kết với nhau trong nỗ lực hợp tác để phục vụ nhân loại. Ở đây, trước hết, học thuyết xã hội của Hội Thánh cho thấy chiều kích khôn ngoan của mình. Đức Phaolô VI đã thấy rõ một trong số các nguyên nhân gây ra tình trạng kém phát triển, đó là sự thiếu khôn ngoan và tư duy, thiếu suy nghĩ để có khả năng đưa ra một tổng hợp soi dẫn [78], một tổng hợp đòi phải có “một tầm nhìn rõ ràng về những khía cạnh về kinh tế, xã hội, văn hóa và thiêng liêng” [79]. Tình trạng phân mảnh quá mức của kiến thức [80], việc các khoa học nhân văn loại trừ khoa siêu hình học [81], những khó khăn gặp phải nơi vấn đề đối thoại trao đổi giữa khoa học và thần học, phương hại chẳng những đến vấn đề phát triển của kiến thức mà còn cho sự phát triển các dân tộc nữa, vì những điều ấy làm ta khó thấy được sự thiện toàn diện của con người nơi các chiều kích khác nhau của sự thiện này. “Việc mở rộng quan niệm của chúng ta về lý trí cùng với việc áp dụng của nó” [82] không thể thiếu nếu ta muốn thành công trong việc cân nhắc một cách đầy đủ tất cả mọi yếu tố liên quan đến vấn đề phát triển cũng như trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội.
32. Những yếu tố mới trong bức tranh phát triển các dân tộc ngày nay, trong nhiều trường hợp, đòi phải có những giải pháp mới. Các giải pháp này cần được tìm thấy đồng thời trong sự tôn trọng những luật riêng của từng yếu tố và dưới ánh sáng của một cái nhìn toàn diện về con người, phản ánh những khía cạnh khác nhau của con người, được ngắm nhìn qua một thấu kính được đức bác ái thanh lọc. Những đồng thuận độc đáo và những khả năng giải quyết cụ thể rồi sẽ xuất hiện, không một yếu tố cơ bản nào về đời sống con người bị lu mờ.
Phẩm giá của nhân vị và những đòi hỏi của công bằng, đặc biệt vào ngày nay, yêu cầu rằng những chọn lựa kinh tế không được gây ra sự gia tăng chênh lệch về của cải một cách quá đáng và không thể chấp nhận được về mặt luân lý [83], và phải tiếp tục ưu tiên hóa mục tiêu mang lại công ăn việc làm ăn ổn định cho mọi người. Xét cho cùng, điều này cũng được “lô-gích kinh tế” đòi hỏi. Qua việc gia tăng một cách có hệ thống về tình trạng mất quân bình xã hội, trong từng nước và giữa các dân tộc khác nhau (chẳng hạn sự gia tăng hàng loạt tình trạng nghèo tương đối), không những gây hại cho sự gắn bó xã hội, do đó gây nguy hại cho chế độ dân chủ, mà còn cho nền kinh tế nữa, qua sự xói mòn dần về “vốn xã hội”: hệ thống các quan hệ về lòng tin tưởng, sự đáng tin, và tôn trọng luật lệ, tất cả đều không thể thiếu được cho bất kỳ hình thức chung sống dân sự nào.
Kinh tế học bảo ta rằng những bất ổn về cấu trúc làm phát sinh những thái độ phản sản xuất gây lãng phí các nguồn nhân lực, vì công nhân có khuynh hướng thụ động chiều theo các cơ chế máy móc hơn phát huy tính sáng tạo. Cả về điểm này nữa, có sự đồng thuận giữa khoa kinh tế học và việc đánh giá luân lý. Giá trị nhân bản bao giờ cũng là một giá trị kinh tế, và những lệch lạc về mặt kinh tế bao giờ cũng kéo theo những trả giá về nhân bản.
Cần phải nhớ rằng việc giản lược các nền văn hóa vào chiều kích công nghệ, thậm chí vì các lợi ích ngắn hạn, thì về lâu về dài cũng cản trở việc làm phong phú lẫn nhau và sự năng động trong vấn đề hợp tác. Điều quan trọng là biết phân biệt giữa những quyết định kinh tế hoặc xã hội học ngắn hạn và dài hạn. Việc hạ thấp mức độ bảo vệ quyền lợi của công nhân, hay việc hủy bỏ các cơ chế tái phân phối của cải để gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của quốc gia, đều cản trở sự phát triển lâu dài. Hơn nữa, những hậu quả đối với con người của các khuynh hướng hiện nay đối với một nền kinh tế ngắn hạn – đôi khi rất ngắn hạn – cần phải được đánh giá cẩn thận. Điều này đòi phải suy nghĩ sâu xa hơn về ý nghĩa của nền kinh tế và các mục đích của nó [84], cũng như phải xem xét lại một cách sâu xa và rộng rãi mô hình phát triển hiện nay, để chỉnh sửa các khiếm khuyết và lệch lạc. Trong bất kỳ trường hợp nào, điều này được đòi hỏi bởi tình trạng môi sinh của trái đất; trên hết, cuộc khủng hoảng văn hóa và luân lý của con người, mà các triệu chứng lâu nay đã hiển nhiên khắp thế giới.
33. Hơn bốn mươi năm sau Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, đề tài căn bản của Thông Điệp là sự tiến bộ, vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, càng ngày càng cấp thiết và khẩn trương hơn nữa trước cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính hiện nay. Nếu có một số vùng trên thế giới, từ một lịch sử nghèo khó, đã kinh qua những thay đổi đáng kể, liên quan đến vấn đề tăng trưởng kinh tế của mình cùng với việc tham gia sản xuất toàn cầu, thì các vùng khác vẫn còn đang sống trong tình trạng thiếu hụt so với thời của Đức Phaolô VI, và trong một số trường hợp, người ta thậm chí có thể nói đến sự suy thoái. Vấn đề ở đây là một số nguyên nhân cho tình trạng này đã được nhận diện trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, chẳng hạn như mức thuế quan cao do các nước phát triển về kinh tế áp đặt, vẫn còn gây khó khăn cho sản phẩm của các nước nghèo trong việc có được một chỗ đứng trong thị trường các nước giầu có. Tuy nhiên, những nguyên nhân khác được đề cập sơ qua trong Thông Điệp từ đó đã trở thành rõ nét hơn. Một trường hợp được nhắm đến đó là việc thẩm định tiến trình phi thực dân hóa, lúc đó đang ở vào đỉnh cao. Đức Phaolô VI đã hy vọng thấy được cuộc hành trình này tiến đến sự tự chủ diễn ra một cách tự do và trong an bình. Hơn bốn mươi năm sau, ta phải nhận rằng cuộc hành trình này khó khăn biết bao, vì những hình thức mới của chủ nghĩa thực dân và việc tiếp tục lệ thuộc vào những quyền lực nước ngoài cũ và mới, cũng như vì thái độ vô trách nhiệm trầm trọng tại chính các nước đã được độc lập.
Điều mới mẻ chính yếu là cuộc bùng nổ tình trạng liên thuộc toàn cầu, thường được gọi là tình trạng toàn cầu hóa. Đức Phaolô VI đã thấy được một phần nào, thế nhưng bước tiến hóa mãnh liệt một khi đã diễn ra thì không tài nào lường trước được. Xuất phát từ các nước phát triển về kinh tế, tiến trình này, tự bản chất, đã lan tràn ra để bao gồm mọi nền kinh tế. Nó đã từng là một lực đẩy chính yếu cho việc trồi lên khỏi tình trạng kém phát triển của toàn thể những vùng đất, và tự mình, nó cho thấy một cơ hội lớn. Tuy nhiên, không được hướng dẫn bởi đức ái trong chân lý, lực lượng toàn cầu này có thể gây ra tai hại chưa từng thấy và tạo nên những chia rẽ mới trong gia đình nhân loại. Bởi thế, bác ái và chân lý đối với ta trở thành một thách thức mới mẻ và sáng tạo, một thách thức thực sự rộng lớn và phức tạp. Đó là thách thức về vấn đề mở rộng phạm vi của lý trí và làm cho lý trí có khả năng hiểu biết và hướng dẫn những lực lượng mãnh liệt mới mẻ này, làm cho chúng sinh động theo viễn tượng “nền văn minh tình yêu” được Thiên Chúa gieo mầm trong mọi dân tộc, trong mọi nền văn hóa.
CHƯƠNG BA
TÌNH HUYNH ĐỆ, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ
34. Bác ái trong sự thật đặt con người trước kinh nghiệm đáng ngạc nhiên về quà tặng. Lòng biết ơn hiện diện trong đời ta dưới nhiều hình thức, mà ta thường không nhận ra do bởi một nhân sinh quan thuần túy tiêu thụ chủ nghĩa và vụ lợi. Con người được tạo dựng cho quà tặng, điều này diễn tả và làm hiện diện chiều kích siêu việt của con người. Đôi khi con người hiện đại lầm tưởng rằng mình là tác giả duy nhất của chính mình, sự sống của mình và xã hội. Sự tự tồn này là hậu quả của sự đóng kín trong bản thân mình một cách ích kỷ – và diễn tả bằng từ ngữ đức tin – do nguyên tội mà ra. Sự khôn ngoan của Hội Thánh đã luôn luôn chỉ về sự hiện diện của nguyên tội trong các điều kiện xã hội và trong cấu trúc xã hội: "Việc không nhận biết con người có một bản tính đã bị thương tổn hướng chiều về sự dữ sẽ làm phát sinh những sai lỗi trầm trọng trong các lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội và luân lý" [85]. Trong danh mục các lãnh vực thể hiện các hậu quả tai hại của tội, lâu nay kinh tế đã được bao gồm. Ta có một bằng chứng rõ rệt về điều này tại thời điểm hiện nay. Xác tín rằng con người tự túc và có thể thành công trong việc hủy diệt cái ác hiện diện trong lịch sử bằng hành động đơn độc của chính mình đã dẫn con người đến chỗ nhầm lẫn hạnh phúc và ơn cứu độ với các hình thức nội thế phồn vinh vật chất và hoạt động xã hội. Vậy thì, xác tín rằng nền kinh tế phải tự chủ, phải được che chắn khỏi “những ảnh hưởng” của vấn đề luân lý, đã dẫn con người đến chỗ lạm dụng quy trình kinh tế một cách hoàn toàn tai hại. Về lâu về dài, các xác tín này đã dẫn đến các hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị dẵm đạp lên tự do cá nhân và xã hội, và do đó không thể đem lại công bằng như đã hứa. Như tôi đã nói trong Thông điệp Spe Salvi của tôi, lịch sử qua đó bị tước mất niềm hy vọng Kitô giáo [86], bị tước mất một nguồn lực xã hội mạnh mẽ phục vụ sự phát triển con người toàn diện, được tìm thấy trong tự do và trong công lý. Đức cậy khuyến khích lý trí và đem lại cho lý trí sức mạnh để điều khiển ý chí [87]. Đức cậy đã hiện diện nơi đức tin, thực vậy nó được đức tin kêu gọi. Bác ái trong sự thật được bồi dưỡng bằng đức cậy và đồng thời thể hiện đức cậy. Là một quà tặng hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, đức cậy bừng lên trong đời ta như điều gì đó không do ta, điều gì đó vượt trên mọi luật lệ của công lý. Quà tặng tự bản chất vượt quá công trạng, quy luật của đức cậy là quy luật của sự sung mãn. Đức cậy chiếm chỗ đầu trong linh hồn ta như dấu hiệu Thiên Chúa hiện diện trong ta, một dấu hiệu về những gì Người mong đợi nơi ta. Chân lý – tự bản thân là một quà tặng, cũng như bác ái – thì lớn hơn ta, như Thánh Augustinô dạy [88]. Cũng thế, sự thật về chính bản thân ta, về lương tâm cá nhân của ta, trước hết được ban hết cho ta. Trong mọi quy trình hiểu biết, sự thật không phải là một cái gì đó do ta sản xuất, nó bao giờ cũng được tìm thấy, hay đúng hơn, được nhận lãnh. Như tình yêu, chân lý “không xuất phát từ suy tư và ý chí, nhưng thống trị con người trọn vẹn” [89].
Vì là một quà tặng được mọi người lãnh nhận, bác ái trong sự thật là một sức mạnh xây dựng cộng đồng, bác ái đem tất cả mọi người đến với nhau mà không áp đặt các ngăn trở hay giới hạn. Cộng đồng nhân loại mà ta tự xây dựng đây không bao giờ có thể, hoàn toàn tự sức mình, là một cộng đồng huynh đệ trọn vẹn, cũng không bao giờ có thể thắng vượt được mọi chia rẽ và trở nên một cộng đồng hoàn vũ thực sự. Mối hiệp nhất của nhân loại, mối hiệp thông huynh đệ vượt trên mọi rào cản, được kêu gọi hiện hữu bởi lời Thiên Chúa-Đấng-là-Tình-Yêu. Khi đề cập đến vấn đề then chốt này, ta cần phải làm rõ, một mặt, lô-gích của quà tặng không loại trừ công lý, cũng không phải chỉ là một yếu tố phụ thuộc được thêm vào từ bên ngoài; mặt khác, phát triển kinh tế, xã hội và chính trị, nếu thực sự là nhân bản, cần phải dành chỗ cho nguyên tắc cho đi nhưng không như là một biểu hiện của tình huynh đệ.
35. Trong một bầu khí tin tưởng lẫn nhau, thị trường là một định chế kinh tế cho phép người với người gặp nhau, với tư cách là những chủ thể kinh tế sử dụng hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ của họ trong khi trao đổi hàng hóa và dịch vụ có giá trị tương đương giữa họ với nhau, nhằm thỏa mãn các nhu cầu và ước muốn của họ. Thị trường tùy thuộc vào các nguyên tắc gọi là công bằng giao hoán, điều chỉnh các quan hệ cho và nhận giữa các bên tham gia một giao dịch. Nhưng học thuyết xã hội của Hội Thánh, đã không ngừng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công bằng phân phối và công bằng xã hội đối với nền kinh tế thị trường, không những vì thị trường thuộc về một bối cảnh xã hội và chính trị rộng hơn, mà lại còn vì hệ thống các quan hệ rộng hơn trong đó thị trường hoạt động. Thật vậy, nếu thị trường chỉ được quản trị bởi nguyên tắc ngang bằng giá trị của các hàng hóa trao đổi, thì thị trường không thể sản sinh mối liên kết xã hội mà thị trường yêu cầu để hoạt động tốt. Thiếu vắng các hình thức nội tại của tình liên đới và lòng tin tưởng lẫn nhau, thì thị trường không thể nào hoàn thành đầy đủ chức năng kinh tế đúng đắn của mình. Và ngày nay chính niềm tin này đã không còn nữa, và mất niềm tin là một mất mát lớn. Thật đúng lúc khi Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc, đã nhấn mạnh rằng bản thân hệ thống kinh tế có thể hưởng lợi ích từ việc thực hành công lý trên diện rộng, kẻ đầu tiên được lợi từ sự phát triển của các nước nghèo là những nước giầu [90]. Theo Đức Giáo Hoàng, đây không phải chỉ là vấn đề sửa sai những rối loạn chức năng bằng cách trợ giúp. Không được coi người nghèo là một “gánh nặng" [91], nhưng là một nguồn lực, ngay cả trên phương diện thuần túy kinh tế. Tuy nhiên, thật sai lầm khi chủ trương rằng kinh tế thị trường trong cấu trúc của mình cần một hạn mức nghèo đói và kém phát triển để hoạt động tốt. Chính vì các lợi ích của thị trường mà chủ trương giải phóng, nhưng để làm điều đó một cách hiệu quả, thì thị trường không thể chỉ dựa trên chính mình, vì thị trường không thể tự mình sản xuất ra một cái gì đó nằm ngoài khả năng của nó. Thị trường phải cần đến các nguồn năng lượng luân lý từ các chủ thể khác có khả năng tạo ra các năng lượng này.
36. Hoạt động kinh tế không thể giải quyết được mọi vấn đề xã hội thông qua việc chỉ áp dụng lô-gích thương mại. Điều này cần phải được hướng đến việc theo đuổi công ích, mà cộng đồng chính trị nói riêng cũng phải chịu trách nhiệm. Do đó, ta phải nhớ rằng sự mất cân bằng trầm trọng nảy sinh khi hành động kinh tế, vốn được quan niệm chỉ như một động cơ để tạo ra sự giàu có, bị tách khỏi hành động chính trị, vốn được xem là một phương tiện để theo đuổi công bằng thông qua việc tái phân phối.
Hội Thánh vốn luôn luôn chủ trương rằng hành động kinh tế không được xem là chống lại xã hội. Thị trường không phải, và không được trở thành, nơi cho kẻ mạnh đàn áp người yếu. Xã hội không cần phải tự vệ đối với thị trường, như thể sự phát triển thị trường trên thực tế làm thui chột các quan hệ đích thực của con người. Phải nhận rằng thị trường có thể trở thành một quyền lực tiêu cực, không phải vì bản chất thị trường là như thế, nhưng vì một ý thức hệ nào đó đã định hướng thị trường như thế. Cần nhớ rằng thị trường không tồn tại trong trạng thái nguyên tuyền. Thị trường được làm nên bởi những cấu hình văn hóa đã định hình và định hướng cụ thể cho nó. Kinh tế và tài chính, với tính cách là những công cụ, có thể bị sử dụng sai khi những ai cầm lái chỉ quan tâm đến các lợi ích vị kỷ. Các công cụ tự bản thân vốn là tốt, có thể bị biến thành các công cụ có hại. Thế nhưng chính lý trí đen tối của con người sinh ra những hậu quả này, chứ không phải tự bản thân công cụ. Cho nên vấn đề cần quan tâm không phải là công cụ, mà là các cá nhân, lương tâm luân lý của họ và trách nhiệm cá nhân và xã hội của họ.
Học thuyết xã hội của Hội Thánh chủ trương rằng các quan hệ đích thực nhân bản về tình bạn, liên đới và tương hỗ cũng có thể phát huy trong phạm vi hoạt động kinh tế, chứ không phải chỉ ở bên ngoài hoặc “theo sau” nó. Lãnh vực kinh tế không trung lập về mặt luân lý, tự bản chất không phải là phi nhân và chống lại xã hội. Kinh tế là một bộ phận của hoạt động con người và vì kinh tế mang tính nhân bản, nên phải được cơ chế hóa và quản trị một cách có đạo đức.
Thách thức lớn đặt ra trước chúng ta, xuất phát từ những vấn nạn về phát triển trong kỷ nguyên toàn cầu này và càng trở thành khẩn trương hơn bởi cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, đó là trên bình diện tư duy cũng như ứng xử, ta phải chức minh rằng chẳng những các nguyên tắc truyền thống về đạo đức xã hội như tính minh bạch, đích thực và trách nhiệm không thể bị coi thường hay bị suy yếu đi, mà còn trong cả các quan hệ thương mại, nguyên tắc nhưng không và lô-gích quà tặng như sự thể hiện tình huynh đệ có thể và phải tìm thấy chỗ đứng của mình ngay trong hoạt động kinh tế bình thường. Đây là một đòi hỏi của con người vào lúc này, nhưng cũng là đói hỏi cho lô-gích kinh tế nữa. Đây cũng là đòi hỏi của bác ái và sự thật.
37. Học thuyết xã hội của Hội Thánh đã luôn luôn chủ trương rằng công bằng phải được áp dụng đối với mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, bởi vì điều này luôn luôn liên quan đến con người và các nhu cầu của con người. Việc định vị các nguồn lực, vấn đề tài chính, sản xuất, tiêu thụ và tất cả mọi giai đoạn khác nơi chu kỳ kinh tế tất yếu đều có những hàm ý về luân lý. Như vậy mọi quyết định kinh tế đều có một hậu quả luân lý. Các khoa học xã hội và chiều hướng của nền kinh tế đương đại cũng nhắm đến cùng một kết luận ấy. Có thể vào một lúc nào đó người ta cho rằng trước hết việc tạo ra của cải có thể ủy thác cho kinh tế, và rồi công việc phân phối của cải có thể giao cho chính trị. Ngày nay vấn đề trở nên khó khăn hơn, ở chỗ hoạt động kinh tế không còn bó mình trong những giới hạn về lãnh thổ nữa, trong khi đó thẩm quyền của các chính phủ chủ yếu vẫn là ở địa phương. Do đó các quy tắc công bằng phải được tôn trọng ngay từ đầu, trong khi tiến trình kinh tế diễn ra, chứ không phải chỉ sau đó hoặc ngẫu nhiên. Cũng cần phải tạo ra mặt bằng trong thị trường cho hoạt động kinh tế được thực hiện bởi những chủ thể muốn tự do hành động theo các nguyên tắc khác với những nguyên tắc thuần túy vì lợi nhuận, mà không từ bỏ việc sản xuất ra giá trị kinh tế. Nhiều chủ thể kinh tế xuất phát từ các sáng kiến của các tu sĩ và giáo dân cho thấy rằng đây là điều có thể thực hiện cụ thể được.
Trong kỷ nguyên toàn cầu, nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi những mô hình cạnh tranh gắn liền với các nền văn hóa rất khác nhau. Những hình thức khác nhau của doanh nghiệp kinh tế xuất hiện những kiểu mẫu cạnh tranh này tìm thấy điểm gặp gỡ chính yếu của mình nơi công bằng giao hoán. Sinh hoạt kinh tế thật sự đòi hỏi các hợp đồng, để điều chỉnh các quan hệ trao đổi giữa những hàng hóa có giá trị tương đương. Thế nhưng, nó cũng cần đến những luật lệ chính đáng và các hình thức tái phân phối bởi chính trị, và hơn thế nữa, nó cần hoạt động tỏa ra tinh thần ban tặng. Nền kinh tế trong kỷ nguyên toàn cầu dường như ưa thích cái lô-gích trước, lô-gích của sự trao đổi hợp đồng, thế nhưng, trực tiếp hay gián tiếp, nó cũng cho thấy nó cần đến hai lô-gích khác nữa, lô-gích chính trị và lô-gích tặng cho nhưng không.
38. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II đã chú ý đến vấn đề này trong Thông Điệp Bách Niên của ngài, khi ngài nói về nhu cầu cần có một hệ thống ba chủ thể: thị trường, Nhà Nước và xã hội dân sự [92]. Ngài đã thấy xã hội dân sự là một môi trường tự nhiên nhất cho một nền kinh tế nhưng không và tình huynh đệ, thế nhưng ngài không muốn xã hội dân sự này không có được một chỗ đứng ở hai môi trường kia. Ngày nay ta có thể nói rằng sinh hoạt kinh tế cần phải được hiểu là một hiện tượng có nhiều tầng: ở mọi tầng này, theo các mức độ khác nhau và các đường lối thích hợp với từng tầng một, khía cạnh hỗ tương huynh đệ cần phải hiện diện. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, hoạt động kinh tế không thể không quan tâm đến tính nhưng không, tính chất này bồi dưỡng và phổ biến tình liên đới và trách nhiệm đối với công bằng và công ích giữa các chủ thể kinh tế khác nhau. Đây rõ ràng là một hình thức cụ thể và sâu xa của nền dân chủ kinh tế. Liên đới trước hết và trên hết là ý thức trách nhiệm mà mọi người cảm thấy đối với nhau [93], và vì thế không thể chỉ ủy thác cho Nhà Nước. Trong quá khứ có thể lập luận rằng công bằng phải có trước rồi sau đó mới thêm vào tính nhưng không, như là một bổ khuyết, thì ngày nay hiển nhiên nếu thiếu tính nhưng không thì trước hết không có công bằng. Bởi vậy, điều cần thiết là có một thị trường cho phép những doanh nghiệp theo đuổi những mục đích khác nhau về tổ chức được tự do hoạt động trong các điều kiện cơ hội đều ngang bằng. Cùng với doanh nghiệp tư tìm kiếm lợi nhuận và những loại hình khác nhau của doanh nghiệp công, cần phải có chỗ cho những chủ thể thương mại đặt nền tảng trên những nguyên tắc hỗ tương và theo đuổi những mục đích xã hội được thành lập và phát triển. Chính từ sự gặp gỡ hỗ tương này nơi thị trường mà ta có thể mong đợi những hình thức pha trộn của hành vi thương mại và vì thế chú trọng đến các phương thế văn minh hóa kinh tế. Trong trường hợp này, bác ái trong chân lý đòi hỏi rằng cần phải cung cấp hình thức và cấu trúc cho các loại sáng kiến kinh tế không khước từ lợi nhuận nhưng nhắm đến một mục tiêu cao hơn lô-gích trao đổi những giá trị tương đương và lô-gích lợi nhuận là một mục tiêu.
39. Đức Phaolô VI trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc đã kêu gọi tạo nên một mô hình kinh tế thị trường có khả năng bao gồm trong phạm vi của mình tất cả các dân tộc chứ không phải chỉ có các dân tộc sung túc. Ngài kêu gọi hãy nỗ lực xây dựng một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người, một thế giới trong đó “tất cả mọi người đều có thể trao ban và nhận lãnh, chứ không phải là một nhóm nào đạt được tiến bộ bằng cái giá phải trả của nhóm kia” [94]. Bằng cách này, ngài áp dụng trên phạm vi toàn cầu các yêu cầu và các khát vọng trong Thông Điệp Tân Sự, được viết khi lần đầu tiên đề xuất ý tưởng – hẳn nhiên là đi trước thời đại của mình - như kết quả của cuộc Cách Mạng Công Nghiệp, là trật tự dân sự, để tự điều chỉnh, cũng cần đến việc can thiệp của Nhà Nước nhằm mục đích tái phân phối. Ngày nay tầm nhìn này chẳng những đã bị đe dọa do phương thức mở rộng các thị trường và các nhóm xã hội, mà còn hiển nhiên không đáp ứng đủ những đòi hỏi của một nền kinh tế hoàn toàn nhân bản. Những gì học thuyết xã hội của Hội Thánh luôn luôn chủ trương, trên cơ sở tầm nhìn của mình về con người và xã hội, ngày nay đang được đòi hỏi bởi các động lực của công cuộc toàn cầu hóa.
Khi cả lô-gích thị trường và lô-gích Nhà Nước thỏa thuận rằng mỗi một bên sẽ tiếp tục thực thi một sự độc quyền nơi lãnh vực ảnh hưởng của mình, thì về lâu về dài nhiều thứ sẽ bị mất mát: liên đới trong các quan hệ giữa các công dân, việc tham dự và gắn bó, những hành động cho đi nhưng không, tất cả đều tương phản với việc cho đi để có lại (lô-gích trao đổi) và việc cho đi vì phận sự (lô-gích nghĩa vụ chung, do Nhà Nước đặt ra). Để chiến thắng tình trạng kém phát triển, cần phải có những hành động không những để cải tiến các giao dịch dựa trên trao đổi và xác lập những cơ cấu phục vụ phúc lợi chung, nhưng nhất là cần dần dần khai mở, trong bối cảnh toàn thế giới, các hình thức hoạt động kinh tế mang tính nhưng không và hiệp thông. Mô hình nhị phân độc quyền thị trường cộng với Nhà Nước làm xói mòn xã hội, trong khi các hình thức kinh tế dựa trên tình liên đới, tìm thấy mảnh đất để hoạt động tốt nhất là ở trong xã hội dân sự, nhưng không bị hạn chế trong đó, lại dựng xây xã hội. Thị trường nhưng không không tồn tại, và những thái độ nhưng không không thể được xác lập bởi pháp luật. Tuy nhiên, cả thị trường và chính trị đều cần đến những cá nhân cởi mở đối với quà tặng hỗ tương.
40. Thương trường kinh tế quốc tế ngày nay, được đánh dấu bằng những sai lệch và thất bại trầm trọng, đòi hỏi một cách hiểu hết sức mới mẻ về doanh nghiệp. Những mô hình cũ đang biến mất, nhưng các mô hình mới đầy hứa hẹn thì đang hình thành ở chân trời. Chắc chắn một điều, một trong những nguy cơ lớn nhất đối với các doanh nghiệp là các doanh nghiệp hầu như chỉ phải trả lời trước các nhà đầu tư của mình, do đó hạn chế giá trị xã hội của doanh nghiệp. Để phát triển về quy mô và vì nhu cầu tăng vốn, các doanh nghiệp càng ngày càng ít có giám đốc nào tại vị lâu bền, chịu trách nhiệm trong dài hạn, chứ không phải ngắn hạn, về đời sống và các kết quả của công ty mình, và càng ngày càng trở nên hiếm có các doanh nghiệp phụ thuộc vào một lãnh thổ duy nhất. Ngoài ra, phương thức gọi là gia công sản xuất bên ngoài có thể làm yếu đi ý thức trách nhiệm của công ty đối với các nhóm lợi ích – nghĩa là các công nhân, nhà cung cấp, người tiêu dùng, môi trường tự nhiên và xã hội mở rộng – cho bằng đối với các cổ đông, những người này không gắn kết với một khu vực địa lý cụ thể và vì thế là người được hưởng lợi từ sự di chuyển địa điểm sản xuất. Thị trường vốn quốc tế ngày nay cung hiến nhiều tự do hoạt động. Tuy nhiên, cũng đang có sự gia tăng ý thức về nhu cầu cần phải có trách nhiệm xã hội lớn hơn về phần doanh nghiệp. Cho dù các quan tâm về đạo đức hiện nay đang có vấn đề tranh cãi liên quan đến trách nhiệm xã hội của giới doanh nghiệp, không phải tất cả đều có thể chấp nhận được theo quan điểm học thuyết xã hội của Hội Thánh, tuy nhiên, đang gia tăng một niềm xác tín là ban quản trị doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm đến những lợi ích của chủ sở hữu, mà còn phải lãnh trách nhiệm đối với tất cả các người có lợi ích liên quan khác, là những người đóng góp vào đời sống doanh nghiệp: công nhân, khách hàng, các nhà cung cấp các yếu tố sản xuất khác nhau, cộng đồng có liên quan. Trong những năm gần đây, một loại quản trị viên toàn cầu mới đã xuất hiện, thường chỉ chịu trách nhiệm đối với những cổ đông nói chung gồm những quỹ vô danh, trong thực tế là người xác định thù lao trả cho họ. Thế nhưng, ngược lại, nhiều quản trị viên nhìn xa trông rộng ngày nay đang càng ngày càng ý thức về những liên hệ sâu xa giữa doanh nghiệp của họ với lãnh thổ hay những lãnh thổ hoạt động của mình. Đức Phaolô VI đã mời gọi hãy nghiêm túc chú ý đến các thiệt hại có thể gây ra cho nước sở tại bởi việc chuyển vốn ra nước ngoài hoàn toàn vì lợi ích riêng tư [95]. Đức Gioan Phaolô II dạy rằng đầu tư bao giờ cũng mang ý nghĩa luân lý cũng như ý nghĩa kinh tế [96]. Tất cả những điều này – cần nhấn mạnh – ngày nay vẫn còn có giá trị, mặc dù thị trường vốn đã được tự do hóa rất nhiều, và tư duy công nghệ hiện đại có thể gợi ý rằng đầu tư chỉ là một động tác kỹ thuật, chứ không phải là một động tác nhân bản và đạo đức. Không có lý do để phủ nhận rằng một khoản tiền nào đó có thể mang lại lợi ích, nếu được đầu tư ở nước ngoài hơn là ở trong nước. Tuy nhiên, cần phải duy trì những đòi hỏi về công bằng, với sự quan tâm thích đáng đến phương cách vốn phát sinh và thiệt hại cho những cá nhân phải gánh chịu nếu vốn này không được sử dụng ở nơi vốn được sinh ra [97]. Cần phải tránh sử dụng các nguồn lực tài chính vào mục đích đầu cơ theo chiều hướng chỉ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, không quan tâm đến tính bền vững dài hạn của doanh nghiệp, lợi ích cho nền kinh tế thực và chú ý đến vấn đề xúc tiến, bằng những phương thế thích hợp và thỏa đáng, thêm những sáng kiến kinh tế tại những nước cần phát triển. Sự thực thì việc xuất khảu các khoản đầu tư và các kỹ năng có thể mang lại lợi ích cho dân chúng của nước tiếp nhận. Lao động và kiến thức kỹ thuật là một hàng hóa phổ quát. Tuy nhiên, thật không đúng khi xuất khẩu những mặt hàng này hoàn toàn vì muốn đạt được những điều kiện thuận lợi, hoặc tệ hơn, vì các mục đích khai thác, không thực sự đóng góp cho xã hội địa phương bằng cách mang lại một hệ thống sản xuất và xã hội vững mạnh, một yếu tố thiết yếu cho sự phát triển bền vững.
41. Trong bối cảnh của cuộc bàn luận này, cần nhận định rằng doanh nghiệp bao gồm một loạt ý nghĩa đa giá trị, càng ngày càng rộng lớn hơn ở mọi lúc. Quyền bá chủ liên tục của mô hình nhị phân thị trường - cộng - Nhà Nước đã khiến ta, một mặt, chỉ quen nghĩ đến lãnh đạo doanh nghiệp tư theo chiều hướng tư bản và mặt khác, giám đốc Nhà Nước. Trên thực tế, tinh thần doanh nghiệp cần phải được hiểu một cách đa dạng. Có một số lý do, thuộc loại kinh tế vĩ mô, có thể nói thế. Hoạt động kinh doanh có một ý nghĩa nhân bản, trước cả ý nghĩa nghề nghiệp của nó [98]. Nó hiện diện nơi tất cả mọi công việc, được hiểu như là một hành động riêng tư, một “actus personae” (hành vi nhân vị) [99], một hành động là lý do tại sao mọi công nhân cần phải có cơ hội để thực hiện việc góp phần của mình, với ý thức là một cách nào đó “họ đang làm việc cho ‘chính họ’” [100]. Đức Phaolô đã có lý để dạy rằng “mỗi người làm việc đều là một hóa công” [101]. Chính vì để đáp ứng cho các nhu cầu và phẩm giá của công nhân, cũng như các nhu cầu của xã hội, mới có những loại doanh nghiệp khác nhau, không phải chỉ đơn thuần phân biệt giữa “tư” và “công”. Mỗi loại doanh nghiệp này đòi hỏi và thể hiện một khả năng kinh doanh cụ thể. Để xây dựng một nền kinh tế sớm đóng vai trò phục vụ công ích quốc gia và toàn cầu, cần chú ý đến ý nghĩa rộng hơn này của hoạt động kinh doanh. Nó thiên về việc làm phong phú giữa những loại khác nhau của hoạt động kinh doanh, bằng việc chuyển các năng lực từ thế giới “không vì lợi nhuận” sang thế giới “vì lợi nhuận” hay ngược lại, từ thế giới công sang xã hội dân sự, từ các nền kinh tế tiên tiến sang các nước đang phát triển.
“Thẩm quyền chính trị” cũng bao gồm một loạt các giá trị, không được bỏ qua trong tiến trình xây dựng một trật tự mới về sản xuất kinh tế, trách nhiệm xã hội và nhân bản về xã hội theo quy mô. Và trong việc vun trồng các hình thức khác nhau của hoạt động kinh doanh trên bình diện toàn cầu, ta cũng cần phải cổ vũ một thẩm quyền chính trị phân tán, có hiệu lực ở những cấp khác nhau. Nền kinh tế hội nhập của ngày nay không làm cho vai trò của Nhà Nước trở thành dư thừa, trái lại, nó ủy thác cho các chính phủ việc hợp tác với nhau nhiều hơn. Cả sự khôn ngoan lẫn thận trọng đều cho rằng đừng quá cứng ngắc trong vấn đề tuyên bố chuyển nhượng của Nhà Nước. Về vấn đề giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay, vai trò của Nhà Nước dường như gia tăng hơn, khi Nhà Nước lấy lại nhiều quyền năng của mình. Ngoài ra, ở một số quốc gia, việc cấu trúc và tái cấu trúc của Nhà Nước vẫn là một yếu tố chính yếu trong sự phát triển của những quốc gia ấy. Việc tập trung vào viện trợ quốc tế, trong khuôn khổ một kế hoạch dựa trên tình liên đới để giải quyết các vấn đề kinh tế ngày nay, cần phải củng cố các hệ thống định chế, pháp lý và hành chính tại những nước chưa hưởng được đầy đủ các hàng hóa này. Song song với viện trợ kinh tế, cần phải có những trợ giúp hướng đến việc củng cố những bảo đảm thích đáng với Nhà Nước pháp quyền: một hệ thống trật tự công cộng và hình phạt tù giam hữu hiệu tôn trọng nhân quyền, tôn trọng những tổ chức thực sự dân chủ. Nhà Nước không cần có những đặc tính đồng nhất ở mọi nơi: việc nâng đỡ nhắm đến chỗ củng cố các hệ thống hiến định yếu kém có thể dễ dàng được kèm theo bởi sự phát triển của những chủ thể chính trị khác, có một bản chất văn hóa, xã hội, lãnh thổ hoặc tôn giáo, bên cạnh Nhà Nước. Việc ăn khớp với nhau của thẩm quyền chính trị ở những cấp địa phương, quốc gia và quốc tế là một trong những cách hay nhất mở hướng đi cho tiến trình toàn cầu hóa kinh tế. Đó cũng là phương thế bảo đảm rằng nó không thực sự làm hại đến các nền tảng dân chủ.
42. Đôi khi người ta có cái nhìn tất định về vấn đề toàn cầu hóa như thể các động lực vận hành ở đó là sản phẩm của những lực lượng hoặc những cơ cấu vô danh phi ngã không lệ thuộc vào ý chí con người [102]. Về vấn đề này nên nhớ rằng nếu toàn cầu hóa chắc chắn cần được hiểu là một tiến trình kinh tế xã hội, nhưng đây không phải là chiều kích duy nhất của nó. Ẩn bên dưới tiến trình hiển hiện hơn ấy chính nhân loại lại đang càng ngày càng trở nên tương liên hơn nữa; nó được làm nên bởi các cá nhân con người và các dân tộc được hưởng những thiện ích và phát triển được cống hiến bởi tiến trình ấy [103], khi họ nhận lãnh trách nhiệm của mình một cách cá thể cũng như tổng thể. Việc phân chia ranh giới không phải chỉ là một sự kiện vật chất: nó cũng là một biến cố văn hóa ở cả căn nguyên của nó lẫn tác dụng của nó. Nếu vấn đề toàn cầu hóa được nhìn theo quan điểm tất định thuyết thì quy chuẩn được dùng để thẩm định và hướng dẫn nó không còn nữa. Như một thực tại nhân bản, nó là sản phẩm của các khuynh hướng khác nhau về văn hóa, những khuynh hướng cần phải được tùy thuộc vào một tiến trình phân định. Sự thật về vấn đề toàn cầu hóa như là một tiến trình và tiêu chuẩn về đạo đức căn bản của nó được cống hiến cho từ mối hiệp nhất của gia đình nhân loại cùng với sự phát triển của gia đình này hướng đến những gì tốt đẹp. Bởi thế cần phải liên tục dấn thân cổ vũ một tiến trình hội nhập toàn cầu hướng về siêu việt lấy căn bản là con người và hướng về cộng đồng.
Mặc dù không được chối bỏ một vài yếu tố cấu trúc của mình, nhưng cũng không được phóng đại, “vấn đề toàn cầu hóa, tiên thiên, không tốt cũng chẳng xấu. Nó sẽ trở thành điều người ta muốn cho nó” [104]. Ta không được là nạn nhân của nó, đúng hơn, là những người chủ chốt, hành động theo ánh sáng của lý trí trong bác ái và chân lý. Chống đối mù quáng sẽ là một thái độ sai lệch và cố chấp, không đưa ta đến chỗ nhận thấy các khía cạnh tích cực của tiến trình này, mà hậu quả nguy hiểm là bỏ qua cơ hội lớn, có thể đưa đến sự phát triển đa dạng. Những tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và hướng dẫn một cách thích đáng, hướng đến một tiềm năng chưa hề thấy của việc tái phân phối một cách sâu rộng sự thịnh vượng ở cấp toàn cầu; tuy nhiên, nếu được hướng dẫn một cách tai hại thì có thể dẫn đến tình trạng gia tăng nghèo khó và chênh lệch, và thậm chí có thể gây ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu. Cần phải chỉnh sửa các sai sót, một số sai sót rất là trầm trọng, đang gây ra các chia rẽ mới giữa các dân tộc và trong các dân tộc, cũng như cần phải bảo đảm việc tái phân phối sự thịnh vượng không kéo theo sự tái phân phối hoặc gia tăng tình trạng nghèo khó: một mối nguy hiểm thực sự nếu tình hình hiện nay được điều hành một cách tệ hại. Trong một thời gian dài người ta nghĩ rằng các dân tộc nghèo khó cần phải ở nguyên một chỗ trong giai đoạn phát triển và bằng lòng lãnh nhận trợ giúp nhân đạo từ các dân tộc phát triển. Đức Phaolô đã mạnh mẽ chống lại não trạng này trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc. Ngày nay, những nguồn lực vật chất sẵn có cho việc phục hồi các dân tộc này khỏi cảnh nghèo khó đang có khả năng nhiều hơn trước đây, thế nhưng họ phần lớn lại rơi vào tay của những người thuộc các nước phát triển, thành phần được hưởng lợi hơn từ việc giải phóng hóa đã xảy ra nơi việc di động về vốn và lao công. Việc phổ biến rộng rãi sự thịnh vượng, bởi thế, không thể bị chặn lại bằng những dự án ích kỷ, chỉ nhắm bảo vệ hoặc phục vụ những lợi ích riêng tư. Thật vậy, việc tham gia của các nước mới nổi hoặc đang phát triển giúp ta có thể giải quyết tốt hơn cuộc khủng hoảng ngày nay. Việc chuyển tiếp nội tại trong tiến trình toàn cầu hóa cho thấy những khó khăn và nguy hiểm lớn lao chỉ có thể thắng vượt nếu ta ý thức được tinh thần nhân nhân bản và đạo đức, thúc đẩy sâu xa vấn đề toàn cầu hóa đến mục tiêu nhân bản hóa trong tình liên đới. Tiếc thay, tinh thần này thường bị áp đảo hay đè nén bởi những cách nhìn đạo đức và văn hóa có tính vị kỷ và thực dụng. Toàn cầu hóa là một hiện tượng nhiều mặt và phức tạp cần phải nắm bắt trong tính đa diện và thống nhất mọi khía cạnh khác nhau, bao gồm cả chiều kích thần học. Bằng cách này ta mới có thể sống và định hướng việc toàn cầu hóa nhân loại trong ý nghĩa tương quan, hiệp thông và chia sẻ hàng hóa.
CHƯƠNG BỐN
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC
QUYỀN VÀ NHIỆM VỤ
MÔI TRƯỜNG
43. “Tình liên đới đại đồng là một điều có thực, đem lại cho ta không những lợi ích mà đặt ra cả bổn phận nữa” [105]. Ngày nay nhiều người cho rằng họ không nợ nần gì với ai, ngoại trừ bản thân họ. Họ chỉ quan tâm đến các quyền lợi của mình, và họ thường gặp khó khăn lớn trong việc đảm nhận trách nhiệm về sự phát triển toàn diện của chính họ cũng như của người khác. Cho nên điều quan trọng là cần tư duy lại vấn đề làm thế nào để quyền lợi phải đi kèm với các bổn phận, nếu không thì quyền lợi trở thành độc đoán [106]. Ngày nay ta đang chứng kiến một nghịch lý nghiêm trọng. Một mặt, người ta đòi hỏi các quyền tự bản chất không thiết yếu cần phải được các cơ cấu công cộng công nhận và cổ vũ, mặt khác, các quyền sơ đẳng và căn bản của con người vẫn không được công nhận và bị vi phạm nhiều trên thế giới [107]. Người ta thường nhận thấy có một mối liên kết giữa những đòi hỏi về một “quyền thái quá”, thậm chí đi đến chỗ vi phạm và dung dưỡng những điều xấu, trong những xã hội giàu có, với tình trạng thiếu thốn lương thực, nước uống, nền giáo dục căn bản và việc chăm sóc sức khỏe cơ bản ở những vùng của thế giới kém phát triển và ở các miền ngoại ô các trung tâm đô thị lớn. Liên kết là ở chỗ này: các quyền cá nhân, khi bị tách khỏi một bộ khung các bổn phận mang lại cho chúng trọn vẹn ý nghĩa, có thể trở thành hoang dã, dẫn đến một sự leo thang những đòi hỏi trong thực tế là vô hạn và không rạch ròi. Quá nhấn mạnh đến quyền lợi sẽ đưa đến chỗ xem nhẹ các bổn phận. Bổn phận đặt giới hạn cho quyền lợi vì bổn phận chỉ cho thấy bộ khung nhân học và đạo đức mà quyền lợi là một bộ phận, nhờ đó bảo đảm rằng quyền lợi không trở thành độc đoán. Như thế bổn phận củng cố quyền lợi và kêu gọi bênh vực và cổ vũ quyền lợi như một công việc phải thực hiện để phục vụ công ích. Bằng không, nếu nền tảng duy nhất của các quyền của con người là do một tập thể công dân họp lại rồi quyết định thì các quyền ấy có thể bị thay đổi bất kỳ lúc nào, và như thế bổn phận tôn trọng và thực thi quyền sẽ bị phai nhòa nơi ý thức chung của cộng đồng. Các chính quyền và cơ quan quốc tế bấy giờ có thể không còn thấy tính khách quan và “bất khả vi phạm” của các quyền lợi. Khi điều này xảy ra, sự phát triển đích thực của các dân tộc sẽ gặp nguy hiểm [108]. Lối suy nghĩ và hành xử như thế làm suy giảm thẩm quyền của các cơ quan quốc tế, nhất là trong mắt của những nước cần phát triển nhất. Thật vậy, những nước này đòi hỏi rằng cộng đồng quốc tế lãnh nhận nhiệm vụ giúp họ trở thành “những người làm chủ vận mệnh của mình” [109], tức là, lãnh nhận các nhiệm vụ của họ. Việc chia sẻ bổn phận một cách hỗ tương là một sự khuyến khích hành động còn mãnh liệt hơn là chỉ khẳng định suông về quyền lợi.
44. Khái niệm về quyền lợi và bổn phận trong vấn đề phát triển cũng phải lưu tâm đến các vấn đề liên quan đến sự gia tăng dân số. Đây là một khía cạnh rất quan trọng của sự phát triển đích thực, vì có liên quan đến các giá trị không thể coi thường của sự sống và gia đình [110]. Việc xem vấn đề gia tăng dân số như nguyên nhân cơ bản của tình trạng kém phát triển là nhầm lẫn, kể cả nhìn từ quan điểm kinh tế. Chỉ cần xét đến, một mặt là tình trạng suy giảm đáng kể mức tử vong trẻ sơ sinh và việc gia tăng tuổi thọ nơi các nước phát triển về kinh tế, và một mặt là những dấu hiệu khủng hoảng xảy ra nơi các xã hội đang được ghi nhận có tình trạng suy giảm đến độ báo động về mức sinh sản. Hiển nhiên phải chú ý đến vấn đề sinh sản một cách có trách nhiệm, một trong những yếu tố góp phần tích cực thực hiện sự phát triển con người toàn diện. Trong sự quan tâm đến việc phát triển con người đích thực, Hội Thánh kêu gọi hãy tôn trọng hoàn toàn các giá trị nhân bản trong việc thực hiện hành vi tính dục. Tính dục không thể giảm thiểu thuần túy trở thành khoái lạc hoặc giải trí, giáo dục phái tính không thể biến thành một hướng dẫn kỹ thuật chỉ nhắm đến chỗ bảo vệ khỏi bị bệnh hoặc khỏi “nguy cơ” thụ thai. Điều này sẽ làm suy yếu và coi thường ý nghĩa sâu xa của tính dục, một ý nghĩa cần phải được công nhận và thực hiện một cách có trách nhiệm chẳng những đối với cá nhân mà còn đối với cộng đồng nữa. Thật vô trách nhiệm khi xem tính dục chỉ là một nguồn khoái lạc, và vì thế điều chỉnh tính dục bằng những biện pháp bắt buộc ngừa thai. Trong cả trường hợp, ta đều thấy hiện lên những suy nghĩ hay những chính sách duy vật, và con người cuối cùng phải chịu các hình thức bạo hành khác nhau. Để chống lại các chính sách đó, cần phải bảo vệ quyền căn bản của gia đình nơi lãnh vực tính dục [111], đối với Nhà Nước và những chính sách hạn chế, và bảo đảm cha mẹ được chuẩn bị thích hợp để lãnh nhận trách nhiệm.
Việc mở ra với sự sống trong tinh thần trách nhiệm là một sự phong phú với mặt xã hội và kinh tế. Các nước đông dân đã có thể thoát ra khỏi cảnh nghèo khó nhờ dân số đông và tiềm năng của dân chúng. Mặt khác, các nước giàu có trước đây hiện đang trải qua một giai đoạn bấp bênh, và ở trong một số trường hợp còn suy thoái, vì tình trạng dân số giảm; điều này đã trở thành một vấn đề then chốt cho các xã hội phát triển cao. Tình trạng giảm số sinh sản, có lúc giảm xuống dưới cả chỗ gọi là “mức thay thế”, cũng gây căng thẳng cho hệ thống an sinh xã hội, gia tăng tốn phí cho các hệ thống này, ăn thâm vào tiết kiệm và vì thế ăn vào các nguồn tài chính cần thiết để đầu tư, giảm số lao động chuyên nghiệp, và thu hẹp “nguồn chất xám” mà các dân tộc dựa vào. Ngoài ra, các gia đình nhỏ bé và có lúc rất nhỏ đang có nguy cơ bị suy yếu các mối quan hệ xã hội, và không thể bảo đảm những hình thức hữu hiệu của tình liên đới. Các trường hợp này là triệu chứng của việc không đủ tin tưởng vào tương lai và mệt mỏi về tinh thần. Bởi thế, tiếp tục đề xuất với các thế hệ tương lai vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình, cho họ thấy các cơ cấu này đáp ứng các nhu cầu và phẩm giá sâu xa nhất của con người, trở thành một nhu cầu xã hội, và cả nhu cầu kinh tế nữa. Theo chiều hướng này, các Nhà Nước được kêu gọi ban hành các chính sách cổ vũ tính trung tâm và toàn diện của gia đình được lập trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, tế bào căn bản sống còn của xã hội [112], và lãnh trách nhiệm về các nhu cầu kinh tế và tài chính, trong khi vẫn tôn trọng bản tính tương giao thiết yếu của gia đình.
45. Việc đáp ứng các nhu cầu sâu xa nhất của con người cũng có những dư âm quan trọng và ích lợi trên bình diện kinh tế. Kinh tế cần đạo đức để hoạt động đúng đắn – không phải bất kỳ loại đạo đức nào, mà là một nền đạo đức lấy con người là trung tâm. Ngày nay ta nghe nói nhiều về đạo đức trong thế giới kinh tế, tài chánh và kinh doanh. Các trung tâm nghiên cứu, và các hội thảo về đạo đức trong kinh doanh đang gia tăng; hệ thống chứng chỉ đạo đức đang lan tràn khắp các nước phát triển như một phần của phong trào tư duy về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. Các ngân hàng đang đề ra tài khoản “đạo đức” và các quỹ đầu tư. “Việc tài trợ có tính cách đạo đức” đang được phát triển, nhất là qua tiểu tín dụng, và rộng rãi hơn, tiểu tài trợ. Các quy trình này đáng ca ngợi và đáng được ủng hộ. Những tác dụng tích cực của chúng cũng đang được cảm nghiệm nơi các vùng kém phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cần phải phát triển một chuẩn mực phân định lành mạnh, vì tĩnh từ “đạo đức” có thể bị lạm dụng. Khi được sử dụng một cách chung chung, từ này có thể được giải thích với nhiều nội dung khác nhau, thậm chí cho đến độ bao gồm cả những quyết định và chọn lựa trái với công lý và sự thiện hảo đích thực của con người.
Thật vậy, điều đó tùy thuộc nhiều vào hệ thống luân lý nền tảng. Về đề tài này, học thuyết xã hội của Hội Thánh có thể thực hiện một đóng góp cụ thể, vì học thuyết căn cứ vào việc con người được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27), một dữ kiện làm xuất phát phẩm giá không thể vi phạm của con người và giá trị siêu việt của các chuẩn mực luân lý tự nhiên. Khi xa rời hai trụ cột này, chắc chắn đạo đức trong kinh doanh có nguy cơ mất đi bản chất đặc thù của mình và trở thành mồi cho các hình thức khai thác; cụ thể hơn, nó có nguy cơ quỵ lụy các hệ thống kinh tế và tài chính hiện nay hơn là điều chỉnh những khía cạnh hư hại của chúng. Trong số những điều khác, nó có nguy cơ bị sử dụng để biện minh cho vấn đề tài trợ các dự án trong thực tế là phi đạo đức. Chữ “đạo đức”, bởi thế, không được sử dụng để thực hiện những phân biệt về ý thức hệ, như thể cho rằng các sáng kiến không chính thức được phác họa sẽ không có tính cách đạo đức. Cần có những nỗ lực – và thực sự cần phải nói đến điều này – chẳng những để tạo nên những phần hay những đoạn “đạo đức” của kinh tế hay của thế giới tài chính, mà còn bảo đảm là toàn thể nền kinh tế – toàn thể vấn đề tài chính – đều có tính đạo đức, chứ không phải chỉ là nhãn hiệu bên ngoài, nhưng theo những đòi hỏi nội tại nơi chính bản chất của nó. Học thuyết xã hội của Hội Thánh hoàn toàn rõ ràng về vấn đề này, nhắc nhở rằng kinh tế, trong tất cả mọi lãnh vực của nó, là một phần của hoạt động con người [113].
46. Khi ta xem xét các vấn đề có liên quan trong quan hệ giữa kinh doanh và đạo đức, cũng như diễn biến đang xảy ra trong các phương thức sản xuất, dường như sự phân biệt có giá trị truyền thống giữa các công ty dựa trên lợi nhuận và các tổ chức phi lợi nhuận không còn có thể phù hợp với thực tế, hoặc có thể đưa ra hướng dẫn thực tiễn cho tương lai. Trong những thập niên gần đây một khu vực trung gian rộng lớn đã xuất hiện giữa hai loại doanh nghiệp. Khu vực trung gian đó gồm các công ty truyền thống, tuy nhiên, lại tham gia các hợp đồng tài trợ xã hội nhằm ủng hộ các nước kém phát triển, các cơ sở từ thiện có liên quan đến các công ty cá nhân, các nhóm công ty hướng đến phúc lợi xã hội, và thế giới đa dạng của nền kinh tế gọi "kinh tế dân sự" và "kinh tế hiệp thông". Đây không chỉ là vấn đề "khu vực ba", mà là một thực tại mới, rộng lớn và phức tạp, bao gồm các lãnh vực tư nhân và công cộng, một lãnh vực không loại trừ lợi nhuận, nhưng trái lại xem lợi nhuận như một phương tiện để đạt đến các cứu cánh nhân loại và xã hội. Dù các công ty đó có phân chia cổ tức hay không, dù cấu trúc pháp lý của chúng có đáp ứng một hình thức này hoặc hình thức kia của các loại hình được thiết lập, trở nên phụ thuộc liên quan đến việc chúng sẵn sàng xem lợi nhuận như một phương tiện để đạt mục tiêu của một thị trường và xã hội nhân bản hơn. Hy vọng rằng những loại doanh nghiệp mới này sẽ thành công trong việc tìm ra một cấu trúc pháp lý và tài chánh thích hợp tại mọi nước. Không phương hại đến tầm quan trọng và các lợi ích kinh tế và xã hội của các hình thức kinh doanh truyền thống, chúng hướng hệ thống đến một sự đảm nhận rõ ràng hơn và hoàn bị hơn các nhiệm vụ về phần các chủ thể kinh tế. Và không phải chỉ có thế. Chính tính đa nguyên của các loại hình định chế của doanh nghiệp làm phát sinh một thị trường không những văn minh hơn nhưng cũng cạnh tranh hơn.
47. Cần tiến hành việc củng cố các loại doanh nghiệp khác nhau, nhất là các loại có khả năng xem lợi nhuận như phương tiện để đạt đến mục đích một thị trường và xã hội mang tính nhân bản hơn nơi các nước bị loại trừ hay ở bên lề tầm ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu. Ở những nước này, cần xúc tiến các dự án theo nguyên tắc phụ trợ, được hoạch định và điều hành tốt, nhằm củng cố quyền lợi đồng thời đảm nhận các trách nhiệm tương ứng. Trong các chương trình phát triển, phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc lấy con người là trung tâm, với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm hàng đầu về sự phát triển. Mối quan tâm chính phải là việc cải thiện các điều kiện sống của người dân trong một vùng nhất định, nhờ vậy giúp họ có thể tiến hành các nhiệm vụ mà cảnh nghèo khó hiện tại không cho phép hoàn thành. Mối quan tâm xã hội không bao giờ là một thái độ trừu tượng. Những chương trình phát triển, nếu muốn thích ứng với các hoàn cảnh cá nhân, cần phải linh hoạt; và những người được hưởng lợi ích từ các chương trình đó phải trực tiếp tham gia hoạch định và thực hiện. Cần áp dụng các tiêu chí tiệm tiến và đồng hành – bao gồm cả việc kiểm soát các kết quả – vì không có giải pháp bài bản nào có giá trị cho mọi trường hợp. Điều đó tùy thuộc rất nhiều vào phương thức các chương trình được quản trị trên thực tế. “Các dân tộc sẽ tự đảm nhiệm trách nhiệm chính trong việc thực hiện công cuộc phát triển chính mình. Thế nhưng họ sẽ không hoàn thành được điều này trong sự cô lập” [114]. Những lời này của Đức Phaolô VI ngày nay lại càng hợp thời hơn bao giờ hết, khi thế giới chúng ta càng ngày càng trở nên hội nhập hơn. Các động lực của hội nhập không mang tính máy móc. Giải pháp cần được đưa ra một cách thận trọng để đáp ứng với đời sống cụ thể của các dân tộc và những con người cụ thể, dựa vào một sự đánh giá đúng đắn mỗi tình huống. Bên cạnh các những dự án lớn có chỗ cho những dự án nhỏ, và ngoài ra, còn cần sự tổng động viên tích cực tất cả các chủ thể của xã hội dân sự, cả pháp nhân lẫn thể nhân.
Công cuộc hợp tác quốc tế cần những người tham gia tiến trình phát triển kinh tế và nhân bản với tình liên đới bằng sự hiện diện, đồng hành, đào tạo và kính trọng. Theo quan điểm này, tổ chức quốc tế có thể đặt lại vấn đề về hiệu quả thực sự của guồng máy quản trị mang tính bàn giấy thường rất tốn kém. Có những trường hợp bên được viện trợ lại trở nên lệ thuộc vào bên viện trợ, và người nghèo lại giúp kéo dài guồng máy rất tốn kém này, làm tiêu hao thái quá phần ngân quỹ giành cho phát triển. Bởi thế, hy vọng rằng mọi cơ quan quốc tế cũng như các tổ chức phi chính phủ sẽ quyết tâm thực hiện tính minh bạch bằng cách thông báo cho các bên viện trợ cũng như cho công chúng biết tỷ lệ phần trăm ngân quỹ được phân bổ cho các chương trình hợp tác, nội dung thực tế của những chương trình đó, và sau hết các chi tiêu chi tiết của tổ chức.
48. Ngày nay, vấn đề phát triển cũng liên quan chặt chẽ đến cả các nhiệm vụ xuất phát từ mối quan hệ của ta với môi trường thiên nhiên nữa. Môi trường là quà tặng Thiên Chúa ban cho mọi người, và trong việc sử dụng ta có trách nhiệm đối với người nghèo, đối với các thế hệ tương lai và toàn thể nhân loại. Khi thiên nhiên, bao gồm cả con người, được xem là kết quả của một sự tình cờ ngẫu nhiên hay kết quả tiến hóa theo thuyết tất định thì ý thức trách nhiệm của chúng ta bị yếu kém đi. Nơi thiên nhiên, người tin nhận ra thành quả tuyệt vời của việc Thiên Chúa sáng tạo mà con người được sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu chính đáng, về vật chất hay tinh thần, trong sự tôn trọng tình trạng cân bằng nội tại của tạo vật. Nếu cái nhìn này bị mất đi, ta sẽ tiến đến chỗ xem thiên nhiên như một cấm kỵ không thể chạm đến, hoặc trái lại, lạm dụng nó. Cả hai thái độ này không phù hợp với cái nhìn của Kitô giáo về thiên nhiên, hoa trái tạo dựng của Thiên Chúa.
Thiên nhiên thể hiện dự án yêu thương và sự thật. Thiên nhiên có trước ta, và được Thiên Chúa ban cho ta như môi trường cho đời sống của ta. Thiên nhiên nói với ta về Đấng Hóa Công (x. Rm 1,20) cũng như về tình Người yêu thương nhân loại. Thiên nhiên được định liệu để “được quy tụ” trong Chúa Kitô vào lúc tận cùng thời gian (x. Ep 1,9-10; Cl 1,19-20). Bởi thế nó cũng là một “ơn gọi” [115]. Thiên nhiên ở trong tay ta không phải như là “một đống phế thải bừa bãi” [116], mà là một quà tặng của Đấng Hóa Công, Vị đã ban cho nó một trật tự sẵn có, giúp con người có thể rút ra từ thiên nhiên những nguyên tắc cần thiết để “giữ gìn và canh tác” (St 2,15). Thế nhưng, cũng cần phải nhấn mạnh rằng hoàn toàn ngược lại với sự phát triển khi coi thiên nhiên như một cái gì đó quan trọng hơn con người. Chủ trương này dẫn đến những thái độ của chủ nghĩa tân ngoại đạo hay một chủ nghĩa phiếm thần mới – việc cứu độ của con người không thể nào xuất phát từ thiên nhiên, được hiểu theo ý nghĩa thuần túy tự nhiên. Cũng cần phải loại trừ chủ trương ngược lại, một chủ trương muốn hoàn toàn làm chủ thiên nhiên bằng kỹ thuật, vì môi trường thiên nhiên không phải chỉ có vật chất mà ta được quyền sắp xếp theo sở thích của ta; nó là một công cuộc tuyệt vời của Đấng Tạo Hóa chất chứa một “văn phạm” cho thấy những mục đích và tiêu chuẩn để sử dụng khôn ngoan, chứ không phải để khai thác bừa bãi. Ngày nay sự phát triển bị tác hại nhiều chính là do những ý niệm méo mó này. Việc biến thiên nhiên thành một tổng hợp thuần túy những dữ kiện ngẫu nhiên sẽ tiến đến chỗ xâm hại môi trường, thậm chí còn khuyến khích các hoạt động không tôn trọng chính bản tính của con người nữa. Bản tính của ta, được tạo nên không những bởi vật chất mà còn bởi tinh thần, và như thế, được phú bẩm một ý nghĩa siêu việt và các khát vọng, nên nó mang tính quy phạm về văn hóa. Con người giải thích và hình thành môi trường tự nhiên thông qua văn hóa, đến lượt mình, văn hóa được định hướng qua việc sử dụng tự do một cách có trách nhiệm, theo các huấn lệnh của luật luân lý. Bởi thế, các dự án phát triển con người toàn diện không thể nào bỏ qua các thế hệ tương lai, nhưng phải được đánh dấu bằng tình liên đới và công bằng liên thế hệ, trong khi chú trọng đến các mặt: môi sinh, pháp lý, kinh tế, chính trị và văn hóa [117].
49. Những vấn đề liên quan đến việc chăm sóc và giữ gìn môi trường ngày nay phải chú tâm đến vấn đề năng lượng. Việc một số Nhà Nước, một số nhóm và tổ hợp năng lượng thu gom các nguồn năng lượng không thể phục hồi cho thấy một trở ngại trầm trọng đối với sự phát triển ở những nước nghèo. Những nước đó hoặc thiếu phương tiện kinh tế để có được những nguồn năng lượng không thể phục hồi hoặc thiếu tiền để tài trợ việc nghiên cứu các nguồn năng lượng mới để thay thế. Việc thu gom các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong nhiều trường hợp xảy ra ở những nước nghèo, gây ra cảnh khai thác và các cuộc xung đột thường xuyên giữa các nước và trong nội bộ các nước. Những xung đột này thường xảy ra trên mảnh đất của những nước đó, với con số tử vong, cảnh tàn phá nặng nề và những băng hoại khác. Cộng đồng quốc tế có nhiệm vụ khẩn trương tìm kiếm phương tiện định chế để điều chỉnh việc khai thác các nguồn tài nguyên không thể phục hồi, bao gồm cả các nước nghèo trong tiến trình, để cùng nhau hoạch định cho tương lai.
Trên mặt trận này, có một nhu cầu luân lý khẩn thiết về tình liên đới cần được đổi mới, nhất là nơi các quan hệ giữa các nước đang phát triển và các nước công nghiệp hóa cao [118]. Những xã hội tiên tiến về công nghệ có thể và cần phải giảm bớt việc tiêu thụ năng lượng nội địa của mình, bằng việc đổi mới các phương pháp sản xuất hoặc bằng cách gây ý thức mạnh hơn về môi sinh nơi công dân của mình. Cần phải nói thêm là hiện nay có thể cải tiến khả năng sản xuất năng lượng đồng thời khuyến khích việc nghiên cứu các hình thức khác của năng lượng. Tuy nhiên, cũng cần một sự tái phân phối toàn cầu về các nguồn năng lượng, nhờ đó các nước thiếu những nguồn lực này có thể tiếp cận. Số phận của các nước này không thể rơi vào tay của bất kỳ ai cho mình là kẻ đầu tiên chiếm được các chiến lợi phẩm, hoặc bất kỳ ai có thể thắng được những người khác. Ở đây ta đang bàn đến các vấn đề chính; nếu các vấn đề này được đối đầu một cách thích đáng, thì mọi người trong tinh thần trách nhiệm phải nhận ra tác động của chúng đối với các thế hệ tương lai, nhất là đối với nhiều người trẻ ở các nước nghèo, “yêu cầu đảm nhận phần chủ động của mình trong việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn” [119].
50. Trách nhiệm này mang tính toàn cầu, vì liên quan chẳng những đến vấn đề năng lượng mà còn với toàn thể tạo vật, mà chúng ta không được phép trao lại cho các thế hệ tương lai các nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt. Con người thực thi một cách hợp pháp một vai trò quản lý đầy tinh thần trách nhiệm đối với thiên nhiên, để bảo vệ thiên nhiên, để hưởng các hoa trái và để vun trồng thiên nhiên bằng những phương thức mới, nhờ sự trợ giúp của các công nghệ tiên tiến, để thiên nhiên có thể cung ứng và nuôi sống dân số thế giới một cách thỏa đáng. Trái đất này có chỗ cho mọi người: ở nơi đây toàn thể gia đình nhân loại phải tìm thấy các nguồn tài nguyên để sống xứng với phẩm giá của mình, nhờ sự giúp đỡ của chính thiên nhiên – quà tặng của Thiên Chúa cho con cái của Người – cũng như bằng sự chịu khó và óc sáng tạo. Ta đồng thời cũng phải nhìn nhận nghĩa vụ nặng nề của mình trong việc trao lại trái đất này cho các thế hệ tương lai trong tình trạng sao cho các thế hệ đó cũng có thể có cuộc sống xứng đáng và tiếp tục vun trồng. Điều này có nghĩa là dấn thân thực hiện các quyết định chung “sau khi suy nghĩ sáng suốt về con đường cần phải theo, những quyết định nhắm đến chỗ củng cố giao ước giữa con người và môi trường, một giao ước cần phản ảnh tình yêu thương sáng tạo của Thiên Chúa là Đấng chúng ta xuất phát và đang tiến về” [120]. Ta hy vọng rằng cộng đồng quốc tế và các chính quyền sẽ thành công trong việc đối đầu với những hình thức khai thác tai hại đối với môi trường. Cũng thế, nhà chức trách phải cố gắng hết sức nhằm bảo đảm những phí tổn kinh tế và xã hội trong việc sử dụng các tài nguyên môi trường được báo cáo minh bạch và những người hưởng dùng phải có trách nhiệm trang trải, chứ không phải bởi những người khác hay bởi các thế hệ tương lai: việc bảo vệ môi trường, các tài nguyên và khí hậu buộc mọi nhà lãnh đạo quốc tế cùng nhau hành động và tỏ ra sẵn sàng làm việc một cách thành tâm, tôn trọng pháp luật và cổ vũ tình liên đới với các vùng yếu kém trên hành tinh [121]. Một trong những thách đố lớn nhất gây khó khăn cho nền kinh tế là việc sử dụng hữu hiệu nhất – chứ không phải lạm dụng – các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dựa trên việc ý thức rằng ý niệm “tính hữu hiệu” không trung lập về mặt giá trị.
51. Phương thức con người đối xử với môi trường ảnh hưởng đến phương thức con người đối xứ với chính mình, hay ngược lại. Điều này kêu gọi xã hội hiện nay hãy nghiêm túc xét lại lối sống của mình, một lối sống mà ở nhiều vùng trên thế giới, đang hướng về chủ nghĩa khoái lạc và hưởng thụ, bất kể những hậu quả tai hại gây ra [122]. Điều cần thiết là một sự thay đổi tâm thức dẫn đến việc chấp nhận những lối sống mới “trong đó việc tìm kiếm chân, thiện, mỹ và mối hiệp thông với nhau vì sự phát triển chung là những yếu tố quyết định việc chọn lựa của người tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư” [123]. Mọi vi phạm đối với tình liên đới và tình bằng hữu dân sự đều tác hại đến môi trường, cũng như tình trạng suy yếu môi trường đến lượt mình gây khó khăn cho những mối quan hệ trong xã hội. Thiên nhiên, nhất là trong thời đại chúng ta, đã hội nhập sâu vào guồng máy sinh động của xã hội và văn hóa hiện nay đến mức không còn là một biến số độc lập nữa. Tình trạng sa mạc hóa và giảm năng suất ở một số vùng nông nghiệp cũng là hậu quả của nghèo đói và kém phát triển của dân cư nới đó. Chính thiên nhiên sẽ được bảo vệ khi động viên phát triển kinh tế và văn hóa. Ngoài ra, biết bao nhiêu nguồn tài nguyên thiên nhiên đã bị chiến tranh phá hủy! Hòa bình nơi và giữa các dân tộc cũng giúp bảo vệ thiên nhiên tốt hơn. Việc tích trữ các nguồn tài nguyên, nhất là nước, có thể gây ra các xung đột giữa các dân tộc có liên can. Một sự thỏa thuận hòa bình về vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên có thể bảo vệ thiên nhiên và đồng thời sự sung túc của các xã hội có liên quan.
Hội Thánh có trách nhiệm đối với công trình tạo dựng và Hội Thánh cần khẳng định trách nhiệm này trên bình diện công cộng. Trong khi thực hiện điều này, Hội Thánh phải bảo vệ không những trái đất, nước, và không khí như là quà tặng của công cuộc tạo dựng thuộc về mọi người. Trên hết mọi sự, Hội Thánh bảo vệ nhân loại khỏi sự tự hủy hoại chính mình. Cần phải hiểu đúng đắn về môi trường sinh thái của con người. Tình trạng suy thoái của thiên nhiên liên hệ chặt chẽ với nền văn hóa đã định hình cho đời sống chung của con người: khi “môi sinh nhân bản” [124] được tôn trọng trong xã hội thì môi sinh đích thực cũng sẽ được hưởng lợi. Cũng như các nhân đức của con người liên quan với nhau, đến độ một nhân đức yếu kém sẽ gây cho các nhân đức khác sự nguy hiểm thế nào, thì hệ thống môi sinh được căn cứ trên sự tôn trọng dự án cũng ảnh hưởng đến cả tình trạng lành mạnh của xã hội và mối liên hệ tốt đẹp với thiên nhiên.
Để bảo vệ thiên nhiên, khi đưa ra các những tiêu chuẩn cổ vũ hay cản trở cũng không đủ; thậm chí cả đến vấn đề giáo dục thích ứng cũng không đủ. Đây là những bước quan trọng, thế nhưng vấn đề mang tính quyết định là thái độ luân lý của toàn xã hội. Nếu quyền được sống và quyền được chết một cách tự nhiên không được tôn trọng, nếu việc thụ thai, mang thai và sinh hạ của con người được thực hiện một cách nhân tạo, nếu các phôi người bị hy sinh cho sự nghiên cứu, thì lương tâm của xã hội sẽ tiến đến chỗ mất đi ý niệm môi sinh nhân bản, và cùng với nó, cả vấn đề sinh thái môi trường nữa. Thật mâu thuẫn khi nhấn mạnh rằng các thế hệ tương lai tôn trọng môi trường thiên nhiên khi mà các hệ thống giáo dục của chúng ta và luật lệ lại không giúp chúng tự tôn trọng chính mình. Quyển sách thiên nhiên là duy nhất và không thể phân chia: bao gồm chẳng những môi trường mà còn cả sự sống, tính dục, hôn nhân, gia đình, các mối liên hệ xã hội nữa: tóm lại là vấn đề phát triển toàn diện con người. Những nhiệm vụ của chúng ta đối với môi trường liên kết với các nhiệm vụ mà chúng ta phải có đối với con người tự tại và trong mối liên hệ với những kẻ khác. Thật sai lầm khi chủ trương một loạt những bổn phận trong khi đó lại chà đạp lên các bổn phận khác. Đây là một nghịch lý trầm trọng nơi tâm thức và thực hành ngày nay: một nghịch lý hạ giá con người, làm rối loạn môi sinh và gây hại cho xã hội.
52. Chân lý và tình yêu nối kết nhau, không thể tự sản xuất ra được: chúng chỉ có thể được lãnh nhận như là một quà tặng. Nguồn mạch tối hậu của chúng không phải là và không thể là nhân loại mà chỉ là Thiên Chúa, Đấng chính là Chân Lý và Tình Yêu. Nguyên tắc này hết sức quan trọng đối với xã hội cũng như đối với sự phát triển, vì tình yêu và chân lý không phải là sản phẩm của nhân loại; ơn gọi phát triển về phần cá nhân và các dân tộc không chỉ dựa vào chọn lựa của con người, mà là một phần duy nhất của dự án có trước chúng ta và tạo nên một nhiệm vụ cần tất cả chúng ta tự nguyện chấp nhận. Những gì có trước chúng ta và tạo nên chúng ta – Tình Yêu và Chân Lý – cho ta thấy điều thiện hảo là gì và niềm hạnh phúc đích thực của ta ở chỗ nào. Tình Yêu và Chân Lý cho ta thấy con đường dẫn đến sự phát triển đích thực.
CHƯƠNG NĂM
SỰ HỢP TÁC
CỦA GIA ĐÌNH NHÂN LOẠI
53. Một trong những hình thức sâu xa nhất của sự nghèo khó mà con người có thể cảm nghiệm là sự cô lập. Nếu quan sát kỹ các loại nghèo khó khác, kể cả các hình thức vật chất, ta thấy rằng các hình thức đó phát sinh từ sự bị cô lập, không được yêu thương hoặc từ những khó khăn trong khả năng yêu thương. Nghèo khó thường phát xuất từ một sự từ khước tình yêu Thiên Chúa, bởi xu hướng cơ bản và bi thảm của con người tự đóng kín, cho rằng mình tự túc hoặc chỉ là một sự kiện không đáng kể và chóng qua, một “kẻ xa lạ” trong một vũ trụ ngẫu nhiên. Con người bị vong thân khi một mình, khi bị tách rời khỏi thực tại, khi ngừng suy nghĩ và tin vào một nền tảng [125]. Toàn thể nhân loại bị vong thân khi quá tin vào những dự án, ý thức hệ và những cảnh không tưởng sai lạc hoàn toàn của con người [126]. Ngày nay con người có vẻ tương tác hơn nhiều so với quá khứ: cảm thức gần gũi nhau được chia sẻ này phải được chuyển thành sự hiệp thông. Phát triển các dân tộc tùy thuộc vào, trên hết mọi sự, việc nhìn nhận rằng nhân loại là một gia đình làm việc chung trong mối hiệp thông đích thực, không chỉ đơn thuần là một nhóm người tình cờ sống bên cạnh nhau [127].
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nhận định rằng “thế giới rối loạn vì thiếu suy tư” [128]. Ngài đang thực hiện một quan sát, nhưng cũng diễn tả một ước muốn: cần có một hướng tư duy mới để đến một sự hiểu biết tốt hơn về hàm ý chúng ta là một gia đình; sự tương tác giữa các dân tộc của thế giới kêu gọi ta hãy bước lên lộ trình mới này, để cho hội nhập có thể mang ý nghĩa liên đới [129] chứ không phải là bị gạt ra bên lề. Tư duy loại này đòi hỏi một sự đánh giá quan trọng sâu xa hơn về loại quan hệ. Đây là một công việc không thể chỉ được đảm nhận bởi các khoa học xã hội mà thôi, trong chừng mực cần sự đóng góp của các môn học như siêu hình học và thần học nếu muốn hiểu đúng phẩm giá siêu việt của con người.
Với tư cách hữu thể linh thiêng, thụ tạo con người được định nghĩa thông qua các quan hệ liên cá nhân. Con người càng sống các quan hệ này đích thực thì bản sắc cá nhân của họ lại càng trưởng thành. Không phải trong sự cô lập mà con người thiết lập giá trị của mình, mà do bằng cách đặt mình vào trong quan hệ với những người khác và với Thiên Chúa. Do đó các quan hệ này mặc lấy tầm quan trọng cơ bản. Đối với các dân tộc cũng thế. Một sự hiểu biết siêu hình học về các quan hệ giữa người với người do đó có lợi lớn lao cho sự phát triển của họ. Về mặt này, lý trí tìm thấy sự gợi hứng và chiều hướng trong mạc khải Kitô giáo, theo đó cộng đồng nhân loại không nuốt trửng cá nhân, hủy hiệt sự tự chủ của họ, như xảy ra trong các hình thức khác nhau của chủ nghĩa toàn trị, nhưng đúng hơn đánh giá họ càng cao hơn bởi vì quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng là một quan hệ giữa một tổng thể với một tổng thể khác [130]. Cũng như một gia đình không phủ chìm các căn tính của các thành viên cá nhân, thì Hội Thánh cũng vui mừng trong mỗi “tạo thành mới” (Gl 6,15; 2 Cr 5,17) được tháp nhập bằng phép Rửa tội vào Thân thể sống của Hội Thánh, thì cũng thế sự thống nhất của gia đình nhân loại không phủ chìm các căn tính của các cá nhân, các dân tộc và các nền văn hóa, nhưng làm cho chúng càng thêm trong sáng đối với nhau và nối kết chúng thêm chặt chẽ trong tính đa dạng chính đáng của chúng.
54. Chủ đề phát triển có thể được đồng hóa với sự bao hàm trong tương quan của tất cả các cá nhân và các dân tộc trong một cộng đồng gia đình nhân loại, được xây dựng trong tình liên đới trên cơ sở các giá trị cơ bản công lý và hòa bình. Viễn tượng này được chiếu sáng một cách nổi bật bởi mối quan hệ giữa các Ngôi trong Ba Ngôi Thiên Chúa trong một Bản Thể thần linh duy nhất. Ba Ngôi Thiên Chúa là đơn vị tuyệt đối xét về Ba Ngôi thần linh là tương quan thuần túy. Sự trong sáng hỗ tương giữa các Ngôi thần linh là toàn bộ và mối liên kết giữa một Ngôi là hoàn toàn, bởi vì Ba Ngôi tạo thành một đơn vị duy nhất và tuyệt đối. Thiên Chúa mong muốn cũng đưa chúng ta vào trong thực tại này: “để họ được nên một như chúng ta là một” (Ga 17,22). Hội Thánh là một dấu hiệu và công cụ của sự hiệp nhất này [131]. Các quan hệ giữa con người suốt giòng lịch sử chỉ có thể được làm giàu bằng cách tham chiếu đến gương mẫu thần linh này. Nhất là, dưới ánh sáng mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa được mạc khải, ta hiểu rằng sự cởi mở đích thực không có nghĩa là đánh mất căn tính cá nhân nhưng là sự thâm nhập sâu xa. Điều này cũng xuất phát từ các kinh nghiệm chung của con người về tình yêu và chân lý. Cũng như tình yêu mang tính bí tích của đôi vợ chồng kết hợp họ một cách linh thiêng trong "một thân xác" (St 2,24; Mt 19,5; Ep 5,31) và làm cho cả hai nên một thực sự và trong mối tương quan, thì một cách tương tự chân lý kết hợp với tinh thần và khiến cho tinh thần suy nghĩ trong sự thống nhất, lôi cuốn tinh thần như một sự nên một với mình.
55. Mạc khải Kitô giáo về sự thống nhất của nhân loại giả định trước một sự giải thích siêu hình về “humanum” (nhân bản) trong đó tính tương đối mà một yếu tố thiết yếu. Các nền văn hóa và các tôn giáo khác giảng dạy tình huynh đệ và hòa bình và do đó có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển con người toàn diện. Một số thái độ tôn giáo và văn hóa, tuy nhiên, không bao quát hết được nguyên tắc tình yêu và chân lý và do đó rốt cục làm chậm trễ hoặc ngay cả cản trở sự phát triển con người đích thực. Có một số nền văn hóa trên thế giới ngày nay không buộc con người sống hiệp thông nhưng thực ra lại tách biệt họ ra khỏi nhau trong một cuộc tìm kiếm hạnh phúc cá nhân, giới hạn vào việc thỏa mãn các ước muốn tâm lý. Thêm vào đó, một sự phong phú nào đó "các con đường" tôn giáo khác nhau, thu hút các nhóm nhỏ hoặc ngay cả các cá nhân đơn lẻ, cùng với chủ nghĩa hổ lốn tôn giáo, có thể làm nảy sinh sự tách biệt và thoải mái. Một tác động tiêu cực có thể có của quy trình toàn cầu hóa là xu hướng ưu đãi loại chủ nghĩa hổ lốn này [132] bằng cách khuyến khích các hình thức “tôn giáo”, thay vì đem con người lại gần nhau, lại làm cho họ xa lạ với nhau và xa rời thực tế. Đồng thời, một số truyền thống tôn giáo và văn hóa, làm sơ cứng xã hội thành các nhóm xã hội cứng nhắc, vẫn còn nhấn mạnh niềm tin vào ma thuật không tôn trọng phẩm giá con người, và trong các thái độ tùng phục các quyền lực huyền bí. Trong các ngữ cảnh này, tình yêu và chân lý gặp khó khăn trong việc khẳng định mình, và sự phát triển đích thực bị cản trở.
Vì lý do này, trong khi phát triển có thể cần các tôn giáo và các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau, thì cũng đúng không kém là cần có sự phân định thích hợp. Tự do tôn giáo không có nghĩa là sự dửng dưng thờ ơ về tôn giáo, cũng không hàm ý rằng mọi tôn giáo đều ngang bằng [133]. Cần phân định về sự đóng góp của các nền văn hóa và tôn giáo, nhất là về phần những người cầm nắm quyền lực chính trị, nếu cộng đồng xã hội phải xây dựng trên một tinh thần tôn trọng công ích. Sự phân định đó phải được dựa trên tiêu chí bác ái và chân lý. Vì sự phát triển con người và các dân tộc đang lâm nguy, sự phân định này sẽ phải xem xét đến nhu cầu giải phóng và bao gồm, trong ngữ cảnh một cộng đồng nhân loại thực sự toàn cầu. “Toàn thể con người và toàn bộ mọi người” cũng là tiêu chí đánh giá các nền văn hóa và tôn giáo. Kitô giáo, tôn giáo của “Thiên Chúa có khuôn mặt con người”[134], tự bản thân chứa đựng chính cái tiêu chí này.
56. Kitô giáo và các tôn giáo khác có thể đóng góp vào sự phát triển chỉ khi Thiên Chúa có một nơi trong lãnh vực công cộng, cụ thể liên quan đến những chiều kích văn hóa, xã hội, kinh tế và đặc biệt là chính trị. Học thuyết xã hội của Hội Thánh ra đời là để khẳng định “tư cách công dân” cho Kitô giáo [135]. Việc khước từ quyền tuyên xưng tôn giáo của mình nơi công cộng và quyền đem các chân lý đức tin vào cuộc sống công cộng có những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển đích thực. Việc loại trừ tôn giáo ra khỏi nơi công cộng — và, ở thái cực bên kia, chủ nghĩa cơ bản tôn giáo — ngăn cản một sự gặp gỡ giữa các con người và sự cộng tác giữa những người này vì sự tiến bộ của nhân loại. Cuộc sống công cộng bị kiệt quệ hứng khởi của mình và chính trị mặc lấy tính thống trị và hung hăng. Các quyền con người có cơ nguy bị coi thường, hoặc vì chúng bị tước lột cái nền tảng siêu việt của chúng hoặc vì tự do cá nhân không được công nhận. Chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa cơ bản loại trừ khả năng đối thoại đầy hoa trái và cộng tác có hiệu quả giữa lý trí và đức tin tôn giáo. Lý trí luôn luôn cần phải được đức tin thanh tẩy: điều này cũng đúng với cả lý trí chính trị, không được xem mình là toàn năng. Về phần mình, tôn giáo bao giờ cũng cần phải được lý trí thanh luyện để cho thấy bộ mặt đích thực của tôn giáo. Bất kỳ vi phạm nào xảy ra trong cuộc đối thoại này đều phải giá rất nặng cho sự phát triển con người.
57. Cuộc đối thoại đầy hoa trái giữa đức tin và lý trí chỉ có thể khiến cho hoạt động bác ái trở nên hữu hiệu hơn trong xã hội, và cuộc đối thoại đó xác lập cung cách thích đáng nhất cho việc cổ vũ sự hợp tác huynh đệ giữa người tin và người không tin trong việc cả hai cùng nhau dấn thân hoạt động cho công lý và hòa bình của gia đình nhân loại. Trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng, các vị nghị phụ của Công Đồng chủ trương rằng “những kẻ tin cũng như những kẻ không tin dường như đồng quan điểm là mọi vật trên địa cầu phải được hướng về con người như là trung tâm và tột điểm của chúng” [136]. Đối với người tin thì thế giới này không xuất phát từ ngẫu nhiên mù quáng hay từ sự tối cần thiết, mà từ kế hoạch của Thiên Chúa. Điều này làm phát sinh nhiệm vụ của những người tin là liên kết các nỗ lực của mình với nỗ lực của tất cả mọi người thiện chí, với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác và với những người không tin, nhờ đó thế giới này của ta mới có thể đáp ứng kế hoạch của Thiên Chúa một cách hữu hiệu: chung sống với nhau như một gia đình dưới ánh mắt canh chừng của Đấng Tạo Hóa. Một biểu lộ đặc biệt của bác ái và một tiêu chí hướng dẫn việc hợp tác huynh đệ giữa người tin và người không tin, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là nguyên tắc bổ trợ [137], một thể hiện tự do không thể chuyển nhượng của con người. Bổ trợ trước hết và trên hết là một hình thức trợ giúp con người qua quyền tự chủ của các cơ quan trung gian. Sự trợ giúp đó được thực hiện khi các cá nhân hoặc các nhóm người không thể tự mình hoàn thành một điều gì đó, và bao giờ cũng nhắm đến chỗ giải phóng họ, vì nó nuôi dưỡng tự do và việc tham dự thông qua việc lãnh nhận trách nhiệm. Bổ trợ tôn trọng phẩm giá con người bằng cách công nhận nơi nhân vị một chủ thể bao giờ cũng có khả năng cống hiến một cái gì đó cho người khác. Bằng cách xem tính hỗ tương như tâm điểm của những gì phải là một con người, bổ trợ là một kháng tố hữu hiệu nhất chống lại với bất kỳ hình thức nào của nhà nước phúc lợi bao cấp. Bổ trợ có thể chú trọng đến cả vấn đề soạn thảo những kế hoạch đa diện – và do đó chú trọng đến tính đa nguyên của các chủ thể – cũng như đến việc phối hợp các kế hoạch ấy. Thế nên nguyên tắc bổ trợ đặc biệt xứng hợp với việc điều hành vấn đề toàn cầu hóa và việc điều khiến nó hướng đến sự phát triển con người đích thực. Để đừng sản sinh ra một quyền lực toàn cầu nguy hiểm có tính chuyên chế, việc quản trị vấn đề toàn cầu hóa cần phải theo nguyên tác bổ trợ, có nhiều lớp ăn khớp với nhau và bao gồm những mức độ khác nhau có thể cùng nhau làm việc. Vấn đề toàn cầu hóa chắc chắn cần đến quyền bính, bao lâu toàn cầu hóa đặt ra vấn đề công ích toàn cầu cần phải được theo đuổi. Tuy nhiên, quyền bính này cần phải tổ chức một cách bổ trợ và phân tầng [138], nếu không muốn vi phạm quyền tự do và nếu muốn mang lại kết quả có ích trong thực hành.
58. Nguyên tắc bổ trợ cần phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc liên đới và ngược lại, vì nguyên tắc trước mà không có nguyên tắc sau thì mở đường cho chủ nghĩa tư nhân xã hội, và nếu nguyên tắc sau không có nguyên tắc trước thì nhường bước cho sự trợ giúp xã hội gia trưởng coi thường những ai thiếu thốn. Nguyên tắc chung này cũng cần phải được xem xét rộng rãi khi giải quyết những vấn đề liên quan đến viện trợ phát triển quốc tế. Sự trợ giúp đó, bất kỳ ý định của người cống hiến ra sao, đôi khi có thể giam người ta vào tình trạng lệ thuộc, thậm chí còn gây ra những tình cảnh đàn áp và bóc lột địa phương ở nước lãnh nhận. Viện trợ kinh tế, để thực sự đạt được mục đích của nó, không được theo đuổi những mục tiêu phụ. Viện trợ cần phải được phân phát với sự tham gia chẳng những của các chính quyền của những nước lãnh nhận, mà còn của các tác nhân kinh tế địa phương và những người mang văn hóa trong xã hội dân sự nữa, bao gồm cả các Hội Thánh địa phương. Và những chương trình viện trợ phải gia tăng các tính chất tham gia và hoàn thành từ cơ sở. Thật vậy, những nguồn lực có giá trị nhất ở các nước nhận trợ giúp phát triển là những nguồn nhân lực, chứa nguồn vốn thực sự cần tích lũy để bảo đảm một tương lai thực sự tự chủ cho các nước nghèo. Cũng cần phải nhớ rằng, trên bình diện kinh tế, hình thức chính của vấn đề trợ giúp cần thiết nơi các nước đang phát triển là hình thức cho phép và khuyến khích việc từng bước đưa các sản phẩm của họ vào những thị trường quốc tế, nhờ đó những nước này có thể tham gia đầy đủ vào sinh hoạt kinh tế quốc tế. Trong quá khứ rất thường diễn ra cảnh viện trợ góp phần tạo nên những thị trường bên lề cho các sản phẩm của những nước cấp viện này. Điều này thường do sự thiếu nhu cầu đích thực cho các sản phẩm được đặt ra ấy: vì thế cần phải giúp các nước đó cải tiến sản phẩm của họ và thích ứng một cách hữu hiệu hơn với nhu cầu hiện tại. Ngoài ra, có những người sợ các tác động của việc cạnh tranh thông qua việc nhập khẩu các sản phẩm – bình thường là các sản phẩm nông nghiệp – từ các nước nghèo về kinh tế. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng đối với các nước đó, khả năng tiếp thị các sản phẩm của họ thường là điều bảo đảm cho sự sống còn của họ cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Vấn đề thương mại quốc tế công bằng và bình đẳng nơi các hàng hóa nông nghiệp có thể có lợi cho mọi người, cả bên cung cấp lẫn khách hàng. Vì lý do này, chẳng những cần phải có định hướng thương mại về vấn đề sản xuất loại này, mà còn thiết lập những quy định về thương mại quốc tế để nâng đỡ và tài trợ mạnh hơn nữa cho sự phát triển để gia tăng khả năng sản xuất của các nền kinh tế này.
59. Việc hợp tác phát triển không được chỉ quan tâm đến chiều kích kinh tế: nó phải cống hiến một cơ hội tuyệt vời cho việc gặp gỡ giữa các nền văn hóa và các dân tộc. Nếu các phía tham gia vào việc cộng tác ở về bên các nước phát triển về kinh tế – như đôi khi xảy ra – không lưu ý đến căn tính văn hóa riêng của mình hay của người khác, hoặc các giá trị nhân bản làm nên căn tính này, thì họ không thể tham dự vào một cuộc đối thoại có ý nghĩa với các công dân của các nước nghèo. Nếu các nước nghèo, về phần mình, lại cởi mở một cách không đánh giá và cân nhắc đối với mọi đề xuất về văn hóa, họ sẽ không còn ở trong vị thế đảm nhận trách nhiệm đối với sự phát triển đích thực của riêng mình nữa [139]. Các xã hội tiên tiến về công nghệ không được xem sự phát triển công nghệ của mình như đẳng cấp cao hơn về văn hóa, trái lại, cần phải tái khám phá nơi mình những đức tính thường bị quên lãng đã giúp họ có thể phát triển theo giòng lịch sử. Các xã hội đang tiến hóa cần phải trung thành với tất cả những gì thực sự là nhân bản nơi các truyền thống của mình, tránh khuynh hướng tôn sùng một cách máy móc nền văn minh công nghệ được toàn cầu hóa. Nơi tất cả mọi nền văn hóa, có sự hội tụ các gương mẫu đạo đức, một số bị cô lập, một số tương liên, như thể hiện của một bản tính con người duy nhất theo ý muốn của Tạo Hóa; truyền thống của sự khôn ngoan về đạo đức này gọi điều này là luật tự nhiên [140]. Luật luân lý phổ quát này cung cấp một nền tảng lành mạnh cho tất cả mọi cuộc đối thoại về văn hóa, tôn giáo và chính trị, và bảo đảm rằng vấn đề đa nguyên muôn mặt nơi tính chất đa dạng về văn hóa không tách mình ra khỏi việc cùng tìm kiếm chân lý, thiện hảo và Thiên Chúa. Bởi thế, việc gắn bó với luật lệ được ghi khắc nơi tâm can con người là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi công cuộc hợp tác xây dựng xã hội. Mọi nền văn hóa đều có những gánh nặng cần phải được giải phóng và những bóng tối cần phải được thoát ra. Đức tin Kitô giáo, bằng việc hội nhập vào các nền văn hóa và đồng thời siêu vượt hơn chúng, có thể giúp chúng tăng trưởng trong tình huynh đệ và liên đới phổ quát, vì sự thăng tiến của vấn đề phát triển toàn cầu và phát triển cộng đồng.
60. Trong việc tìm kiếm các giải pháp cho cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, viện trợ phát triển cho các nước nghèo phải được xem là một phương tiện hữu hiệu để tạo nên của cải cho tất cả mọi người. Chương trình trợ giúp nào có thể nắm giữ những viễn ảnh tăng trưởng khả quan như thế – cho dù theo quan điểm của nền kinh tế thế giới – như một sự nâng đỡ cho dân chúng vẫn còn ở trong giai đoạn sơ khởi hay ban đầu của sự phát triển kinh tế? Từ viễn tượng này, các nước càng phát triển kinh tế lại càng cần phải làm hết sức để phân phối những phần đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội để viện trợ phát triển, nhờ đó tôn trọng những nghĩa vụ mà cộng đồng quốc tế đã cam kết về vấn đề này. Một cách để thực hiện điều này là rà soát lại việc trợ giúp xã hội và các chính sách phúc lợi trong nội bộ của mình, áp dụng nguyên tắc bổ trợ và tạo ra các hệ thống phúc lợi tốt hơn, với sự tham gia chủ động của các cá nhân và xã hội dân sự. Nhờ đó, trong thực tế có thể cải tiến các dịch vụ xã hội và các chương trình phúc lợi, đồng thời tiết kiệm các nguồn lực – bằng loại bỏ những gì thừa thãi và bác bỏ các yêu cầu thanh toán gian lận – lúc đó có thể sử dụng vào tình liên đới quốc tế. Một hệ thống liên đới xã hội nhiều người tham gia và tổ chức tốt hơn, ít quan liêu hơn nhưng không kém về tính phối hợp, sẽ cho phép khai thác được nhiều tiềm năng, vì lợi ích của tình liên đới giữa các dân tộc.
Một giải pháp khả thi cho vấn đề viện trợ phát triển là việc áp dụng một cách hữu hiệu điều gọi là bổ trợ tài chính, cho phép công dân quyết định cách phân bổ một phần các khoản thuế đóng cho Nhà Nước. Miễn là không thoái hóa thành sự cổ vũ cho các lợi ích đặc biệt, thì điều này có thể giúp khuyến khích các hình thức liên đới xã hội bắt đầu từ cơ sở, với những lợi ích hiển nhiên trong lĩnh vực liên đới để phát triển.
61. Tình liên đới rộng lớn hơn ở cấp quốc tế được thấy đặc biệt trong việc liên tục cổ vũ – thậm chí giữa cuộc khủng hoảng kinh tế – khả năng tiếp cận giáo dục lớn hơn, đồng thời cũng là một điều kiện tiên quyết cần thiết để hợp tác quốc tế hữu hiệu. Thuật ngữ “giáo dục” không những nói đến việc dạy học trong lớp và việc đào tạo nghề – cả hai đều là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển – mà còn đến việc hình thành trọn vẹn con người nữa. Về mặt này, có một vấn đề cần nhấn mạnh là để giáo dục, cần phải biết bản tính con người, biết họ là ai. Vấn đề càng ngày càng thịnh hành về một kiến thức có tính chất tương đối về bản tính này cho thấy các vấn đề trục trặc trầm trọng đối với vấn đề giáo dục, nhất là vấn đề giáo dục luân lý, gây nguy hiểm cho chiều kích phổ quát của vấn đề giáo dục luân lý này. Chiều theo loại chủ nghĩa tương đối này làm cho mọi người nghèo hơn và có một tác dụng tiêu cực trên tính hữu hiệu của việc trợ giúp cho những người túng thiếu nhất, thiếu chẳng những phương tiện kinh tế và kỹ thuật, mà còn cả những phương pháp và nguồn lực giáo dục để trợ giúp người ta nhận ra tiềm năng nhân bản trọn vẹn của họ.
Một minh họa về tầm quan trọng của vấn đề này được cho thấy bởi hiện tượng du lịch quốc tế [141], có thể là một yếu tố chính trong sự phát triển kinh tế và tăng trưởng văn hóa, nhưng cũng có thể trở thành một dịp khai thác và suy đồi luân lý. Tình hình hiện nay mang lại các cơ hội đặc biệt cho các khía cạnh phát triển kinh tế – tức là luồng tiền và việc xuất hiện của một số lượng đáng kể các doanh nghiệp – được kết hợp với những khía cạnh văn hóa, mà khía cạnh chính yếu là vấn đề giáo dục. Trong nhiều trường hợp đây là điều xảy ra, thế nhưng, trong những trường hợp khác, vấn đề du lịch quốc tế lại có một ảnh hưởng tiêu cực về giáo dục cả cho du khách lẫn dân chúng địa phương. Dân chúng địa phương thường bị rơi vào những hình thức hoạt động vô luân hay thậm chí bại hoại, như trong trường hợp của cái gọi là du lịch tính dục, du lịch trong đó nhiều con người bị hy sinh thậm chí ở vào tuổi non dại. Thật là buồn khi ghi nhận rằng hoạt động này thường xẩy ra với sự hỗ trợ của các chính quyền địa phương, với sự im lặng từ những chính quyền thuộc các nước nguyên gốc của các du khách, và với việc đồng lõa của nhiều thành phần hành nghề du lịch. Thậm chí trong cả những trường hợp ít trầm trọng hơn, du lịch quốc tế thường theo đuổi một kiểu mẫu tiêu thụ và hưởng lạc, như một hình thức thoát ly thực tế được hoạch định một cách điển hình của các nước nguyên gốc và vì thế không đưa đến việc gặp gỡ đích thực giữa con người và văn hóa. Cho nên, ta cần phát triển một loại du lịch khác có khả năng cổ vũ việc hiểu biết nhau đích thực, mà không lấy đi yếu tố nghỉ ngơi và giải trí lành mạnh. Du lịch loại này cần gia tăng, một phần nhờ việc phối hợp sát hơn với kinh nghiệm có được từ việc hợp tác và kinh doanh quốc tế cho vấn đề phát triển.
62. Một khía cạnh khác của vấn đề phát triển toàn diện con người đáng lưu ý là hiện tượng di dân. Đây là một hiện tượng nổi bật do con số người ở trong cuộc, về những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo do nó gây ra, và về những thách đố ghê gớm đặt ra cho các nước và cộng đồng quốc tế. Ta có thể nói rằng ta đang đối diện một hiện tượng xã hội đáng làm nên lịch sử của kỷ nguyên này đang cần đến những chính sách táo bạo, hướng đến tương lai của việc hợp tác quốc tế nếu hiện tượng này được xử lý một cách hữu hiệu. Các chính sách đó phải được bắt đầu từ sự hợp tác chặt chẽ giữa các nước nguyên gốc của người di dân với những nước họ đến; cần phải được kèm theo bằng những chuẩn mực quốc tế thích đáng có thể kết hợp những hệ thống pháp luật khác nhau để bảo đảm những nhu cầu và những quyền lợi của các cá nhân di dân cùng gia đình của họ, đồng thời cả những nhu cầu và quyền lợi của các quốc gia chủ nhà nữa. Không nước nào có thể cho rằng tự mình giải quyết được những vấn đề di dân ngày nay. Tất cả chúng ta đều chứng kiến và thấy được gánh nặng của khổ đau, của vấn đề chuyển dời và của những khát vọng được ấp ủ nơi dòng người di dân. Như mọi người đều biết, khó có thể quản lý được hiện tượng này; thế nhưng có một điều chắc chắn đó là các công nhân nước ngoài, bất chấp khó khăn nào liên quan đến vấn đề di dân, cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của nước chủ nhà nhờ lao động của họ, bên cạnh những gì họ làm cho quê hương của họ bằng việc gửi tiền về nước. Hiển nhiên không thể coi những người lao động này như một hàng hóa hay chỉ là một lực lượng lao động. Do đó, không được đối xử với họ như bất kỳ yếu tố nào khác của sản xuất. Mỗi người di dân là một con người, vì thế, có những quyền cơ bản, không thể xâm phạm cần phải được mọi người tôn trọng trong mọi hoàn cảnh [142].
63. Không có sự quan tâm nào đến các vấn đề liên quan đến sự phát triển mà lại không nhấn mạnh đến mối liên hệ trực tiếp giữa nghèo khó và thất nghiệp. Trong nhiều trường hợp, vấn đề nghèo khó xuất phát từ việc vi phạm phẩm giá của lao động con người, hoặc vì những cơ hội làm việc bị hạn chế (bởi vấn đề thất nghiệp hay khiếm dụng lao động), hay “vì coi thường việc làm và các quyền lợi từ đó mà ra, nhất là quyền có được một số lương chính đáng và quyền được bảo đảm an sinh cho cá nhân của nhân viên và gia đình của họ” [143]. Vì lý do này, vào ngày 1 tháng 5 năm 2000, nhân dịp Mừng Đại Năm Thánh của các Công Nhân, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phổ biến lời kêu gọi về “một liên minh toàn cầu cổ vũ cho ‘việc làm xứng đáng’” [144], ủng hộ chiến lược của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế. Bằng cách này, ngài đã ủng hộ mạnh mẽ mục tiêu này về mặt tinh thần, coi đó như một ước vọng của các gia đình tại mọi nước trên thế giới. Chữ “xứng đáng” liên quan đến việc làm ở đây nghĩa là gì? Nghĩa là việc làm thể hiện phẩm giá thiết yếu của mọi người nam nữ trong bối cảnh xã hội của họ: việc làm được tự do chọn lựa, liên kết một cách hữu hiệu các công nhân, cả nam lẫn nữ, với sự phát triển của cộng đồng họ; việc làm giúp công nhân có thể được tôn trọng và thoát khỏi bất kỳ hình thức kỳ thị nào; việc làm giúp gia đình họ có thể đáp ứng thỏa đáng các nhu cầu của họ và chu cấp vấn đề học vấn cho con cái họ, mà không buộc trẻ em phải tham gia lao động; việc làm giúp các công nhân có thể tự do tổ chức với nhau để làm cho phát biểu của họ được người ta nghe; việc làm giành đủ chỗ cho tái khám phá ra những gốc rễ của mình ở tầm mức cá nhân, gia đình và thiêng liêng; việc làm bảo đảm cho những ai đã về hưu một mức sống xứng đáng.
64. Trong khi suy tư về chủ đề việc làm, thật thích đáng để nhắc lại vấn đề quan trọng biết bao là những liên đoàn lao động – các tổ chức luôn luôn được Hội Thánh khuyến khích và nâng đỡ – cần phải cởi mở trước những viễn tượng mới đang hiện lên nơi thế giới việc làm. Bằng cách nhìn đến những quan tâm rộng lớn hơn là loại lao động riêng biệt mà vì đó chúng được hình thành, các tổ chức công đoàn được kêu gọi giải quyết một số những vấn đề mới, phát sinh trong xã hội chúng ta: tôi đang nghĩ đến, chẳng hạn, tổ hợp các vấn đề mà các nhà khoa học xã hội mô tả về một cuộc xung đột giữa công nhân và người tiêu dùng. Không nhất thiết phải tán thành luận đề rằng vấn đề tập chú vào vai trò của công nhân đã nhường chỗ cho vấn đề tập chú vào người tiêu dùng, điều này vẫn còn xuất hiện để tạo nên cho những hiệp hội mảnh đất mới để thám hiểm một cách sáng tạo. Khung cảnh toàn cầu nơi lao động xảy ra cũng đòi hỏi các liên đoàn lao động quốc gia, có khuynh hướng từ giới hạn vào việc bảo vệ những lợi ích cho các thành viên có đăng ký của mình, cần hướng sự chú ý của mình đến những ai ở ngoài hội của mình nữa, đặc biệt là đến các công nhân ở các nước đang phát triển nơi các quyền lợi xã hội thường bị vi phạm. Việc bảo vệ các công nhân này, một phần đạt được nhờ những sáng kiến thích hợp nhắm đến tại các nước gốc của họ, sẽ giúp cho các liên đoàn lao động có thể chứng tỏ những động lực đích thực về đạo đức và văn hóa làm cho họ, ở một bối cảnh xã hội và lao động khác, đóng một vai trò quyết định trong vấn đề phát triển. Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh đã phân biệt rõ ràng giữa những vai trò và những chức năng tương ứng của công đoàn và chính trị. Sự phân biệt này cho phép các công đoàn nhận dạng xã hội dân sự như khung cảnh thích đáng cho hoạt động cần thiết của họ trong việc bênh vực và thăng tiến lao động, nhất là thay cho những người lao động bị bóc lột và không có người đại diện, mà thân phận thường bị lãng quên trước con mắt hờ hững của xã hội.
65. Bởi thế, tài chính – qua các cấu trúc được đổi mới và các phương pháp vận hành phải được thiết kế sau khi bị lạm dụng khiến nền kinh tế thực phải chịu tình trạng tàn phá đó – nay cần phải trở lại làm một công cụ nhắm đến việc tạo ra và phát triển của cải được cải tiến. Vì là những công cụ, toàn thể nền kinh tế và tài chính, chứ không phải chỉ có một số lãnh vực nào, cần phải được sử dụng một cách đạo đức để xác lập các điều kiện thích hợp cho sự phát triển của con người và cho sự phát triển các dân tộc. Thật sự là cần thiết, và ở trong một số trường hợp lại còn bắt buộc, phải đưa ra những sáng kiến tài chính nhắm đến chiều kích nhân đạo. Tuy nhiên, điều này không được làm lu mờ sự kiện toàn thể hệ thống tài chính phải nhắm đến chỗ duy trì sự phát triển thực. Trước hết, ý định làm điều tốt không được coi là không tương thích với năng lực thực tế sản xuất hàng hóa. Các nhà tài chính phải tái khám phá ra nền tảng đạo đức đích thực của hoạt động của mình, để không lạm dụng những công cụ phức tạp có thể phản bội quyền lợi của người tiết kiệm. Ý hướng đúng đắn, tính minh bạch, và việc tìm kiếm những kết quả tích cực tương thích với nhau và không bao giờ được tách rời nhau. Nếu tình yêu khôn ngoan thì nó có thể tìm thấy những cách hoạt động phù hợp với tính dự phòng và chính đáng, được diễn giải một cách đầy ý nghĩa bởi nhiều kinh nghiệm về những tổ chức tín dụng.
Cả quy định của khu vực tài chính nhằm bảo đảm những bên yếu hơn và ngăn ngừa tệ nạn đầu tư, lẫn việc thử nghiệm các hình thức mới về tài chính, được thiết kế để nâng đỡ các dự án phát triển, là những kinh nghiệm tích cực cần được khai phá và khuyến khích thêm, đề cao trách nhiệm của nhà đầu tư. Ngoài ra, kinh nghiệm về vấn đề tài chính vi mô một vấn đề được bắt nguồn từ ý nghĩ và hoạt động của nhà nhân bản dân sự – tôi đang đặc biệt nghĩ đến việc xuất hiện hiệu cầm đồ – cần phải được củng cố và cải tiến. Điều này lại càng khẩn thiết hơn vào những ngày này khi các khó khăn tài chính có thể trở nên trầm trọng đối với nhiều thành phần dễ bị thương tổn hơn trong dân chúng, cần phải được bảo vệ khỏi nguy cơ nặng lãi và khỏi cảm thấy thất vọng. Các thành viên yếu nhất trong xã hội cần phải được giúp đỡ để có thể tự vệ trước vấn đề nặng lãi, cũng như thành phần dân chúng nghèo khổ cần được giúp đỡ để có được lợi ích thực sự từ tín dụng nhỏ, để ngăn việc khai thác có thể xảy ra trong hai lãnh vực này. Vì các nước giàu cũng đang trải qua những hình thức nghèo khó mới mà vấn đề tài chính vi mô có thể trợ giúp thực tiễn bằng cách tung ra những sáng kiến mới và mở ra những lãnh vực mới vì lợi ích của những thành viên yếu hơn trong xã hội, thậm chí ở vào lúc tình hình kinh tế sa sút chung.
66. Tính liên hệ toàn cầu đã dẫn đến chỗ xuất hiện một quyền lực chính trị mới, quyền lực của người tiêu dùng và các hiệp hội của họ. Đây là một hiện tượng cần phải được khai triển hơn nữa, vì chứa đựng những yếu tố tích cực cần được khích lệ cũng như những thái quá cần phải tránh. Người ta cần nhận thức rằng việc mua bán bao giờ cũng là một hành vi luân lý -- chứ không chỉ nguyên về kinh tế. Vì thế người tiêu dùng có một trách nhiệm xã hội cụ thể, đi song song với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Người tiêu dùng cần phải được thường xuyên giáo dục [145] về vai trò của họ, một vai trò có thể thực thi bằng sự tôn trọng các nguyên tắc luân lý mà không làm suy giảm cái lý tính kinh tế nội tại nơi hành vi mua bán. Ở ngành bán lẻ, nhất là vào những lúc như hiện nay, khi mà khả năng mua bán đã trở nên suy yếu và dân chúng phải sống thanh đạm hơn, cần khai phá những con đường khác: chẳng hạn, những hình thức mua bán hợp tác xã như các hợp tác xã tiêu thụ đã từng được thực hiện từ thế kỷ 19, một phần là nhờ sáng kiến của người Công giáo. Ngoài ra, có thể hữu ích trong việc cổ vũ những con đường mới để tiếp thị các sản phẩm xuất phát từ các miền bị hất hủi trên thế giới, nhờ đó bảo đảm cho các nhà sản xuất một sự hồi phục xứng đáng. Tuy nhiên, cần phải hội đủ một số điều kiện, đó là thị trường cần phải minh bạch thực sự; nhà sản xuất, cũng như mức lợi nhuận của họ, cũng cần phải đào tạo nâng cao kỹ năng và công nghệ chuyên nghiệp; và sau hết, việc kinh doanh loại này không được trở thành con tin cho các ý thức hệ phe đảng. Vai trò sâu sắc hơn đối với người tiêu dùng, bao lâu chính họ không bị thao túng bởi các hiệp hội không thực sự làm đại diện cho họ, là một yếu tố đáng ước momg đối với việc xây dựng nền dân chủ kinh tế.
67. Trước sự không ngừng gia tăng tình trạng liên thuộc toàn cầu, hết sức cần đến, thậm chí ngay cả ở giữa cuộc suy thoái toàn cầu, một cuộc tái canh tân Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, cũng như các tổ chức kinh tế và tài chính quốc tế, nhờ đó quan niệm về gia đình của các nước có thể có được ý nghĩa thực sự. Người ta cũng cảm thấy rất cần phải tìm được những đường lối mới mẻ để áp dụng nguyên tắc về trách nhiệm bảo vệ [146] và về việc dành cho các nước nghèo có được một tiếng nói hữu hiệu trong quyết định chung. Điều này dường như cần thiết để có thể tiến đến một lãnh vực chính trị, pháp lý và kinh tế có thể gia tăng và chỉ hướng đi đến việc hợp tác quốc tế cho sự phát triển của tất cả mọi dân tộc trong tình liên đới. Để điều hành nền kinh tế toàn cầu; để phục hồi các nền kinh tế bị chới với trước cuộc khủng hoảng; để tránh bất kỳ suy thoái này của cuộc khủng hoảng hiện nay cùng với những chênh lệch to lớn hơn từ đó mà ra; để thực hiện việc giải giới toàn diện và kịp thời, tình trạng an toàn về thực phẩm và hòa bình; để bảo đảm việc bảo vệ môi trường và điều chỉnh việc di dân: đối với tất cả những việc làm này, cần phải có một thẩm quyền thế giới về mặt chính trị, như vị tiền nhiệm của tôi Chân Phước Gioan XXIII đã đề cập đến ít năm trước đây. Một thẩm quyền như vậy cần phải được quy định bởi luật lệ, nhất quán tuân giữ các nguyên tắc bổ trợ và liên đới, tìm cách thiết lập công ích [147], và thực hiện việc dấn thân để bảo đảm việc thực sự phát triển con người toàn diện được tác động bởi các giá trị của bác ái trong chân lý. Ngoài ra, một thẩm quyền như vậy cần phải được toàn cầu công nhận và được trao thực quyền để bảo đảm an ninh cho tất cả mọi người, quan tâm đến công lý và tôn trọng các quyền lợi [148]. Hiển nhiên phải có thẩm quyền để bảo đảm việc tuân thủ các quyết định của mình từ tất cả mọi phần tử, cũng như với các biện pháp phối hợp đã được các diễn đàn quốc tế khác nhau thông qua. Thiếu điều này, cho dù tình trạng tiến bộ lớn lao gặt hái được ở một số những lãnh vực khác nhau, luật quốc tế cũng có cơ nguy bị lệ thuộc vào mức độ thăng bằng về quyền lực của những nước hùng mạnh nhất. Sự phát triển toàn diện của các dân tộc và việc hợp tác quốc tế cần đến việc thiết lập ở một tầm mức rộng lớn hơn nữa việc hướng dẫn quốc tế, được đánh dấu bằng tính bổ trợ, đối với việc điều hành vấn đề toàn cầu hóa [149]. Cả hai điều này cũng đòi phải thiết lập một trật tự xã hội nhắm đến chỗ tuân thủ trật tự luân lý, với mối liên kết giữa lãnh vực luân lý và xã hội, cũng như với mối liên hệ giữa các lãnh vực chính trị và kinh tế và dân sự, theo quy định trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.
CHƯƠNG SÁU
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC
VÀ VẤN ĐỀ CÔNG NGHỆ
68. Sự phát triển các dân tộc gắn chặt với sự phát triển các cá nhân. Tự bản chất nhân vị tham gia tích cực vào sự phát triển bản thân. Sự phát triển ở đây không phải chỉ là thành quả của các cơ chế tự nhiên, bởi vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể thực hiện những lựa chọn tự do và có trách nhiệm. Cũng không phải chỉ do ta nông nổi, vì tất cả chúng ta đều biết rằng chúng ta là một món quà chứ không phải là một cái gì đó tự sinh. Tự do của chúng ta được hình thành sâu xa bởi hữu thể chúng ta và với sự hữu hạn của nó. Không ai có thể tự tiện khuôn đúc lương tâm của mình, nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng “cái tôi” của mình trên cơ sở một “bản ngã” được ban cho chúng ta. Chẳng những các người khác không kiểm soát được ta, song mỗi người chúng ta cũng không kiểm soát được chính mình. Sự phát triển con người sẽ bị còi cọc nếu họ tưởng rằng họ chính là tác giả duy nhất của sự phát triển. Nói bằng cách loại suy, sự phát triển các dân tộc trở thành lệch lạc nếu nhân loại nghĩ rằng mình có thể tự tái tạo nên mình bằng những “kỳ công” của công nghệ, cũng như sự phát triển kinh tế sẽ đem đến sự tai hại nếu cậy vào những "kỳ công” của tài chính để duy trì sự tăng trưởng giả tạo dựa trên sự tiêu thụ quá mức. Đối diện với tham vọng chỉ tin vào sức người, ta phải củng cố tình yêu của ta cho một tự do không tùy tiện, nhưng là một tự do mang tính thực sự nhân bản nhờ nhận thức được sự thiện làm nền tảng cho nó. Để đạt mục đích này, con người phải nhìn vào bản thân mình để nhận ra những chuẩn mực căn bản của luật luân lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã viết trên tâm hồn.
69. Thách đố của phát triển ngày nay liên kết chặt chẽ với tiến bộ công nghệ, với những ứng dụng ngoạn mục nơi lãnh vực sinh học. Công nghệ – cần nhấn mạnh – là một thực tại mang tính nhân văn sâu sắc, gắn liền với sự tự lập và tự do của con người. Trong công nghệ, ta thể hiện và khẳng định quyền làm chủ của tinh thần trên vật chất. Tinh thần "ngày càng thoát khỏi tình trạng nô lệ các tạo vật, có thể dễ dàng vươn lên thờ phượng và chiêm ngưỡng Đấng Tạo Hóa" [150]. Công nghệ giúp ta thực thi quyền thống trị vật chất, giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm sức lực, cải thiện điều kiện sống của ta. Công nghệ chạm đến cốt lõi ơn gọi lao động con người: qua công nghệ, tác phẩm trí tuệ của mình, con người nhận ra bản thân và thành toàn nhân tính của mình. Công nghệ là phía khách quan của hành động con người [151], một hành động có nguồn gốc và nguyên do nơi yếu tố chủ quan: con người làm việc. Vì thế, công nghệ không bao giờ đơn thuần chỉ là công nghệ. Công nghệ bộc lộ con người và các khát vọng của con người đối với sự phát triển, nó diễn tả sự căng thẳng nội tại thôi thúc họ từ từ thắng vượt những giới hạn của vật chất. Công nghệ, theo nghĩa này, là một đáp ứng mệnh lệnh của Thiên Chúa canh tác và gìn giữ đất đai (x. St 2,15) mà Người đã trao phó cho nhân loại, và công nghệ phải giúp củng cố giao ước giữa con người và môi trường, một giao ước cần phản ánh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa.
70. Sự phát triển công nghệ có thể làm nảy lên ý nghĩ chỉ cần công nghệ đủ, khi con người quá chú trọng đến các câu hỏi “làm thế nào” mà ít khi đặt các câu hỏi “tại sao” là những câu hỏi thúc đẩy con người hoạt động. Vì thế, công nghệ có thể có giá trị đôi. Được tạo nên nhờ óc sáng tạo của con người như một công cụ của tự do con người, công nghệ có thể được hiểu là một biểu lộ tự do tuyệt đối, tự do muốn vươn lên khỏi những giới hạn nội tại của sự vật. Tiến trình toàn cầu hóa có thể thay thế các ý thức hệ bằng công nghệ [152], cho phép công nghệ trở thành một quyền lực ý thức hệ đe dọa cầm giữ ta trong một sự khép kín chính mình một cách tiên thiên khiến ta không thể bước ra ngoài để gặp gỡ hữu thể và chân lý. Nếu xảy ra điều đó, hẳn tất cả chúng ta đều nhận biết, thẩm định và quyết định về những hoàn cảnh sống của ta từ bên trong một viễn tượng văn hóa kỹ trị mà ta thuộc về về mặt cơ cấu, không bao giờ thể khám phá ra một ý nghĩa không do ta làm ra. Vũ trụ quan “kỹ thuật” xuất phát từ tầm nhìn này ngày nay thắng thế cho đến độ cái thật gần như được đồng hóa với cái có thể. Thế nhưng, khi tiêu chí duy nhất của chân lý là tính hữu hiệu và thực dụng thì sự phát triển mặc nhiên bị khước từ. Sự phát triển đích thực chủ yếu không phải ở chỗ “làm”. Chìa khóa của sự phát triển là một trí khôn có khả năng tư duy theo phong cách công nghệ và nắm bắt đầy đủ ý nghĩa nhân văn của hoạt động con người, trong phạm vi ý nghĩa toàn diện về hữu thể của cá nhân. Ngay cả khi ta làm việc qua các vệ tinh hoặc các xung điện tử từ xa, thì hoạt động của ta bao giờ cũng vẫn là hành động con người, thể hiện sự tự do mang tinh thần trách nhiệm của ta. Công nghệ có sức thu hút cao vì lôi kéo ta ra khỏi những giới hạn thể lý của mình và mở rộng chân trời của ta. Thế nhưng, tự do của con người chỉ đích thực khi nào đáp ứng sự cuốn hút của công nghệ bằng các quyết định là hoa trái của trách nhiệm luân lý. Vì thế xuất hiện nhu cầu khẩn thiết cần huấn luyện việc sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm luân lý. Vượt ra ngoài sự cuốn hút của công nghệ, ta phải lấy lại ý nghĩa đích thực của tự do, vốn không nằm trong sự say mê một sự tự lập hoàn toàn mà là nơi một đáp trả tiếng gọi của hữu thể, bắt đầu từ chính hữu thể của ta.
71. Một số ứng dụng công nghệ trong các lãnh vực phát triển và hòa bình cho thấy não trạng kỹ thuật ngày nay có thể đưa đến sự đi chệch hướng ra khỏi các nguyên tắc mang tính nhân văn vững chắc. Sự phát triển các dân tộc thường được xem là vấn đề kỹ thuật tài chính, mở cửa thị trường, tháo gỡ hàng rào thuế quan, đầu tư sản xuất, và những cải cách định chế – nói cách khác, một vấn đề thuần túy kỹ thuật. Tất cả những điều này đều rất quan trọng, nhưng ta phải hỏi rằng tại sao những chọn lựa công nghệ như thế thực hiện cho đến nay chỉ lại thu hoạch những kết quả bất toàn. Ta cần suy nghĩ kỹ về nguyên do. Phát triển sẽ không bao giờ được bảo đảm hoàn toàn bằng các sức mạnh máy móc hoặc vô hồn, cho dù những sức mạnh này xuất phát từ thị trường hay chính trị quốc tế. Không thể nào có vấn đề phát triển nếu thiếu những con người nam nữ ngay chính, thiếu những nhà tài chính và các chính trị gia có lương tâm hướng đến các yêu cầu của công ích. Cả năng lực chuyên môn lẫn sự vững vàng luân lý đều cần thiết. Khi công nghệ được phép qua mặt thì hậu quả sẽ là sự lẫn lộn giữa cứu cánh và phương tiện, đến độ chuẩn mực duy nhất để hành động trong kinh doanh sẽ là tối đa hóa lợi nhuận, trong chính trị là củng cố quyền lực, và trong khoa học là các kết quả nghiên cứu. Ẩn dưới những mạng lưới trao đổi kinh tế, tài chính và chính trị, thường vẫn còn là những hiểu lầm, những nỗi đau và bất công. Dòng chảy kiến thức công nghệ gia tăng, nhưng chỉ những ai sở hữu kiến thức đó mới được lợi, trong khi đó, tình trạng của những dân tộc sống trong bóng tối của công nghệ vẫn không có gì thay đổi: ít có cơ hội giải phóng dành cho họ.
72. Ngay cả hòa bình cũng có rủi ro bị xem là một sản phẩm kỹ thuật, chỉ là thành quả của các thỏa thuận giữa các chính phủ hoặc về những sáng kiến nhằm bảo đảm viện trợ kinh tế có hiệu quả. Quả thật việc xây dựng hòa bình đòi hỏi việc thường xuyên thực hiện các cuộc tiếp xúc ngoại giao, trao đổi kinh tế và công nghệ, giao lưu văn hóa, thỏa thuận về những dự án chung cũng như các chiến lược chung nhằm ngăn chận đe dọa xung đột quân sự và nhổ tận gốc các nguyên nhân tiềm ẩn của chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, nếu muốn cho những nỗ lực đó có tác động lâu dài thì chúng phải được dựa trên những giá trị cắm rễ sâu trong sự thật về cuộc sống con người. Nghĩa là phải nghe tiếng nói của các dân tộc chịu ảnh hưởng và phải xem xét hoàn cảnh của họ, nếu muốn gọi được là hiểu đúng tâm tư nguyện vọng của họ. Nói thế có nghĩa là phải ghi nhận những cố gắng thầm lặng của biết bao con người mạnh mẽ dấn thân thúc đẩy những cuộc gặp gỡ giữa các dân tộc và cổ vũ sự phát triển trên nền tảng tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau. Trong số đó có những Kitô hữu tham gia công cuộc vĩ đại là đem đến cho sự phát triển và hòa bình một chiều kích đầy tính nhân văn.
73. Gắn liền với vấn đề phát triển công nghệ là sự hiện diện gia tăng các phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay hầu như không thể nào tưởng tượng nổi đời sống gia đình của con người mà lại thiếu các phương tiện đó. Dù tốt hay xấu, các phương tiện này cũng trở thành một yếu tố của cuộc sống ngày nay đến nỗi thật vô lý nếu cho rằng chúng là vô thưởng vô phạt – và vì thế đứng ngoài các xem xét về luân lý liên quan đến con người. Những quan điểm đó, thường nhấn mạnh đến bản chất thuần túy kỹ thuật của truyền thông đại chúng, thực ra chỉ biện hộ cho việc sử dụng các phương tiện đó vào các tính toán kinh tế nhằm mục đích thống trị thị trường, và điều không kém quan trọng là nỗ lực áp đặt những mô hình văn hóa phục vụ cho những mục tiêu ý thức hệ và chính trị. Do tầm quan trọng nền tảng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc tìm cách thay đổi thái độ đối với thực tại và con người, ta phải suy nghĩ cẩn thận đến ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, nhất là trên bình diện chiều kích văn hóa - đạo đức của việc toàn cầu hóa cũng như của sự phát triển các dân tộc trong tình liên đới. Nếu vấn đề toàn cầu hóa và phát triển đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mang tính đạo đức, thì cũng vậy, phải tìm kiếm ý nghĩa lẫn mục đích của truyền thông đại chúng trong một viễn tượng nhân loại học. Điều này có nghĩa là truyền thông có thể có một tác dụng văn minh hóa chẳng những khi chúng gia tăng những khả năng truyền đạt thông tin, nhưng trên hết khi chúng hướng đến một tầm nhìn về con người và công ích phản ảnh những giá trị thực sự phổ quát. Không nhất thiết chỉ vì những phương tiện truyền thông làm gia tăng các khả năng kết nối và truyền bá các tư tưởng nên chúng thúc đẩy tự do hay quốc tế hóa vấn đề phát triển và nền dân chủ cho tất cả mọi người. Để đạt được các mục đích thuộc loại này, chúng cần nhắm đến việc cổ vũ phẩm giá của con người và của các dân tộc, chúng cần phải được thúc đẩy bởi bác ái và phục vụ chân lý, sự thiện cũng như tình huynh đệ tự nhiên và siêu nhiên. Thật vậy, tự do của con người tự bản chất gắn liền với những giá trị cao cả này. Phương tiện truyền thông đại chúng có thể thực hiện việc đóng góp quan trọng cho việc gia tăng mối hiệp thông của gia đình nhân loại và đạo đức của xã hội khi chúng được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia rộng rãi vào công cuộc tìm kiếm chung những gì là chính đáng.
74. Lãnh vực đạo đức sinh học là một chiến trường quyết liệt trong cuộc chiến văn hóa ngày nay giữa vai trò thống trị của công nghệ và trách nhiệm luân lý của con người, nơi đó chính khả năng phát triển con người toàn diện bị đặt thành vấn đề. Ở lãnh vực rất tế nhị và có tính quyết định này, vấn đề nền tảng được đặt ra: phải chăng con người là sản phẩm của chính họ hay họ lệ thuộc vào Thiên Chúa? Những khám phá khoa học nơi lãnh vực này và những khả năng can thiệp bằng công nghệ dường như đã tiến đến mức phải chọn lựa giữa hai loại lý luận: lý lẽ hướng về siêu việt hoặc lý lẽ khép kín ở nội tại. Ta đứng trước một chọn lựa dứt khoát hoặc cái này hoặc cái kia. Tuy nhiên, lý tính của sự sử dụng công nghệ quy ngã là phi lý vì nó bao hàm một phủ nhận dứt khoát ý nghĩa và giá trị. Không phải là ngẫu nhiên khi con người đóng cửa trước siêu việt khiến con người không tránh khỏi việc đối diện với một khó khăn: làm thế nào hiện hữu lại xuất phát từ hư vô, làm thế nào trí tuệ lại xuất phát từ ngẫu nhiên? [153] Đối diện với những vấn đề khốc liệt này, lý trí và đức tin có thể trợ giúp lẫn nhau. Chỉ như thế lý trí và đức tin mới có thể cứu được con người. Chỉ cậy dựa hoàn toàn vào công nghệ, lý trí không có đức tin bị chới với trong một ảo tưởng về sự toàn năng của nó. Đức tin không lý trí có nguy cơ bị tách ra khỏi cuộc sống thường nhật [154].
75. Đức Phaolô VI đã nhận ra và chú tâm đến chiều kích toàn cầu của vấn đề xã hội [155]. Theo bước đường của ngài, ngày nay ta cần khẳng định rằng vấn đề xã hội này đã trở thành một vấn đề hoàn toàn nhân loại học, ở chỗ quan tâm chẳng những đến sự sống được thụ thai ra sao mà còn bị người ta thao túng như thế nào, khi mà công nghệ sinh học càng ngày càng đặt sự sống ở dưới quyền kiểm soát của con người. Thụ thai trong ống nghiệm, nghiên cứu phôi, khả năng tạo các nhân bản và phôi người: tất cả những điều này giờ đây đang triển khai và đang được cổ vũ trong nền văn hóa ngày nay, văn hóa tin rằng đã làm chủ mọi mầu nhiệm, vì nguồn gốc của sự sống hiện nay ở trong tay chúng ta. Ở đây ta thấy sự diễn tả rõ nhất về tính ưu việt của công nghệ. Trong loại văn hóa này, ý thức chỉ được mời gọi để làm theo những khả năng của công nghệ. Tuy nhiên, ta không được coi thường các tình huống đáng ngại đang đe dọa tương lai của chúng ta, hay những công cụ mãnh liệt mới mẻ đang ở trong tay của “nền văn hóa sự chết”. Trong tương lai rất có thể ta phải thêm vào nạn phá thai bi thảm và tràn lan hiện nay việc lập trình sinh sản ưu sinh một cách có hệ thống – và quả thật nó đang hiện diện lén lút. Mặt khác, não trạng ủng hộ chủ trương an tử đang tìm cách xâm nhập như một khẳng định quyền kiểm soát sự sống không kém tàn phá ở trong một số trường hợp bị cho là không đáng sống nữa. Ẩn bên dưới những cảnh này là các quan điểm văn hóa chối bỏ phẩm giá con người. Những thực hành này lại nuôi dưỡng một quan niệm duy vật và máy móc về sự sống con người. Ai có thể đo lường được những tác dụng tiêu cực của loại não trạng này về phát triển? Làm sao ta lại không ngỡ ngàng trước thái độ lãnh đạm dửng dưng trước những tình trạng hạ giá con người, khi việc dửng dưng lạnh lùng này bao gồm thậm chí cả thái độ của chúng ta trước ranh giới cái là người hay không là người? Điều lạ lùng là cái quyết định độc đoán và chọn lọc về những gì ngày nay được đưa ra như đáng tôn trọng. Có những chuyện không có gì mà làm ầm ỹ, trong khi có những bất công trầm trọng dường như đang được dung thứ. Trong khi người nghèo trên thế giới tiếp tục gõ cửa người giầu, thì thế giới giàu có lại có nguy cơ không còn nghe thấy những tiếng gõ cửa ấy, vì một lương tâm không còn phân biệt được những gì là của con người nữa. Thiên Chúa tỏ cho con người biết bản thân họ, lý trí và đức tin sát cánh hoạt động để cho ta thấy những gì là thiện hảo, nếu như ta muốn thấy; luật tự nhiên, trong đó Lý Trí sáng tạo chiếu soi, cho thấy không những sự vĩ đại của chúng ta, mà còn cả cái khốn cùng của chúng ta nữa, khi ta không nhận ra tiếng gọi đến với sự thật luân lý.
76. Một khía cạnh của não trạng công nghệ hiện đại là khuynh hướng xem các vấn đề và những cảm xúc của đời sống nội tâm từ quan điểm thuần túy tâm lý, kể cả việc giảm thiểu vào vấn đề của thần kinh não bộ. Bằng cách này nội giới của con người bị tước đi hết ý nghĩa và dần dần ta không còn nhận thức được chiều sâu bản thể của linh hồn con người như được các thánh cảm nghiệm. Vấn đề phát triển được liên kết chặt chẽ với quan niệm của ta về linh hồn con người, vì ta thường giảm thiểu bản thân vào vấn đề tâm thần và lẫn lộn sức khỏe của linh hồn với tình trạng cảm xúc. Các cách đơn giản hóa thái quá này xuất phát từ một tình trạng hoàn toàn không hiểu gì về đời sống tâm linh, và chúng làm lu mờ sự kiện là sự phát triển các cá nhân và các dân tộc một phần lệ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề có tính chất thiêng liêng. Sự phát triển cần phải bao gồm chẳng những tình trạng tăng trưởng về vật chất mà còn về tinh thần nữa, vì con người là một “sự hiệp nhất của thân xác và linh hồn” [156], xuất phát từ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa và được dành cho sự sống đời đời. Con người phát triển khi họ tăng trưởng về tinh thần, khi linh hồn họ tiến đến chỗ biết mình cùng với các sự thật được Thiên Chúa vun trồng sâu trong lòng họ, khi họ đối thoại với chính mình và với Đấng Tạo Hóa của mình. Khi xa cách Thiên Chúa, con người sẽ khắc khoải và băn khoăn. Sự tha hóa về mặt xã hội và tâm lý và nhiều chứng loạn thần kinh đang làm khốn đốn các xã hội thịnh vượng được quy một phần cho các yếu tố tâm linh. Một xã hội thịnh vượng, phát triển cao về vật chất nhưng lại bóp nghẹt linh hồn, tự nó không đưa đến sự phát triển đích thực. Những hình thức mới nô lệ cho thuốc gây nghiện và thiếu vắng niềm hy vọng mà nhiều người ngã gục vào không thể chỉ giải thích về mặt xã hội học và tâm lý học mà chủ yếu về mặt tâm linh nữa. Tình trạng trống rỗng trong đó linh hồn cảm thấy bị bỏ rơi, mặc dù có sẵn vô số những phương thức trị liệu cho thân xác và tâm thần, sẽ dẫn đến sự đau khổ. Không thể nào có vấn đề phát triển hoàn toàn và công ích phổ quát nếu không quan tâm đến vấn đề phúc lợi tâm linh và luân lý, được xem xét trong tổng thể cả xác và hồn.
77. Tính ưu việt của công nghệ có khuynh hướng ngăn con người không nhận ra những gì không thể giải thích được theo vật chất. Tuy nhiên, mọi người đều có cảm nghiệm về các chiều kích phi vật chất và linh thiêng của đời sống. Nhận thức không đơn thuần chỉ là một hành vi vật chất, vì đối tượng được nhận biết bao giờ cũng ẩn giấu một cái gì đó vượt lên các dữ kiện thực nghiệm. Toàn bộ tri thức của ta, ngay cả những tri thức đơn giản nhất, bao giờ cũng là một phép lạ nhỏ, vì lẽ tri thức không bao giờ được giải thích đầy đủ chỉ bằng các công cụ vật chất mà chúng ta sử dụng. Trong mọi sự thật có một cái gì đó lớn hơn cái mà ta trông đợi, trong tình yêu ta lãnh nhận bao giờ cũng có một yếu tố khiến ta ngỡ ngàng. Ta không bao giờ thôi cảm thấy lạ lùng trước những điều này. Trong toàn bộ tri thức và trong mọi hành vi yêu thương, linh hồn con người đều cảm nghiệm một cái gì đó “vượt lên và ở trên”, dường như rất giống với một món quà ta lãnh nhận, hay một độ cao ta được nâng lên. Sự phát triển các cá nhân và các dân tộc cũng được đặt ở một độ cao, nếu ta xem chiều kích thiêng liêng cần phải hiện diện thì sự phát triển mới là đích thực. Điều này đòi hỏi phải có cặp mắt mới và một con tim mới, có khả năng vượt lên trên tầm nhìn duy vật về các biến cố của con người, có khả năng thoáng thấy nơi sự phát triển “cái ngoại biên” mà công nghệ không thể cung hiến. Bằng cách theo con đường này, có thể theo đuổi sự phát triển con người toàn diện theo chiều hướng thúc đẩy của bác ái trong chân lý.
KẾT LUẬN
78. Không có Thiên Chúa, con người không biết đường nào mà đi, thậm chí cũng chẳng hiểu mình là ai. Đối mặt với các vấn đề lớn lao của sự phát triển các dân tộc, khiến ta hầu như nản lòng, ta tìm thấy được niềm an ủi nơi lời Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng dạy ta: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5) rối khuyến khích ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đối mặt với vô vàn công việc cần phải thực hiện, ta cảm thấy vững tin rằng Thiên Chúa là Đấng hiện diện với những ai quy tụ lại nhân danh Người để hoạt động cho công bằng. Đức Phaolô VI đã nhắc nhở trong Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc rằng con người không thể đem lại tiến bộ cho mình nếu không được trợ giúp, vì tự mình con người không thể xây dựng một nền nhân bản đích thực. Chỉ khi nào ta nhận thức được ơn gọi của mình, với tư cách cá nhân và tư cách cộng đồng, thuộc về gia đình của Thiên Chúa với tư cách con của Người, ta mới có thể đưa ra một tầm nhìn mới và triển khai nghị lực mới nhằm phục vụ một nền nhân bản thực sự toàn diện. Bởi thế, công việc phục vụ cao cả nhất cho phát triển là một nền nhân bản Kitô giáo [157], nền nhân bản làm sống lại bác ái và xuất phát từ sự thật, chấp nhận cả hai như quà tặng vững bền của Thiên Chúa. Việc đón nhận Thiên Chúa làm cho ta hướng về anh chị em của ta và sự sống như một trách nhiệm liên đới và hân hoan. Ngoài ra, việc phủ nhận Thiên Chúa theo ý thức hệ và một chủ nghĩa vô thần của sự dửng dưng, lãng quên Đấng Hóa Công và có cơ nguy cũng tiến đến chỗ lãng quên các giá trị nhân bản, tạo nên một số những chướng ngại chính cho vấn đề phát triển ngày nay. Một nền nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một nền nhân bản phi nhân. Chỉ có nền nhân bản nào hướng về Đấng Tuyệt Đối mới có thể hướng dẫn ta trong việc cổ vũ và xây dựng những hình thức của đời sống xã hội và dân sự – các cơ cấu, tổ chức, văn hóa và đạo đức – mà không làm cho ta có cơ nguy bị rơi vào cạm bẫy của những trào lưu hiện hành. Việc nhận thức tình yêu bất tử của Thiên Chúa nâng đỡ ta trong công việc khó nhọc và thôi thúc của chúng ta cho công lý và cho sự phát triển các dân tộc, giữa các thành đạt và thất bại, để không ngừng theo đuổi một trật tự chính đáng cho các thực tại nhân sinh. Tình yêu của Thiên Chúa kêu gọi ta hãy vượt ra ngoài những gì hạn hữu và phù du, cống hiến cho ta lòng can đảm để tiếp tục tìm kiếm và hoạt động cho lợi ích của tất cả mọi người, thậm chí cho dù không thể đạt được tức thời và cho dù những gì chúng ta có thể đạt được, cùng với các thẩm quyền chính trị và những thẩm quyền nơi lãnh vực kinh tế, bao giờ cũng thấp kém hơn những gì ta khao khát [158]. Thiên Chúa ban cho ta sức mạnh để chiến đấu và để chịu khổ vì tình yêu, lo lắng cho công ích, vì Người là Tất Cả của ta, là niềm hy vọng lớn nhất của ta.
79. Vấn đề phát triển cần đến các Kitô hữu biết giơ tay lên nguyện cầu cùng Thiên Chúa, cần đến các Kitô hữu được tác động bởi ý thức rằng tình yêu tràn đầy chân lý, caritas in veritate, nơi xuất phát ra sự phát triển đích thực, không phải do chúng ta tạo ra mà là được ban cho chúng ta. Vì lý do đó, ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất và phức tạp nhất, ngoài việc nhận thức thấy những gì đang xẩy ra, trước mọi sự ta cần phải hướng về tình yêu của Thiên Chúa. Sự phát triển cần chú trọng đến đời sống thiêng liêng, một sự quan tâm nghiêm túc đến các cảm nghiệm của lòng tin vào Thiên Chúa, của mối thân tình thiêng liêng với Đức Kitô, của niềm tin cậy vào sự quan phòng và tình yêu của Thiên Chúa, của tình yêu thương và lòng thứ tha, của việc bỏ mình, việc chấp nhận người khác, của công lý và hòa bình. Tất cả những điều này đều thiết yếu nếu “những con tim chai đá” được biến thành “các con tim bằng thịt” (Ez 36,26), cống hiến “thần linh” cho đời sống ở trên trần gian này, nhờ đó nhân loại trở nên xứng đáng hơn. Tất cả những điều này đều bởi con người, vì con người là chủ thể cho sự hiện hữu của mình; và đồng thời cũng bởi Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là khởi điểm và là cùng đích của tất cả những gì là thiện hảo, tất cả những gì dẫn đến ơn cứu độ: “thế gian này, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa” (1Cr 3,22-23). Người Kitô hữu mong sao cho toàn thể gia đình nhân loại gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con!” Hiệp nhất với Người Con duy nhất, ước gì mọi dân tộc đều biết nguyện cầu cùng Cha và khấn xin Người, bằng chính lời kinh mà Đức Giêsu dạy cho ta, xin Cha cho ta làm cho danh Cha cả sáng bằng cách sống theo thánh ý của Người, xin cho ta có được lương thực hằng ngày, cũng như hiểu biết và khoan dung với những ai nợ ta, xin đừng để chúng ta sa chước cám dỗ nhưng được giải thoát khỏi mọi sự dữ (x. Mt 6,9-13)!
Khi kết thúc Năm Phaolô, tôi hân hoan bày tỏ niềm hy vọng này nơi những lời của Vị Tông Đồ trong Thư Rôma: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,9-10). Xin Trinh Nữ Maria, Đấng được Đức Phaolô VI công bố là Mẹ Hội Thánh và được Kitô hữu tôn kính là Gương Soi Công Lý và Nữ Vương Hòa Bình bảo vệ ta và xin cho ta, nhờ lời chuyển cầu thiên cung của Người, sức mạnh, niềm hy vọng và niềm vui cần thiết để tiếp tục quảng đại hiến thân cho việc mang lại “sự phát triển toàn thể con người và tất cả mọi người” [159].
Làm tại Rôma, gần Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 29 tháng 6, Lễ Trọng Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, năm 2009, năm thứ năm triều Giáo hoàng của tôi.
ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI
Đan Quang Tâm dịch
CHÚ THÍCH
[1] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio (26 tháng 3 năm 1967), 22: AAS 59 (1967), 268; Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 69.
[2] Đức Phaolô IV, Diễn văn nhân Ngày Phát Triển, Bogota (23 tháng 8 năm 1968): AAS 60 (1968), 626-627.
[3] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2002 : AAS 94 (2002), 132-140.
[4] X. Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 26.
[5] X. Đức Gioan XXIII, Thông Điệp Pacem in Terris (11 tháng 4 năm 1963): AAS 55 (1963), 268-270.
[6] X. số 16: sđd, 265.
[7] X. như trên, 82: sđd, 297.
[8] Như trên, 42: sđd, 278.
[9] Như trên, 20: sđd, 267.
[10] X. Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 36; Đức Phaolô VI, Tông Thư Octogesima Adveniens (14 tháng 5 năm 1971), 4: AAS 63 (1971), 403-404; Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus (1 tháng 5 năm 1991), 43: AAS 83 (1991), 847.
[11] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 13: sđd, 263-264.
[12] X. Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh, 76.
[13] X. Đức Bênêđictô XVI, Diễn Văn Khai Mạc Đại Hội Đồng các Giám Mục Châu Mỹ La tinh và Vùng Caribê Lần thứ Năm (Aparecida, 13 tháng 5 năm 2007).
[14] X. số 3-5: sđd, 258-260.
[15] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 6-7: AAS 80 (1988), 517-519.
[16] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 14: sđd, 264.
[17] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25 December 2005), 18: AAS 98 (2006), 232.
[18] Như trên, 6: sđd., 222.
[19] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho Giáo Triều Rôma vào dịp Giáng Sinh, 22 tháng 12 năm 2005.
[20] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 3: sđd, 515.
[21] X. như trên, 1: sđd, 513-514.
[22] X. như trên, 3: sđd, 515.
[23] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Laborem Exercens (14 tháng 9 năm 1981), 3: AAS 73 (1981), 583-584.
[24] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 3: sđd, 794-796.
[25] X. Thông Điệp Populorum Progressio, 3: sđd, 258.
[26] X. như trên, 34: sđd, 274.
[27] X. số 8-9: AAS 60 (1968), 485-487; Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho các tham dự viên tại Hội Nghị Quốc tế do Đại học Giáo hoàng Lateran nhân dịp bốn mươi năm Thông điệp "Humanae Vitae"của Đức Phaolô VI, 10 tháng 5 năm 2008.
[28] X. Thông Điệp Evangelium Vitae (25 tháng 3 năm 1995), 93: AAS 87 (1995), 507-508.
[29] Như trên, 101: sđd, 516-518.
[30] Số 29: AAS 68 (1976), 25.
[31] Như trên, 31: sđd, 26.
[32] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 41: sđd, 570-572.
[33] X. như trên; Id., Thông Điệp Centesimus Annus, 5, 54: sđd, 799, 859-860.
[34] Số 15: sđd, 265.
[35] X. như trên, 2: sđd, 258; Leo XIII, Thông Điệp Rerum Novarum (15 May 1891): Leonis XIII P.M. Acta, XI, Romae 1892, 97-144; Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 8: sđd, 519-520; Id., Thông Điệp Centesimus Annus, 5: sđd, 799.
[36] X. Thông Điệp Populorum Progressio, 2, 13: sđd, 258, 263-264.
[37] Như trên, 42: sđd, 278.
[38] Như trên, 11: sđd, 262; x. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 25: sđd, 822-824.
[39] Thông Điệp Populorum Progressio, 15: sđd, 265.
[40] Như trên, 3: sđd, 258.
[41] Như trên, 6: sđd, 260.
[42] Như trên, 14: sđd, 264.
[43] Như trên; x. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 53-62: sđd, 859-867; Id., Thông Điệp Redemptor Hominis (4 tháng 3 năm 1979), 13-14: AAS 71 (1979), 282-286.
[44] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 12: sđd, 262-263.
[45] Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 22.
[46] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 13: sđd, 263-264.
[47] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho các Tham dự viên Hội nghị Toàn Quốc Lần thứ Bốn của Hội Thánh tại Ý, Verona, 19 tháng 10 năm 2006.
[48] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 16: sđd, 265.
[49] Như trên
[50] Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho những người trẻ tại Barangaroo, Sydney, 17 tháng 7 năm 2008.
[51] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 20: sđd, 267.
[52] Như trên, 66: sđd, 289-290.
[53] Như trên, 21: sđd, 267-268.
[54] X. số 3, 29, 32: sđd, 258, 272, 273.
[55] X. Thông Điệp, Sollicitudo Rei Socialis, 28: sđd, 548-550.
[56] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 9: sđd, 261-262.
[57] X. Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 20: sđd, 536-537.
[58] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 22-29: sđd, 819-830.
[59] X. nos. 23, 33: sđd, 268-269, 273-274.
[60] X. sđd, 135.
[61] Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 63.
[62] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 24: sđd, 821-822.
[63] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Veritatis Splendor (6 tháng 8 năm 1993), 33, 46, 51: AAS 85 (1993), 1160, 1169-1171, 1174-1175; Id., Diễn văn tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, 5 tháng 10 năm 1995, 3.
[64] X. Thông Điệp Populorum Progressio, 47: sđd, 280-281; Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 42: sđd, 572-574.
[65] X. Đức Bênêđíctô XVI, Sứ điệp Ngày Lương thực Thế giới 2007: AAS 99 (2007), 933-935.
[66] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Evangelium Vitae, 18, 59, 63-64: sđd, 419-421, 467-468, 472-475.
[67] X. Đức Bênêđíctô XVI, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2007, 5.
[68] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2002, 4-7, 12-15: AAS 94 (2002), 134-136, 138-140; Id., Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2004 Như trên, 8: AAS 96 (2004), 119; Id., Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2005 Như trên, 4: AAS 97 (2005), 177-178; Đức Bênêđíctô XVI, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2006 Như trên, 9-10: AAS 98 (2006), 60-61; Id., Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2007 Như trên, 5, 14: sđd, 778, 782-783.
[69] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2002 Như trên, 6: sđd, 135; Đức Bênêđíctô XVI, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2006 Như trên, 9-10: sđd, 60-61.
[70] X. Đức Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Thánh lễ, Islinger Feld, Regensburg, 12 September 2006.
[71] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est, 1: sđd, 217-218.
[72] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 28: sđd, 548-550.
[73] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 19: sđd, 266-267.
[74] Như trên, 39: sđd, 276-277.
[75] Như trên, 75: sđd, 293-294.
[76] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est, 28: sđd, 238-240.
[77] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 59: sđd, 864.
[78] X. Thông Điệp Populorum Progressio, 40, 85: sđd, 277, 298-299.
[79] Như trên, 13: sđd, 263-264.
[80] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Fides et Ratio (14 tháng 11 năm 1998), 85: AAS 91 (1999), 72-73.
[81] X. như trên, 83: sđd, 70-71.
[82] Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ tại Đại học Regensburg, 12 tháng 9 năm 2006.
[83] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 33: sđd, 273-274.
[84] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2000 Như trên, 15: AAS 92 (2000), 366.
[85] Giáo lý Hit Công giáo, 407; x. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 25: sđd, 822-824.
[86] X. số 17: AAS 99 (2007), 1000.
[87] X. như trên, 23: sđd, 1004-1005.
[88] Thánh Augustinô khai triển giáo huấn này một cách chi tiết trong đối thoại về ý chí tự do (De libero arbitrio, II, 3, 8ff.). Ngài nói về sự hiện hữu của "ý nghĩa nội tại" trong linh hồn con người. Ý nghĩa này ở trong hành vi được thực hiện bên ngoài các chức năng bình thường của lý trí, một hành vi không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng hầu như do bản năng, qua đó lý trí, nhận ra bản tình chóng qua và yếu đuối, chấp nhận sự hiện hữu của một cái gì đó bên ngoài, cao hơn bản thân nó, một cái gì tuyệt đối đúng và chắc chắn. Tên mà Thánh Augustinô gọi chân lý nội tại này đôi khi là Thiên Chúa (Confessions X, 24, 35; XII, 25, 35; De libero arbitrio II, 3, 8), nhiều hơn là Đức Kitô (De magistro 11:38; Confessions VII, 18, 24; XI, 2, 4).
[89] Đức Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est, 3: sđd, 219.
[90] X. số 49: sđd, 281.
[91] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 28: sđd, 827-828.
[92] X. số 35: sđd, 836-838.
[93] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 38: sđd, 565-566.
[94] Số 44: sđd, 279.
[95] X. như trên, 24: sđd, 269.
[96] X. Thông Điệp Centesimus Annus, 36: sđd, 838-840.
[97] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 24: sđd, 269.
[98] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 32: sđd, 832-833; Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 25: sđd, 269-270.
[99] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Laborem Exercens, 24: sđd, 637-638.
[100] Như trên, 15: sđd, 616-618.
[101] Thông Điệp Populorum Progressio, 27: sđd, 271.
[102] X. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị về Tự do và Giải phóng Kitô giáo Libertatis Conscientia (22 March 1987), 74: AAS 79 (1987), 587.
[103] X. Đức Gioan Phaolô II, Phỏng vấn phát hành trên nhật báo Công giáo La Croix, 20 tháng 8 năm 1997.
[104] Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ tại Giáo hoàng Học viện các Khoa học Xã hội, 27 tháng 4 năm 2001.
[105] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 17: sđd, 265-266.
[106] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2003, 5: AAS 95 (2003), 343.
[107] X. như trên
[108] X. Đức Bênêđíctô XVI, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2007, 13: sđd, 781-782.
[109] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 65: sđd, 289.
[110] X. như trên, 36-37: sđd, 275-276.
[111] X. như trên, 37: sđd, 275-276.
[112] X. Công Đồng Chung Vatican II, Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân Apostolicam Actuositatem, 11.
[113] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 14: sđd, 264; Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 32: sđd, 832-833.
[114] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 77: sđd, 295.
[115] Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 1990 Như trên, 6: AAS 82 (1990), 150.
[116] Heraclitus of Ephesus (Ephesus, c. 535 B.C. - c. 475 B.C.), Fragment 22B124, in H. Diels and W. Kranz, Die Fragmente der Vorsokratiker, Weidmann, Berlin, 1952, 6(th) ed.
[117] Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh, 451-487.
[118] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 1990 Như trên, 10: sđd, 152-153.
[119] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 65: sđd, 289.
[120] Đức Bênêđíctô XVI, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2008 Như trên, 7: AAS 100 (2008), 41.
[121] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, New York, 18 tháng 4 năm 2008.
[122] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 1990 Như trên, 13: sđd, 154-155.
[123] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 36: sđd, 838-840.
[124] Như trên, 38: sđd, 840-841; Đức Bênêđíctô XVI, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2007, 8: sđd, 779.
[125] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 41: sđd, 843-845.
[126] X. như trên
[127] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Evangelium Vitae, 20: sđd, 422-424.
[128] Thông Điệp Populorum Progressio, 85: sđd, 298-299.
[129] X. Đức Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 1998 Như trên, 3: AAS 90 (1998), 150; Diễn từ cho các Thành viên Vatican Foundation "Centesimus Annus - Pro Pontifice", 9 tháng 5 năm 1998, 2; Diễn từ cho Chính Quyền Dân sự và Ngoại giao đoàn của Áo, 20 tháng 6 năm 1998, 8; Sứ điệp gửi Đại học Công giáo Thánh Tâm, 5 tháng 5 năm 2000, 6.
[130] Theo Thánh Thomas "ratio partis contrariatur rationi personae", In III Sent., d. 5, q. 3, a. 2; và "Homo non ordinatur ad communitatem politicam secundum se totum et secundum omnia sua", Summa Theologiae I-II, q. 21, a. 4, ad 3.
[131] X. Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Hội Thánh Lumen Gentium, 1.
[132] X. Đức Gioan Phaolô II, Diễn từ tại Khóa Họp thứ Sáu của các Giáo hoàng Học viện Thần học và Thánh Thomas Aquinas, 8 tháng 11 năm 2001, 3.
[133] X. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên Ngôn về Tính Duy nhất và Phổ quát Cứu độ của Chúa Giêsu Kitô và Hội Thánh Dominus Iesus (6 tháng 8 năm 2000), 22: AAS 92 (2000), 763-764; Id., Ghi chú Tín lý về một số vấn đề liên quan đến việc tham gia của người Công giáo vào đời sống chính trị (24 tháng 11 năm 2002), 8: AAS 96 (2004), 369-370.
[134] Đức Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Spe Salvi, 31: sđd, 1010; Diễn từ cho các Tham dự viên Hội nghị Toàn quốc lần thứ Tư Hội Thánh Ý, Verona, 19 tháng 10 năm 2006.
[135] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 5: sđd, 798-800; Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho các Tham dự viên Hội nghị Toàn quốc lần thứ Tư Hội Thánh Ý, Verona, 19 tháng 10 năm 2006.
[136] Số 12.
[137] X. Pius XI, Thông Điệp Quadragesimo Anno (15 May 1931): AAS 23 (1931), 203; Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 48: sđd, 852-854; Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1883.
[138] X. Đức Gioan XXIII, Thông Điệp Pacem in Terris, sđd, 274.
[139] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 10, 41: sđd, 262, 277-278.
[140] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho các Thành viên Ủy ban Thần học Quốc tế, 5 tháng 10 năm 2007; Diễn từ cho các Tham dự viên Hội nghị Quốc tế về Luật Luân lý Tự nhiên, 12 tháng 2 năm 2007.
[141] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho các Giám mục Thái Lan trong Chuyến Thăm"Ad Limina", 16 tháng 5 năm 2008.
[142] X. Hội đồng Giáo hoàng về Chăm sóc Mục vụ Những Người Di dân và Dân Du mục, Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi (3 tháng 5 năm 2004): AAS 96 (2004), 762-822.
[143] Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Laborem Exercens, 8: sđd, 594-598.
[144] Năm Thánh Công nhân, Lời Chào mừng sau Thánh Lễ, 1 tháng 5 năm 2000.
[145] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus, 36: sđd, 838-840.
[146] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho các Thành viên Đại Hội Đồng Liên Hiệp, New York, 18 tháng 4 năm 2008.
[147] X. Đức Gioan XXIII, Thông Điệp Pacem in Terris, sđd, 293; Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh, 441.
[148] X. Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay, Gaudium et Spes, 82.
[149] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, 43: sđd, 574-575.
[150] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 41: sđd, 277-278; x. Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 57.
[151] X. Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Laborem Exercens, 5: sđd, 586-589.
[152] X. Đức Phaolô VI, Tông Thư Octogesima Adveniens, 29: sđd, 420.
[153] X. Đức Bênêđíctô XVI, Diễn từ cho các Tham dự viên Hội nghị Toàn quốc lần thứ Tư Hội Thánh Ý, Verona, 19 tháng 10 năm 2006; Id., Bài Giảng Thánh lễ, Islinger Feld, Regensburg, 12 tháng 9 năm 2006.
[154] X. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị về một số vấn đề đạo đức sinh học Dignitas Personae (8 tháng 8 năm 2008): AAS 100 (2008), 858-887.
[155] X. Thông Điệp Populorum Progressio, 3: sđd, 258.
[156] Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium et Spes, 14.
[157] X. Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 42: sđd, 278.
[158] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Spe Salvi, 35: sđd, 1013-1014.
[159] Đức Phaolô VI, Thông Điệp Populorum Progressio, 42: sđd, 278.